Một số kinh nghiệm và giải pháp dạy học phân ban và dạy học tự chọn của trường thpt buôn ma thuột

  • Số trang: 30 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

“Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” MỤC LỤC Trang PHẦN I: MỞ ĐẦU…………………………………………………… 03 I.1. Lý do chọn đề tài.............................................................................. 03 I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài…………………………………………. 04 I.3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………. . 05 I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ................................................................. 05 I.5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 05 PHẦN II: NỘI DUNG ............................................................................... 06 II.1. Cơ sở lý luận ...................................................................................... … 06 II.1.1. Vì sao phải tổ chức dạy học phân hóa, đổi mới chương trình sách giáo khoa theo hướng phân ban ở Trường THPT hiện nay?........ …...06 II.1.2. Khái quát về dạy học phân ban, dạy học tự chọn…………………..08 II.2. Thực trạng: ......................................................................................... … . 12 II.2.1- Những bất cập về thời điểm đăng ký ban học............................ ….. 12 II.2.2- Bất cập qua số liệu đăng ký chọn ban trong các năm tuyển sinh vào Trường ........................................................................................... ….. 13 II.2.3- Thống kê học sinh trúng tuyển theo tỉ lệ của từng ban………. …..15 II.2.4- Tương quan tỉ lệ học sinh theo học của từng ban và đăng ký học các chủ đề tự chọn khi thi đỗ vào Trường THPT Buôn Ma Thuột……. ….15 II.2.5- Đánh giá kết quả học tập của học sinh không còn nhân hệ số 2 các môn Nâng cao của Ban………………………………………………. 17 II.3. Biện pháp, giải pháp và cách thức thực hiện:………………………. . 17 II.3.1. Giải pháp 1: Thay đổi thời điểm đăng ký ban học ........................... …. .17 II.3.2. Giải pháp 2: Thay đổi cách thức tư vấn việc chọn ban và môn học tự chọn ......................................................................................................... ……18 II.3.3. Giải pháp 3: Theo dõi, định hướng và tư vấn kịp thời việc đổi ban và môn học tự chọn của học sinh sau một năm học. .................................... ……19 II.3.4. Giải pháp 4: Tổ chức tốt các hoạt động giáo dục, nhất là hoạt động giáo dục hướng nghiệp, sớm định hướng nghề nghiệp cho học sinh, đây là công việc quan trọng gắn liền với việc chọn ban học, môn học tự chọn, chủ đề tự chọn ..................................................................................................... ……20 II.3.5. Giải pháp 5: Xây dựng đội ngũ giáo viên giỏi nghiệp vụ, yêu nghề, Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 1 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” hết lòng, hết sức vì học sinh thân yêu ......................................................... ……23 II.3.6. Giải pháp 6: Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phòng học bộ môn, trang thiết bị thí nghiệm, gắn “học” với “hành” .......................................... ……24 II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu: .......................................................................................... … 24 II.4.1. Thống kê tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT của Trường ................. …. 24 II.4.2. Thống kê tỉ lệ học sinh đỗ vào các Trường ĐH và điểm bình quân 3 môn thi, vị thứ của Trường trong tốp 200 Trường THPT có điểm thi ĐH cao.………25 II.4.3. Nhận xét bước đầu……………………………………………………......28 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ................................................... … III.1. Kết luận ............................................................................................... … III.2. Đề xuất ................................................................................................ … 29 29 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………...... 30 Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 2 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” PHẦN I: MỞ ĐẦU I.1. Lý do chọn đề tài: Bắt đầu từ năm học 2006-2007, tất cả các trường Trung học phổ thông trên cả nước bắt đầu thực hiện dạy học theo chương trình, sách giáo khoa mới. Đây là sự tiếp nối quá trình đổi mới Chương trình giáo dục đã đựợc thực hiện liên tiếp một số năm qua ở cấp Tiểu học và cấp Trung học cơ sở theo những định hướng cơ bản được nêu trong Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc Hội. Trong bối cảnh hiện nay, đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp và hội nhập quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, sản phẩn đào tạo – tức người lao động cần phải có trình độ, năng lực quản lí, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, có khả năng giao tiếp, năng lực chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu của thị trường lao động; có tư duy phê phán, có khả năng thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống... Chương trình giáo dục, bắt đầu từ giáo dục phổ thông cần có những điều chỉnh để đạt được mục đích đào tạo những người lao động như vậy [3]. Mặt khác, ở cấp Trung học phổ thông, khả năng, nhu cầu học tập của học sinh rất đa dạng, điều kiện tổ chức dạy học của các trường cũng khác nhau, do đó việc tổ chức dạy học phân ban ở các trường Trung học phổ thông là cần thiết nhằm phát triển năng lực và đáp ứng yêu cầu hướng nghiệp cho học sinh. "Phân ban" được thực hiện trong quá trình dạy học ở cấp THPT. Khi thực hiện phân ban, những học sinh có năng lực, sở thích, nhu cầu, điều kiện học tập tương đối giống nhau được tổ chức thành nhóm học theo cùng một chương trình, mỗi nhóm học sinh như vậy gọi là một Ban. Tuỳ theo số lượng học sinh mà mỗi ban có thể chia thành một số lớp... [3]. "Dạy học tự chọn" được thực hiện trong quá trình dạy học ở các cấp học. Nếu Phân ban hướng đến các nhóm học sinh với khả năng, sở thích, nhu cầu, điều kiện học tập tương đối giống nhau thì Dạy học tự chọn hướng đến từng cá nhân học sinh. Dạy học tự chọn cho phép mỗi học sinh, ngoài việc học theo một chương trình chung còn có thể học một chương trình với các môn học khác nhau, hoặc có thể học các chủ đề khác nhau trong một môn học [1]. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam thống nhất một nhà, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương về dạy học phân ban, dạy học phân Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 3 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” hóa ở cấp THPT như: Nghị quyết 14 của Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khoá IV-1979) về cải cách giáo dục chỉ rõ : "Nội dung giáo dục ở trường phổ thông trung học cũng mang tính chất toàn diện và kĩ thuật tổng hợp, nhưng có chú ý đến việc phát huy sở trường và năng khiếu cá nhân... sẽ thực hiện việc phân ban một cách hợp lí trên cơ sở giáo dục toàn diện". Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII lần thứ 4 (1993); Nghị định 90/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ; Nghị quyết 02-NQ/HNTW Khoá VIII về giáo dục đào tạo của Bộ Chính trị (1998); Nghị quyết 37/2004/QH11 của Quốc hội về giáo dục; Luật Giáo dục... cũng đã chỉ ra những chủ trương về dạy học phân ban, dạy học phân hóa ở cấp THPT. Từ các chủ trương trên và cũng nằm trong lộ trình chung đó, các Trường THPT trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk nói chung và Trường THPT Buôn Ma Thuột nói riêng cũng thực hiện chương trình, sách giáo khoa phân ban từ năm học 20062007. Tuy nhiên khi bắt tay vào thực hiện dạy học phân ban, dạy học phân hóa, từ những hứng thú, háo hức, đợi chờ, bỡ ngỡ ban đầu do sách mới, chương trình mới; Việc tổ chức dạy học phân ban, dạy học phân hóa bộc lộ nhiều bất cập, tỉ lệ học sinh giữa các ban không như định hướng ban đầu...thậm chí có ban như Khoa học xã hội và Nhân văn gần như “teo tốp” dần theo năm tháng... Xuất phát từ thực tế tổ chức dạy và học phân ban, phân hóa, với những kinh nghiệm thực tế tại Trường THPT Buôn Ma Thuột, chúng tôi đã giúp học sinh định hướng đúng ban học, phát huy năng lực, sở thích, nguyện vọng khi chọn chủ đề tự chọn, môn học tự chọn, quan trọng nhất là đạt kết quả cao sau 3 năm “đèn sách” ở bậc trung học, đỗ vào trường Đại học đạt điểm cao theo đúng khối thi, đúng ngành, chuyên ngành mình yêu thích. Vì những lý do đó, chúng tôi xin được phép mạnh dạn trao đổi với đồng nghiệp về “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột”. Rất mong sự góp ý, chia sẻ của đồng nghiệp trong và ngoài trường, xin trân trọng cảm ơn! I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Từ những khó khăn, thực trạng việc tổ chức dạy học phân ban hiện nay, chúng tôi nêu ra được một số kinh nghiệm, các biện pháp, giải pháp tổ chức dạy học phân ban, dạy học phân hóa bằng các chủ đề tự chọn, môn học tự chọn, phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THPT… Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 4 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” I.3. Đối tượng nghiên cứu Phương pháp tổ chức dạy học phân ban, dạy học phân hóa bằng chủ đề tự chọn, môn học tự chọn Thời điểm hướng dẫn, cách thức tư vấn việc chọn ban, chọn môn học tự chọn kết hợp định hướng nghề nghiệp cho học sinh. I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu - Đã nghiên cứu thử nghiệm và áp dụng cho học sinh ở trường THPT Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk. I.5. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài - Điều tra hiệu quả của biện pháp qua kết quả các kỳ thi: Tốt nghiệp THPT, tuyển sinh Đại học, Cao đẳng của học sinh Trường THPT Buôn Ma Thuột. - Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn, quan sát. - Phân tích, thống kê kết quả bằng thống kê toán học. Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 5 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” PHẦN II: NỘI DUNG II.1. Cơ sở lý luận II.1.1. Vì sao phải tổ chức dạy học phân hóa, đổi mới chương trình sách giáo khoa theo hướng phân ban ở Trường THPT hiện nay? II.1.1.1. Vì sao phải tổ chức dạy học phân hóa ở cấp THPT? - THPT là bậc học cuối cùng trong chương trình phổ thông, sau năm học lớp 12, các em có nhiều “ngả rẽ”: hoặc là có thể tiếp tục học lên bậc Đại học với nhiều ngành, chuyên ngành đòi hỏi năng lực, năng khiếu khác nhau, hoặc học Trung cấp chuyên nghiệp hoặc đi vào lao động sản xuất, kinh doanh…Quá trình dạy học trong nhà trường hướng tới các đối tượng học sinh rất đa dạng, với những khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng và các điều kiện học tập. Dạy học theo một chương trình giống nhau với cách thức tổ chức dạy học giống nhau cho tất cả mọi đối tượng học sinh là không phù hợp với yêu cầu phát triển từng người học, nhất là bậc THPT. Dạy học phân hoá là một quan điểm dạy học, đòi hỏi phải tiến hành các hoạt động dạy học dựa vào những khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng, các điều kiện học tập...nhằm phát triển tốt nhất cho từng người học, đảm bảo công bằng trong giáo dục. Dạy học phân hoá ở cấp vĩ mô được thể hiện thông qua cách tổ chức các loại trường, lớp khác nhau cho các đối tượng học sinh khác nhau; xây dựng các chương trình giáo dục khác nhau. Dạy học phân hoá ở cấp vi mô được thể hiện thông qua việc tìm hiểu và thực hiện các phương pháp, kĩ thuật dạy học khác nhau sao cho mỗi học sinh hoặc mỗi nhóm học sinh thu được các kết quả học tập tốt nhất [3]. Ở nước ta cần phải thực hiện dạy học phân hoá vì những lí do chủ yếu sau: Dạy học phân hoá góp phần đáp ứng yêu cầu đào tạo và phân công lao động xã hội để mỗi thành viên đóng góp hiệu quả nhất trong công việc trên cơ sở đã được chuẩn bị tốt theo định hướng từ nhà trường. Đây thực chất là đáp ứng yêu cầu phân luồng lao động của xã hội mà nhà trường phải thực hiện [3]. Dạy học phân hoá phù hợp với quy luật phát triển nhận thức và hình thành các đặc điểm tâm lí của học sinh. Ngay từ những lớp cuối của cấp Trung học cơ sở, học sinh đã bộc lộ rõ thiên hướng, sở trường và hứng thú đối với những lĩnh vực kiến thức, kĩ năng nhất định.[1] Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 6 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Dạy học phân hoá ở trung học phổ thông là cần thiết và phù hợp với xu thế chung của thế giới. Hiện nay hầu như không còn nước nào dạy học theo một chương trình và kế hoạch duy nhất cho mọi học sinh THPT.[7] II.1.1.2. Vì sao đổi mới chương trình sách giáo khoa theo hướng phân ban? Đảng và Nhà nước đã có chủ trương thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nói chung và chương trình giáo dục Trung học phổ thông nói riêng vì những lí do sau : - Đất nước ta đang từng bước hội nhập quốc tế, mục tiêu đến năm 2020 sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp. Để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, người lao động cần phải có năng lực quản lí, trình độ chuyên môn, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, có khả năng giao tiếp, năng lực chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của sản xuất và thị trường lao động, tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu; có khả năng thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống… - Sự phát triển mau chóng của khoa học công nghệ đòi hỏi chương trình, sách giáo khoa phải luôn được xem xét, điều chỉnh. Học vấn mà nhà trường phổ thông trang bị cho học sinh không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn. Vì vậy trong dạy học phải coi trọng dạy phương pháp học, dạy cách tự xây dựng kiến thức cho người học. - Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, học sinh được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú về nhiều mặt của cuộc sống. Trong học tập, học sinh không thoả mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, không chỉ chấp nhận các giải pháp đã có sẵn được đưa ra. Học sinh ở lứa tuổi này nảy sinh một yêu cầu, đó là: sự lĩnh hội độc lập các tri thức. Chương trình và sách giáo khoa cần được đổi mới để góp phần đáp ứng yêu cầu đó của người học [2]. Chương trình và cách thực hiện chương trình như trên đã làm thay đổi quan niệm về cách sử dụng sách giáo khoa. Sách giáo khoa trở thành tài liệu định hướng và hỗ trợ cho quá trình tự học, tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức mới và thực hành theo năng lực của người học. Các thông tin trong sách giáo khoa qua kênh hình và kênh chữ thường đa dạng, phong phú, đòi hỏi người học phải có tư duy linh hoạt, có đầu óc phê phán mới phát hiện và giải quyết được vấn đề. Bởi vậy cần phải đổi mới chương trình, sách giáo khoa ở tất cả các cấp bậc học phổ Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 7 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” thông ở nước ta, trong đó có THPT, để có thể phù hợp với xu thế chung của thế giới. II.1.2. Khái quát về dạy học phân ban, dạy học tự chọn II.1.2.1. Dạy học phân ban Hình thức này ra đời từ khoảng thế kỉ XVIII ở nhiều nước châu Âu. Hình thức phân ban ngày càng được hoàn thiện và được áp dụng rộng rãi ở các nước châu Âu và các nước thuộc địa chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp. "Phân ban" được thực hiện trong quá trình dạy học ở cấp THPT. Khi tổ chức dạy học phân ban, những học sinh có năng lực, năng khiếu, sở thích, nhu cầu, định hướng nghề nghiệp giống nhau... được tổ chức thành nhóm học theo cùng một chương trình, mỗi nhóm học sinh như vậy gọi là một Ban. Chẳng hạn, những học sinh có khả năng, nhu cầu, sở thích về lĩnh vực Toán, Vật Lý, Hóa học, Sinh học có thể học ở Ban Khoa học tự nhiên; những học sinh có khả năng, nhu cầu, sở thích về: Ngữ Văn, Lịch Sử, Địa Lý, Ngoại ngữ có thể tham gia học Ban Khoa học xã hội và Nhân văn... [3]. Đặc điểm của hình thức này là mỗi trường tổ chức dạy học theo một số ban đã được quy định, học sinh được phân chia vào học các ban tuỳ theo năng lực, hứng thú và nhu cầu của các em. Chương trình học tập của mỗi ban gồm các môn học nhất định khác nhau giữa các ban. Hình thức phân ban có ưu điểm là thuận lợi về mặt quản lí dạy học. Tuy nhiên nó có nhược điểm là khó đáp ứng được sự phân ban đa dạng của học sinh. Do vậy hiện nay chỉ còn một số ít nước thực hiện hình thức này ví dụ: Ghinê, Angiêri, Mali, Campuchia… II.1.2.2. Dạy học tự chọn Hình thức phân hoá bằng dạy học tự chọn ra đời vào khoảng thế kỉ XIX, dạy học tự chọn ngày càng được phát triển, đặc biệt ở Mỹ. "Dạy học tự chọn" được thực hiện trong quá trình dạy học ở các cấp học, Dạy học tự chọn thường hướng đến từng cá nhân học sinh. Dạy học tự chọn cho phép mỗi học sinh, ngoài việc học theo một chương trình chung còn có thể học một chương trình với các môn học khác nhau, hoặc có thể học các chủ đề khác nhau trong một môn học. Đặc điểm của hình thức này là mọi học sinh phải học một số môn học cốt lõi hay còn gọi là môn học bắt buộc. Ngoài các môn học bắt buộc này học sinh có thể Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 8 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” chọn học một số môn học khác theo năng lực, nguyện vọng, nhu cầu của cá nhân, định hướng nghề nghiệp trong tương lai [8]. Ưu điểm nổi bật của dạy học tự chọn là đáp ứng được yêu cầu phân hoá cao của học sinh. Tuy nhiên nó đòi hỏi cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và năng lực quản lí cao. Hình thức dạy học tự chọn là xu hướng mà hiện nay nhiều nước trên thế giới hướng tới. II.1.2.3. Phân ban kết hợp với dạy học tự chọn Đặc điểm của hình thức này là học sinh vừa được phân chia theo học các ban khác nhau, đồng thời học sinh được chọn một số môn học, chủ đề tự chọn ngoài phần nội dung học tập bắt buộc chung cho mỗi ban. Hình thức này kết hợp được ưu điểm của cả hai hình thức phân ban và dạy học tự chọn, nó được nhiều nước trên thế giới áp dụng, ví dụ Pháp, Nga, Singapo, Tây Ban Nha… Đây cũng chính là hình thức dạy học phân hoá mà Bộ Giáo dục- Đào tạo nước ta đang triển khai thực hiện ở các trường THPT hiện nay [1], [3]. II.1.3. Sơ lược lịch sử tổ chức dạy học phân ban ở nước ta Theo nhiều tài liệu của các chuyên gia giáo dục, phân ban là một mô hình tổ chức dạy học có tính lịch sử của nước ta. Đó là mô hình được áp dụng từ thời Pháp thuộc và vẫn được duy trì ở miền Nam cho đến năm 1975. Ở miền Bắc, cuộc cải cách giáo dục lần 1 năm 1950 đã xác lập hệ thống giáo dục phổ thông gồm 9 năm thay thế hệ thống cũ; năm 1956 lại cải cách một lần nữa để hợp nhất hai hệ thống giáo dục ở vùng tạm chiếm và vùng tự do thành một hệ thống gồm 10 năm. Sau năm 1975, miền Nam vẫn duy trì hệ thống giáo dục hệ 12 năm nhưng bỏ phân ban. Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, chủ trương phân ban lần đầu tiên được đề cập vào năm 1979. Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị BCH T.Ư khóa IV ban hành năm 1979 về cải cách giáo dục nêu “… sẽ thực hiện phân ban một cách hợp lý trên cơ sở giáo dục toàn diện”. Sơ lược lịch sử thí điểm chương trình phân ban sau ngày giải phóng ở nước ta: Lần 1: Tiến hành thí điểm chỉ với một khóa học sinh duy nhất (1989-1992) tại hai trường là THPT Hoàn Kiếm và THPT Lê Hồng Phong. Mô hình hẹp gồm 5 ban và phân ban sớm từ lớp 10. Lần 2: Thí điểm 5 khóa liên tục, tuyển sinh từ năm học 1993-1994 đến năm học 1997-1998, mô hình rộng gồm 3 ban và phân ban sớm từ lớp 10. Bắt đầu thí Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 9 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” điểm tại 14 trường THPT thuộc 7 tỉnh/thành, về sau mở rộng 214 trường THPT tại 53 tỉnh/thành. Dự kiến năm học 2000-2001 sẽ triển khai đại trà. Nhưng năm 1998, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu ngừng tuyển sinh thí điểm phân ban, Bộ GD-ĐT thành lập ban nghiên cứu để khẩn trương xây dựng lại chương trình phân ban THPT. Lần 3: Thí điểm từ năm học 2003-2004, tại 50 trường THPT của 11 tỉnh/thành, mô hình rộng gồm 2 ban: KHTN và KHXH-NV, phân ban sớm từ lớp 10. Dự kiến thí điểm một năm rồi triển khai đại trà luôn từ năm học 2004-2005. Trên thực tế, hai năm sau, từ năm học 2006-2007 Bộ GD-ĐT mới triển khai được đại trà sau khi đã nhiều lần điều chỉnh phương án phân ban. Lần điều chỉnh cuối cùng là thêm Ban Cơ bản. II.1.4. Môn học, Ban học, các loại chương trình, các loại chủ đề tự chọn trong dạy học phân ban cấp THPT từ năm học 2006-2007: II.1.4.1- Môn học và các hoạt động giáo dục Cấp THPT có 13 môn học, đó là các môn : Ngữ văn, Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, Công nghệ, Thể dục, Ngoại ngữ, Tin học, Giáo dục công dân, Giáo dục quốc phòng và an ninh. Có 4 hoạt động giáo dục: Hoạt động giáo dục tập thể; Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; Hoạt động giáo dục hướng nghiệp; Hoạt động giáo dục nghề phổ thông. II.1.4.2- Ban học: Theo Bộ Giáo dục- Đào tạo, mô hình phân ban cấp THPT hiện nay là mô hình rộng, gồm 3 ban : - Ban Khoa học tự nhiên: Ban này phù hợp với những học sinh có năng lực, hứng thú, nguyện vọng học sâu hoặc lựa chọn các nghề nghiệp đòi hỏi kiến thức về lĩnh vực Toán và khoa học tự nhiên. Học sinh ban KHTN học theo chương trình Nâng cao của 4 môn : Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học và chương trình Chuẩn của các môn còn lại. Thời lượng dạy học tự chọn dành để học các chủ đề tự chọn bám sát thuộc một số môn học. Ban này rất phù hợp cho những học sinh định hướng thi Đại học khối A (Toán, Lý, Hóa), Khối B (Toán, Hóa, Sinh học). - Ban Khoa học xã hội và Nhân văn: Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 10 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Ban này phù hợp với những học sinh có năng lực, hứng thú, nguyện vọng học sâu hoặc lựa chọn các nghề nghiệp đòi hỏi kiến thức về lĩnh vực KHXH-NV. Học sinh ban KHXH-NV học theo chương trình Nâng cao của 4 môn: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ và chương trình Chuẩn của các môn còn lại. Thời lượng dạy học tự chọn dành để học một số chủ đề tự chọn bám sát thuộc một số môn học. - Ban Cơ bản: Thực hiện phân hoá linh hoạt bằng dạy học tự chọn ở các mức độ nâng cao khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu của các bộ phận học sinh học lên đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, học nghề, đi vào lao động sản xuất. Học sinh học ban Cơ bản sử dụng thời lượng dạy học tự chọn (4 tiết/tuần) để học theo chương trình và sách giáo khoa nâng cao của một số môn có nội dung Nâng cao (Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ) và học chủ đề tự chọn thuộc một số môn học. Học sinh có thể chọn học từ 1 đến 3 môn như vậy, đồng thời các em có thể sử dụng thời lượng dạy học tự chọn này để học một số chủ đề tự chọn. Những môn còn lại học sinh sẽ học SGK biên soạn theo chương trình Chuẩn. Tuỳ theo nguyện vọng của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ của nhà trường, Lãnh đạo trường THPT sẽ trình phương án phân ban cho Giám đốc Sở GD-ĐT quyết định tổ chức dạy học mấy ban và là những ban nào. II.1.4.3- Chương trình: Luật Giáo dục 2005, tại Điều 29 quy định: "Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông ; quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông". [3] Trong Chương trình giáo dục phổ thông của nước ta, chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ là những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ mà mỗi học sinh đều cần phải và có thể đạt được. Nói cách khác, chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ là cơ sở học vấn phổ thông của giáo dục nước ta.[2] Một chương trình với những quy định cụ thể về nội dung giáo dục nhằm đạt được các chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ như vậy được gọi là Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 11 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” "Chương trình Chuẩn". Chương trình Chuẩn có thể được hiểu là chương trình nhằm đảm bảo giáo dục mang tính phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho tất cả học sinh trong cả nước. Ở cấp THPT, ngoài chương trình Chuẩn, để thực hiện dạy học phân hoá, một số môn học còn có nội dung nâng cao: Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ. Chương trình của các môn học với nội dung nâng cao này gọi là "Chương trình Nâng cao". II.1.4.4- Các loại Chủ đề tự chọn Theo Bộ Giáo dục- Đào tạo ở Trường THPT có hai loại chủ đề tự chọn: - Chủ đề tự chọn bám sát: Chủ đề tự chọn bám sát theo chương trình Nâng cao dành cho những môn học nâng cao và Chủ đề tự chọn bám sát theo chương trình Chuẩn dành cho những môn học theo chương trình Chuẩn. Các chủ đề này nhằm củng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức, kĩ năng của các môn học, không cung cấp kiến thức mới cho học sinh. - Chủ đề tự chọn Nâng cao: thường dành cho Ban Cơ bản, dành cho các môn học có nội dung theo chương trình Chuẩn, cần nâng cao thêm : Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ. Các chủ đề nâng cao này đề cập đến các nội dung nâng cao, nhằm bổ sung và phát triển chương trình Chuẩn đạt mức tương đương chương trình Nâng cao. II.2. Thực trạng: II.2.1- Những bất cập về thời điểm đăng ký ban học Theo quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo và Sở Giáo dục - Đào tạo Đăk Lăk, trong Quy chế và kế hoạch thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT hàng năm, vào thời điểm làm hồ sơ dự thi tuyển sinh vào lớp 10 cũng là thời điểm học sinh phải đăng ký chọn ban học và môn học tự chọn. Hàng năm số lượng học sinh đăng ký dự thi lớp 10 vào trường THPT Buôn Ma Thuột dao động từ 3000 đến 4500 học sinh (kể cả nguyện vọng 1 từ Trường THPT Chuyên Nguyễn Du chuyển về), số lượng thí sinh dự thi nhiều, thời gian lại quá gấp, chỉ có 1 tuần nhận hồ sơ và nhập liệu, nên Hội đồng tuyển sinh của Trường không thể hướng dẫn, giải thích về ban học, môn học tự chọn, chủ đề tự chọn, các đặc điểm, đặc thù, yêu cầu của từng Ban học. Kênh thông tin chủ yếu mà Hội đồng tuyển sinh của Trường dùng để phổ biến đến học sinh, phụ huynh học sinh là “Bảng tin”. Tại bảng tin được nhà trường niêm yết công khai các thông tin Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 12 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” về kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, về ban học, về cách chọn ban, chọn môn học tự chọn nhưng rất ít học sinh, phụ huynh học sinh nghiên cứu và am hiểu vấn đề này, nên thường “đăng ký lụi” hoặc ghi đi ghi lại nhiều lần trên hồ sơ xin dự tuyển sinh lớp 10. Học sinh cũng không định hướng được học Ban đó để làm gì, học môn học tự chọn, chủ đề tự chọn ra sao, ban nào được học chủ đề tự chọn bám sát hay chủ đề tự chọn nâng cao?… II.2.2- Bất cập qua số liệu đăng ký chọn ban trong các năm tuyển sinh vào Trường Thống kê số liệu từ máy tính về việc chọn ban của học sinh qua 6 năm tuyển sinh lớp 10 vào Trường THPT Buôn Ma Thuột từ năm học 2007-2008 đến năm học 2012-2013 (kể cả nguyện vọng 1 từ Trường THPT Chuyên Nguyễn Du chuyển về): Bảng 1: Số lượng, tỉ lệ chọn ban của học sinh khi đăng ký dự thi vào lớp 10 Trường THPT Buôn Ma Thuột từ năm học 2007-2008 đến năm học 2012-2013 Năm học SL TL% SL TL% SL TL% Tổng hồ sơ dự thi 2007-2008 1981 46,99 379 8,99 1855 44,02 4215 2008-2009 2352 44,97 682 13,04 2196 41,98 5230 2009-2010 1445 32,03 310 6,87 2755 61,08 4510 2010-2011 947 30,06 124 3.94 2079 66,0 3150 2011-2012 839 25,97 98 3,03 2293 70,9 3230 2012-2013 733 25,00 60 2,04 2137 72,96 2930 Ban KHTN Ban KHXH-NV Ban Cơ bản Từ số liệu thống kê qua 6 mùa tuyển sinh lớp 10 sau khi triển khai phân ban ở Trường THPT Buôn Ma Thuột chúng tôi nhận thấy rằng: những năm học đầu tiên (2007-2009) khi triển khai phân ban, tỉ lệ học sinh giữa các ban là xấp xỉ như nhau; tuy nhiên càng về sau tỉ lệ học sinh đăng ký học Ban Khoa học tự nhiên và Ban Khoa học xã hội và Nhân văn ngày càng giảm dần, trái lại ở Ban Cơ bản, những năm đầu, số lượng học sinh đăng ký không nhiều, nhưng sau đó tăng dần qua mỗi năm (năm học 2012-2013 chiếm 72,96%). Phải chăng, học ban Cơ bản hiện nay là “hot” nhất, mục tiêu phân ban của Bộ Giáo dục – Đào tạo đã bị “phá Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 13 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” sản” chăng, khi “Ban không phân ban” (tức Ban Cơ bản theo cách nói ví von của một số người) lại chiếm một tỉ lệ cao nhất ?. Để thấy rõ hơn, chúng tôi minh họa sự chênh lệch lớn giữa các ban khi học sinh đăng ký dự thi vào lớp 10 ở Trường THPT Buôn Ma Thuột qua biểu đồ sau: 80 70 60 Tỉ lệ % 50 40 30 20 10 0 20072008 20082009 20092010 20102011 20112012 20122013 Năm học KHTN KHXH CB Biểu đồ1: Biểu đồ minh họa tỉ lệ tương quan giữa các ban khi đăng ký dự thi vào lớp 10 Trường THPT Buôn Ma Thuột từ năm học 2007-2008 đến năm học 2012-2013 Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 14 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” II.2.3- Thống kê số học sinh trúng tuyển theo tỉ lệ của từng ban Thống kê số liệu từ máy tính về việc học sinh trúng tuyển vào lớp 10 tính tỉ lệ theo từng ban của học sinh qua 6 năm tuyển sinh vào Trường THPT Buôn Ma Thuột từ năm học 2007-2008 đến năm học 2012-2013: Bảng 2: Thống kê số lượng, tỉ lệ trúng tuyển theo từng ban dự thi vào lớp 10 Trường THPT Buôn Ma Thuột từ năm học 2007-2008 đến năm học 2012-2013 Năm học Trúng tuyển Ban KHTN SL TL% đỗ Trúng tuyển Ban KHXH-NV SL theo ban TL% đỗ Trúng tuyển Ban Cơ bản SL theo ban TL% đỗ Số lượng trúng tuyển theo ban 2007-2008 554 27,97% 138 36,41% 358 19,23% 1050 2008-2009 390 16,58% 113 16,57% 195 8,88% 698 2009-2010 326 22,56% 74 23,87% 184 6,68% 584 2010-2011 301 31,78% 40 32,26% 374 17,99% 715 2011-2012 389 46,36% 47 47,96% 311 13,56% 747 2012-2013 295 40,24% 25 41,67% 318 14,88% 638 Từ bảng thống kê số lượng học sinh trúng tuyển theo từng Ban qua 6 năm tuyển sinh chúng tôi nhận thấy rằng: Mặc dù điểm chuẩn đầu vào giống nhau ở tất cả các ban, kỳ thi dùng chung đề, xếp phòng thi theo thứ tự ABC không phân biệt ban… nhưng tỉ lệ trúng tuyển của những học sinh đăng ký Ban Khoa học xã hội và Nhân văn luôn chiếm tỉ lệ cao nhất, tiếp đến là học sinh đăng ký ban Khoa học tự nhiên. Riêng Ban Cơ bản, số lượng, tỉ lệ thí sinh đăng ký nhiều nhất nhưng tỉ lệ đỗ của những học sinh đăng ký ban này rất thấp. Lý giải về điều “lý thú” này, chúng tôi cho rằng: Những học sinh đăng ký Ban KHXH và NV là những học sinh thực sự “can đảm” bỡi Ban KHXH và NV ngoài xã hội không phải là “hot”; tìm trường, tìm ngành thi Đại học, cũng như tìm cơ hội việc làm có thu nhập cao sau khi tốt nghiệp Đại học là rất khó. Vì “can đảm”, nên hầu hết học sinh đăng ký Ban KHXH và NV là những học sinh thực sự có năng lực, năng khiếu và yêu thích các bộ môn khoa học xã hội. Mặt khác cũng không loại trừ khả năng khác, đó là liên tục nhiều năm, Sở Giáo dục – Đào tạo Đăk Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 15 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” Lăk chọn môn thi tuyển vào lớp 10, có 2/3 môn khoa học xã hội là Ngữ Văn và Anh Văn, đó là lợi thế của những học sinh có năng khiếu về lĩnh vực KHXH! II.2.4- Tương quan tỉ lệ học sinh theo học của từng ban và đăng ký học các chủ đề tự chọn khi thi đỗ vào Trường THPT Buôn Ma Thuột Bảng 3: Thống kê số lượng, tỉ lệ học sinh theo học từng ban và môn học tự chọn ở Trường THPT Buôn Ma Thuột từ năm học 2007-2008 đến năm học 2012-2013 Năm học Tổng số học sinh toàn trường Ban KHTN Ban Cơ bản Ban KHXHNV A B C D Khác SL TL % SL TL % SL TL % S L TL % S L TL % SL TL SL TL % % 2007-2008 2860 1955 68.36 145 5.07 450 15.73 42 1.47 38 1.33 135 4.72 95 3.32 2008-2009 2486 1755 70.6 95 3.82 350 14.08 42 1.69 35 1.41 134 5.39 75 3.02 2009-2010 1969 1452 73.74 44 2.23 250 12.70 38 1.93 0 0.00 140 7.11 45 2.29 2010-2011 1896 1332 70.25 38 2.00 307 16.19 36 1.90 0 0.00 143 7.54 40 2.11 2011-2012 1905 1423 74.7 32 1.68 309 16.22 36 1.89 0 0.00 67 3.52 38 1.99 2012-2013 1925 1426 74.08 20 1.04 279 14.49 35 1.82 0 0.00 120 6.23 45 2.34 Chú thích: Ban cơ bản A: Có học chủ đề tự chọn 2 hoặc 3 môn Toán, Vật Lý, Hóa học Ban cơ bản B: Có học chủ đề tự chọn 2 hoặc 3 môn Toán, Hóa học, Sinh học Ban cơ bản C: Có học chủ đề tự chọn 2 hoặc 3 môn Ngữ Văn, Lịch Sử, Địa Lý Ban cơ bản D: Có học chủ đề tự chọn 2 hoặc 3 môn Toán, Ngữ Văn, Ngoại Ngữ Ban cơ bản Khác: Có học chủ đề tự chọn từ 1 đến 2 môn trong số các môn trên Như vậy, hoàn toàn khác với số liệu đăng ký tuyển sinh vào 10, ban Cơ bản giữ một tỉ trọng khá lớn trong 3 ban, thì khi trúng tuyển vào Trường THPT Buôn Ma Thuột, hầu hết học sinh chọn học Ban Khoa học tự nhiên, tiếp đến là Ban Cơ bản; còn Ban Khoa học XHNV thì vô cùng ít. Phải chăng học sinh trúng tuyển vào Trường THPT Buôn Ma Thuột hầu hết có năng lực, năng khiếu của các môn Toán, Vật Lý, Hóa học, Sinh học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên? Trên thực tế không phải như vậy, có nhiều trường hợp các em học môn Toán rất tốt (do đầu tư ôn tập để thi vào lớp 10), nhưng môn Sinh học thì học yếu, liên tục bị dưới điểm trung bình, em không hề yêu thích hay chọn khối Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 16 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” thi đại học có môn học này, do vậy, dù cố gắng nhưng những năm học ở bậc THPT không năm học nào em đạt danh hiệu thi đua học sinh tiên tiến dù điểm trung bình các môn của cả năm học rất cao, nhưng lại bị khống chế… Trong những trường hợp này, càng thấy vai trò quan trọng của việc tư vấn chọn ban, chẳng hạn trường hợp trên, em đó nên chọn ban Cơ bản, học nâng cao Toán, Vật Lý, Hóa học là phù hợp với năng lực và sở thích của em cũng như tương lai nghề nghiệp của em sau này. II.2.5. Đánh giá kết quả học tập của học sinh không còn nhân hệ số 2 các môn học Nâng cao của Ban Theo quy định của Bộ GD-ĐT, bắt đầu từ học kỳ II năm học 2011 - 2012, việc đánh giá và xếp loại học sinh được thực hiện theo Thông tư số 58/2011/TTBGDĐT, ngày 12-12-2011 về Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS, THPT của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo Thông tư này, không phân biệt ban nào, điểm trung bình học kỳ và cả năm của tất cả các môn học đều tính hệ số một. Điều đó làm cho học sinh thuộc các lớp nâng cao bị thiệt thòi. Bởi từ lâu, các lớp ở hai ban Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội- Nhân văn phải học theo chương trình nâng cao, số tiết nhiều hơn, chuyên sâu hơn và lâu nay (theo Thông tư 40 trước đây) đã tính hệ số hai nay lại tính hệ số một, tất nhiên sẽ thiệt thòi nhiều hơn cho những em này. Mục tiêu của chương trình phân ban nhằm phát huy sở trường, năng khiếu ở mỗi học sinh, đồng thời đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Thế nhưng, theo quy định mới thì các môn khoa học sẽ đánh giá và tính hệ số như nhau, liệu học sinh có còn mặn mà với việc học theo phân ban, nhất là ban khoa học xã hội? Như vậy thì việc phân ban có còn cần thiết hay không? II.3. Biện pháp, giải pháp và cách thức thực hiện: II.3.1. Giải pháp 1: Thay đổi thời điểm đăng ký ban học Theo kinh nghiệm từ Trường THPT Buôn Ma Thuột của chúng tôi: Thời điểm đăng ký chọn ban, môn học tự chọn phù hợp nhất là sau khi có quyết định điểm chuẩn và danh sách học sinh trúng tuyển vào từng trường THPT. Lúc này, tâm thế, tâm lý học sinh và phụ huynh cũng đã ổn định, không còn lo lắng, hồi hộp, căng thẳng như lúc làm hồ sơ đăng ký dự thi. Mặt khác thời điểm này số lượng học sinh ít hơn rất nhiều so với thời điểm làm hồ sơ dự thi, nhà trường có thể tổ chức nói Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 17 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” chuyện dưới cờ, hướng dẫn, tư vấn, phân công các tổ, bộ phận, các giáo viên có nhiều kinh nghiệp giải thích cặn kẽ cho từng học sinh, phụ huynh học sinh về: Ban học, môn học tự chọn, chủ đề tự chọn, chương trình Chuẩn, chương trình Nâng cao; học ban đó nên dành cho những học sinh có năng lực, sở trường, yêu cầu ra sao, nghề nghiệp tương lai là gì? Từ đó nhà trường hướng dẫn học sinh chuẩn bị bộ sách giáo khoa tương ứng cho những Ban có môn học Nâng cao. Ban Cơ bản cần những bộ sách gì, theo chương trình Nâng cao hay chương trình Chuẩn tùy theo sự lựa chọn chủ đề tự chọn của phụ huynh và học sinh. Sau khi giải thích, tư vấn cặn kẽ, nhà trường mới phát phiếu đăng ký cho học sinh, phụ huynh suy nghĩ 1 tuần để lựa chọn Ban học, môn học tự chọn, chủ đề tự chọn. Khâu cuối cùng nhà trường thu phiếu đăng ký và xếp lớp như vậy sẽ khoa học hơn, không còn hiện tượng “ngồi nhầm ban”, “ngồi nhầm lớp”. II.3.2. Giải pháp 2: Thay đổi cách thức tư vấn việc chọn ban và môn học tự chọn II.3.2.1- Xây dựng tổ tư vấn, chọn người tư vấn ở Trường THPT Ở Trường THPT chưa có ngành nào đào tạo giáo viên về công tác tư vấn, cho nên đây là công tác kiêm nhiệm của các thầy cô giáo, đặc biệt là đội ngũ giáo viên chủ nhiệm. Vì thế để làm được và làm tốt công tác tư vấn đòi hỏi các giáo viên, ngoài việc giỏi chuyên môn và sự nhiệt tình còn phải tự học để trang bị cho mình các kiến thức và kỹ năng tư vấn. Ngoài các kỹ năng sư phạm của một giáo viên, cần có hệ thống các kỹ năng tư vấn khác như: kỹ năng trò chuyện, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng định hướng vấn đề…để đưa ra lời khuyên hợp lý. Công tác tư vấn liên quan mật thiết đến vấn đề tâm sinh lý học sinh, cho nên người làm công tác tư vấn phải trang bị cho mình các tri thức về tâm lý học lứa tuổi và các phẩm chất cơ bản của một nhà tâm lý. Tính cách phải cởi mở, thân mật, biết quan tâm đến người khác, đam mê với công việc… kết hợp với các phẩm chất sư phạm vốn có của một nhà giáo – tất cả vì học sinh thân yêu! Do đó việc tư vấn, tham vấn giúp cho học sinh, phụ huynh học sinh chọn ra được một Ban học, môn học tự chọn, chủ đề tự chọn phù hợp với năng lực, năng khiếu, sở trường của bản thân và yêu cầu định hướng nghề nghiệp tương lai là công việc hết sức quan trọng, từ đó làm cho học sinh có động lực để cố gắng học tập và phát triển. Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 18 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” II.3.2.2-Tư vấn chọn ban, môn học tự chọn phải gắn liền với năng lực, sở thích, định hướng nghề nghiệp trong tương lai Việc hướng dẫn, tư vấn học sinh chọn ban phải căn cứ vào năng lực, năng khiếu bộ môn đó là điểm các môn học ở cấp THCS thể hiện trong học bạ và điểm thi tuyển sinh vào lớp 10. Ví dụ, học sinh chọn ban Khoa học tự nhiên thì điểm Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học trong học bạ THCS phải ổn định liên tục các năm và đạt từ 8,0 trở lên, điểm thi môn Toán vào lớp 10 đạt từ 8,5 trở lên. Tương tự, chọn Ban khoa học xã hội học sinh phải có điểm Ngữ văn từ 7,5 trở lên và điểm Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ phải từ 8,0 trở lên…Chọn Ban Cơ bản với môn học tự chọn nào, nâng cao môn gì thì cũng phải căn cứ vào những cơ sở tương tự để tư vấn, định hướng. Việc tư vấn lựa chọn Ban học, môn học tự chọn còn gắn liền với những định hướng ngành nghề cho bản thân là vô cùng quan trọng. Nó có ảnh hưởng rất lớn đến tương lai của em sau này. Để chọn đúng ngành nghề trước tiên em phải xác định, em thích làm công việc như thế nào, sức học của em đến đâu cũng như điều kiện hoàn cảnh gia đình, ngành nghề đó học ở đâu, thi vào khối nào, gồm những môn gì?. Dưới đây là số liệu minh chứng ở một số năm, cho thấy: nếu làm tốt công tác tư vấn chọn Ban sau khi trúng tuyển vào lớp 10, nhiều học sinh mới “vỡ lẽ”, sau đó đổi ban, đổi môn học tự chọn, chủ đề tự chọn và thành công trong quá trình học. Bảng 4: Thống kê số lượng học sinh đổi ban sau khi trúng tuyển vào trường có sự hướng dẫn của nhà trường, có sự tư vấn của Thầy cô. Năm học Đăng ký đổi Ban KHTN Đăng ký đổi Ban KHXH-NV Đăng ký đổi Ban Cơ bản Ghi chú SL TL% thay đổi SL TL% thay đổi SL TL% thay đổi 2007-2008 7 0,66% 5 0,47% 2 0,19% /1050 Hs lớp 10 2008-2009 4 0,57% 4 0,57% 6 0,86% /698 Hs lớp 10 2009-2010 9 0,15% 6 1,02% 5 0,86% /584 Hs lớp 10 2010-2011 145 20,2% 14 19,5% 58 8,11% /715 Hs lớp 10 2011-2012 98 13,1% 27 36,1% 120 16,06% /747 Hs lớp 10 2012-2013 213 33,4 20 31,1% 187 29,31% /638 Hs lớp 10 Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 19 “Dạy học phân ban, dạy học tự chọn: Từ lý thuyết đến thực tế. Một số kinh nghiệm và giải pháp ở Trường THPT Buôn Ma Thuột ” II.3.3. Giải pháp 3: Theo dõi, định hướng và tư vấn kịp thời việc đổi ban và môn học tự chọn của học sinh sau một năm học. Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết thúc năm học lớp 10 học sinh có quyền (và cũng chỉ được 1 lần này) được đổi ban học, môn học tự chọn, chủ đề tự chọn. Do vậy, cũng như lần đầu vào trường, việc lắng nghe tâm tư nguyện vọng của học sinh và tư vấn, định hướng giúp học sinh chuyển đến Ban mới, môn học tự chọn mới theo đúng sở thích, năng lực của các em. Giới thiệu cho các em những đặc điểm, yêu cầu của ban mới, chuẩn bị bộ sách giáo khoa phù hợp và giúp các em nhanh chóng thích nghi với Ban mới, lớp mới. Bảng 5: Thống kê số lượng học sinh đổi ban sau năm học lớp 10 Năm học Đăng ký đổi Ban KHTN Đăng ký đổi Ban KHXH-NV Đăng ký đổi Ban Cơ bản SL TL% thay đổi SL TL% thay đổi SL TL% thay đổi Ghi chú: Tổng số học sinh lớp 10 2007-2008 56 5,32% 15 0,14% 35 3,33% 1050 2008-2009 48 6,88% 17 0,24% 68 9,74% 698 2009-2010 45 7,71% 21 3,59% 39 6,67% 584 2010-2011 5 0,69% 2 0,28% 4 0,56% 715 2011-2012 4 0,53% 1 0,16% 5 0,67% 747 II.3.4. Giải pháp 4: Tổ chức tốt các hoạt động giáo dục, nhất là hoạt động giáo dục hướng nghiệp, sớm định hướng nghề nghiệp cho học sinh, đây là công việc quan trọng gắn liền với việc chọn ban học, môn học tự chọn, chủ đề tự chọn Cùng với 13 môn học bắt buộc trong chương trình còn có 4 hoạt động giáo dục quan trọng khác (Hoạt động giáo dục tập thể; Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; Hoạt động giáo dục hướng nghiệp; Hoạt động giáo dục nghề phổ thông). Trong đó hoạt động giáo dục hướng nghiệp đóng một vai trò vô cùng quan trọng, khi ngồi trên ghế nhà trường THPT, học sinh phải định hướng học tập, định Nguyễn Đăng Bồng – Trường THPT Buôn Ma Thuột. E-mail: nguyendangbongbmt@gmail.com 20
- Xem thêm -