Một số khái niệm sản phẩm nông nghiệp

  • Số trang: 24 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 23 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QTKD  BÀI TẬP NHÓM MARKETING NÔNG NGHIỆP CHƯƠNG 2: MỘT SỐ KHÁI NIỆM SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP Cán bộ giảng dạy: TS.Bùi Văn Trịnh CẦN THƠ, 10/2010 1 Nhóm: 1.2 Chương 2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CUNG VÀ CẦU SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP 2.1 CẦU VỀ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP 2.1.1 Khái niệm Cầu sản phẩm nông nghiệp là khái niệm dùng để chỉ lượng hàng hóa nông sản mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở mỗi mức giá trong những thời điểm nhất định. Cầu bao gồm: cầu cá nhân và cầu thị trường. Đối với từng cá nhân người tiêu dùng phân biệt nhóm sản phẩm cuối cùng cho sinh hoạt (lương thực, thực phẩm...) và nhóm sản phẩm tiêu dùng trung gian (hạt giống, thức ăn gia súc, nguyên liệu chế biến...). Những người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng sẽ cần một lượng hàng hóa tương đương với phần thu nhập và mua thứ hàng đó. Như vậy khi giá thấp anh ta mua được lượng hàng nhiều còn khi giá cao thì ngược lại. Những người tiêu dùng sản phẩm trung gian sẽ cần một lượng hàng nhất định dựa vào định mức kinh tế kĩ thuật và qui mô sản xuất của họ. Như vậy nếu giá hạ người ta cũng không mua nhiều hơn, còn nếu giá tăng người ta sẽ tìm mặt hàng khác để thay thế, thậm chí trong chừng mực phải giảm qui mô sản xuất hoặc chuyển hướng sản xuất. 2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu sản phẩm nông nghiệp 2.1.2.1 Giá cả: Đường cung cầu tổng quát (2.1) biểu diễn mối quan hệ giữa giá cả P và lượng cầu Q. Số cầu là cầu ứng với mỗi mức giá P1 là Q1 và ở giá P2 thì số cầu là Q2. Tổng hợp tất cả các số cầu ta có đường cung cầu. Quan hệ giữa lượng cầu và giá cả là quan hệ tỉ lệ nghịch. Vì vậy ta có thể biểu diễn đường cung cầu về một loại hàng hóa nông sản như hình 2.1 2 Nhóm: 1.2 P2 P1 Q2 Q1 => Khi giá cao lượng cầu giảm khi giá giảm thì lương cầu tăng lên. 2.1.2.2 Tính sẵn có của hàng hóa thay thế: Ví dụ: Người ta có thể dùng thịt bò hoặc thịt gia cầm thay cho thịt lợn trong trường hợp giá thịt lợn tăng nhưng giá thịt bò và thịt gia cầm không tăng. 2.1.2.3 Thu nhập và phân phối thu nhập: Thu nhập của người tiêu dùng dành mua từng loại nông sản thực phẩm. Người tiêu dùng rất nhạy cảm với biến giá của những loại nông sản mà họ dành tỷ trọng lớn phần thu nhập để mua. Ngược lại những sản phẩm như gia vị, muối... chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng cầu thì khi có biến giá, người tiêu dùng cũng không cần thêm bớt nhiều. Do vậy khi giá loại nông sản thay thế giảm xuống sẽ làm thay đổi lượng cầu về một nông sản khác. Tình hình phân phối thu nhập và mức thu nhập của các nhóm dân cư: Khi thu nhập thấp, cầu về các nông sản thông thường lớn hơn. Ngược lại khi thu nhập tăng thì cầu về các loại nông sản có chất lượng cao sẽ tăng lên. Tình trạng phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư cũng ảnh hưởng tới lượng cầu một loại nông sản hàng hóa. Thực tế cho thấy, càng có sự chênh lệch trong phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư thì lượng cầu về lương thực thực phẩm càng giảm hơn so 3 Nhóm: 1.2 với trường hợp ít có sự chênh lệch trong phân phối thu nhập. Ở nước ta khi bình quân thu nhập của dân cư nông thôn đạt 4.617 ngàn đồng/hộ/năm, thì chi tiêu cho hầu hết các loại lương thực thực phẩm đều cao hơn mức chi tiêu cho các lương thực phẩm cùng loai của nhóm hộ có mức thu nhập tương tự là 4.787 ngàn đồng/hộ/năm. 2.1.2.4 Thị hiếu và tập quán tiêu dùng của dân cư và các phong tục địa phương: Ví dụ: trong dịp lễ tết nhu cầu tiêu dùng thịt và các loại gạo nếp, gạo tấm tăng lên 2.1.2.5 Dân số và qui mô dân số: Dân số làm cho qui mô tiêu dùng tăng lên. Khi dân số tăng thì cầu về các sản phẩm cũng tăng theo. Tuy nhiên cầu các sản phẩm nông nghiệp có tính đặc thù. Nếu sức sản xuất thấp, khi dân số tăng thì những nhu cầu nông sản rẻ tiền tăng lên. Ngược lại, khi sức sản xuất phát triển, mức sống tăng, khi dân số tăng làm cho nhu cầu về mọi loại nông sản tăng, kể cả những mặt hàng nông sản cao. 2.1.2.6 Dự đoán về giá cả trong tương lai: Mục đích có thể dự báo xu hướng lượng sản phẩm cần cung cấp, nhu cầu sản phẩm và giá sản phẩm thông qua việc hiểu được sản xuất từng mùa vụ và chu kỳ giá và các yếu tố chính ảnh hưởng đến các chu kỳ đó. Chẳng hạn như: Dự báo xuất khẩu gạo của nước ta sẽ gặp khó khăn trong nửa cuối năm nay. Mục tiêu xuất khẩu 6 triệu tấn gạo của nước ta có thể đạt được nhưng kim ngạc xuất khẩu gạo thì sẽ thấp hơn nhiều so với dự kiến. Hiện nay, lượng gạo tồn kho ở Việt Nam và Thái Lan còn rất lớn, do đó, giá gạo có thể giảm nửa. 2.1.2.7 Cầu cho dự trữ: Cầu cho dự trữ thể hiện một loại cầu quan hệ đến nhu cầu và giá cả theo dự toán trong tương lai. Thông thường các hàng hóa nông nghiệp được sản xuất theo thời vụ nhưng lại tiêu thụ hầu hết điều đặn trong năm. Các đơn vị dự trữ cung ứng các dịch vụ dự trữ hàng hóa vào thời điểm thu hoạch để đáp ứng nhu cầu 4 Nhóm: 1.2 tiêu thụ trong năm. Các đơn vị này dự đoán rằng chênh lệch giá cả từ thu hoạch đến những thời điểm tiêu thụ khác đem cho lợi nhuận. Như vậy hàm số cầu có thể diễn giải là bao gồm cả cầu sử dụng cho hiện tại và cả cầu cho mục đích dự trữ. Nếu cầu cho dự trữ kết hợp vào hàm cầu thì sẽ có thêm các nhân tố tác động đến sự dịch chuyển của đường cầu. Hoạt động dự trữ được cho là có tác động gia tăng tần suất và độ lớn của sự biến động về giá cả. Dự trữ làm gia tăng tổng cầu và điều này làm gia tăng giá cả. Dự trữ theo dự báo hợp có khuynh hướng điều hòa mức độ biến động giá cả. 2.2 CO GIÃN CẦU VÀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC HỆ SỐ 2.2.1 Định nghĩa Hệ số co giãn của cầu được sử dụng để đo độ nhạy cảm của lượng cầu hàng hóa đối với sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến cầu. Nó cho biết khi yếu tố ảnh hưởng thay đổi 1% thì lượng cầu hàng hóa sẽ thay đổi bao nhiêu %. 2.2.2 Các loại hệ số co giãn của cầu 2.2.2.1 Co giãn của cầu theo giá: Hệ số co giãn của cầu theo giá được định nghĩa như là một hệ số thể hiện phần trăm thay đổi về lượng cầu tương ứng với mức phần trăm thay đổi về giá của sản phẩm đó. Theo định nghĩa, ta có công thức tính hệ số co giãn của cầu theo giá như sau: eQ D , P  QD / QD (%) P / P(%) Hệ số này thường được diễn giải như là phần trăm thay đổi về lượng cầu 5 Nhóm: 1.2 tương ứng với 1% thay đổi về giá. Do đường cầu dốc xuống về phía phải nên hệ số co giãn của cầu theo giá luôn mang dấu âm. Hệ số co giãn về cầu có khoản giá trị từ 0 đến âm vô cực. Các giá trị có thể có của eQ D ,P :  Nếu eQ D ,P > 1, cầu co giãn, phần trăm thay đổi về lượng cầu lớn hơn phần trăm thay đổi tương ứng về giá, thay đổi một chút giá bán sẽ làm cho lượng cầu thay đổi nhiều.  Nếu eQ D ,P = ∞, cầu co giãn hoàn toàn, tăng (giảm) giá thì lượng cầu sẽ giảm tới 0, nghĩa là không bán được sản phẩm nào. Đường cầu nằm ngang.  Nếu eQ D ,P < 1, cầu ít co giãn, phần trăm thay đổi về lượng cầu nhỏ hơn phần trăm thay đổi tương ứng về giá, thay đổi giá bán nhiều nhưng lượng cầu thay đổi ít.  Nếu eQ D ,P = 1, cầu co giãn đơn vị, phần trăm thay đổi của lượng cầu tương ứng với phần trăm thay đổi về giá.  Nếu eQ D ,P = 0, cầu hoàn toàn không co giãn, dù giá tăng hay giảm thì lượng cầu vẫn không thay đổi, đường cầu thẳng đứng. eQD ,P = ∞ eQD , P > 1 eQD ,P = 1 6 eQD , P < 1 Nhóm: 1.2 eQD , P = 0 Đối với đa số hàm cầu thì hệ số co giãn giá về cầu thay đổi dọc theo đường cầu. Chỉ trừ một vài trường hợp thì hệ số co giãn giá về cầu là một hằng số dọc theo đường cầu. Các trường hợp này bao gồm đường cầu là một đường thẳng đứng, một đường nằm ngang, hàm số mũ hoặc 1 Hyperbole vuông. Hệ số co giãn giá về cầu và tổng doanh thu:  Nếu cầu co giãn theo giá thì giá cả và tổng doanh thu thay đổi nghịch chiều nhau. Nếu cầu không co giãn theo giá thì giá cả và tổng doanh thu thay đổi theo quan hệ thuận. TR = P x Q P tăng P giảm Cầu co giãn ( eQD , P  1 ) TR giảm TR tăng Cầu không co giãn ( eQD , P  1 ) TR tăng TR giảm Cầu co giãn đơn vị ( eQD , P  1 ) TR không thay đổi TR không thay đổi P E=∞ E>1 E=1 P1 E<1 TRmax E=0 0 Q Q Hệ số co giãn và đường cầu 7 Nhóm: 1.2  Mối quan hệ giữa hệ số co giãn và tổng doanh thu cũng được phân tích dọc theo một đường cầu. Nếu đường cầu dịch chuyển tăng thì tổng doanh thu và lượng cầu đều có thể tăng mặt dù cầu không co giãn theo giá. Điều này phụ thuộc vào sự dịch chuyển của đường cầu chứ không do hệ số co giãn giá về cầu quyết định. 2.2.2.2 Hệ số co giãn của cầu theo thu nhập: Như ta đã biết thu nhập cũng là yếu tố ảnh hưởng đén số cầu đối với hàng hóa. Vì vậy ta cần phải nghiên cứu hệ số co giãn của cầu theo thu nhập. Công thức tính hệ số co giãn của cầu theo thu nhập là: eQ D , I  Q I  I Q Ý nghĩa của hệ số co giãn của cầu theo thu nhập: Hệ số co giãn của cầu theo thu nhập cho biết % thay đổi của số cầu do 1% thay đổi của thu nhập. khi thu nhập thay đổi thì dẩn đến sự thay đổi của số cầu, nhưng sự thay đổi của số cầu phụ thuộc vào tính chất của hàng hóa. 2.2.2.3 Hệ số co giãn chéo của cầu: Nếu các yếu tố khác không đổi, giá của hàng hóa có liên quan (thay thế hoặc bổ sung) thay đổi sẽ làm thay đổi lượng cầu đối với hàng hóa đang xem. Trong phần này ta nghiên cứu hệ số co giãn của cầu đối với hàng hóa nào đó theo giá hàng hóa có liên quan. Hệ số này được gọi là hệ số co giãn chéo của cầu. Ta có công thức tính hệ số co giãn chéo của cầu: eQD , P '  Q P '  P ' Q Trong đó P’ là giá cả hàng hóa có liên quan, eQ D ,P ' là hệ số co giãn chéo của cầu. 8 Nhóm: 1.2 Ý nghĩa của hệ số co giãn chéo: Hệ số co giãn chéo của cầu đối với một hàng hóa nào đó cho biết % thay đổi của số cầu đối với hàng hóa này do giá của hàng hóa có liên quan thay đổi Từ công thức trên ta có nhận xét sau:  Nếu 2 hàng hóa này thay thế cho nhau thì eQ D ,P ' >0 Ví dụ: Như cam và quýt là 2 hàng hóa thay thế cho nhau, ta có thể thấy rằng khi giá của cam tăng lên sẽ làm cho số cầu đối với quýt tăng lên.  Nếu 2 hàng hóa là bổ sung cho nhau thì eQ D ,P ' <0 Ví dụ: như cá và thức ăn cho cá là 2 hàng hóa bổ sung cho nhau, ta có thể thấy rằng khi giá của thức ăn tăng lên thì sẽ làm cho số cầu đối với cá giảm xuống. Ý nghĩa thực tế: Hệ số co giãn chéo cho thấy mức độ nhạy cảm của cầu đối với một loại hàng hóa nào đó đối với chiến lược giá của doanh nghiệp sản xuất hàng hóa có liên quan. Vì thế hệ số co giãn chéo đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh cạnh tranh. Các hàng hóa độc lập có hệ số co giãn chéo bằng hoặc tương đương 0 Cần chú ý rằng khi ta thay đổi thứ tự hàng hóa khi tính toán hệ số co giãn chéo thì không nhất thiết cho ra cùng kết quả. 2.2.3 Quan hệ giữa các hệ số co giãn của cầu 2.2.3.1 Quan hệ thống nhất Quan hệ này thể hiện rằng tổng của các hệ số về cầu gồm hệ số co giãn giá, hệ số co giãn giá chéo và hệ số thu nhập của một hàng hóa là bằng 0. Eii + Ei1 + Ei2 + …+ Eiy = 0 (1) 9 Nhóm: 1.2 Trong đó: Eii: hệ số co giãn giá về cầu của hàng hóa i Ei1: các hệ số co giãn chéo của i (j = 1, 2, 3,…) Eiy: hệ số co giãn thu nhập về cầu Ý nghĩa của quan hệ thống nhất: Là tác động thay thế và tác động thu nhập của việc thay đổi bản thân giá cả hàng hoá i phải thống nhất với các hệ số co giản giá chéo và hệ số co giãn thu nhập của hàng hóa đó. Ta thấy: - Một hệ số co giãn thu nhập cao tất yếu phải tương ứng với hệ số co giãn về giá cầu lớn (về giá trị tuyệt đối). - Nếu hàng hoá i có nhiều hàng hóa thay thế (tức có nhiều hệ số co giãn giá chéo có ý nghĩa) và/ hoặc có một số hàng hóa có liên quan thay thế chặt chẽ (tức có các giá trị co giãn giá chéo dương lớn) cũng có ý nghĩa là hệ số co giãn giá chéo cao. Thí dụ: có các hệ số co giãn như sau của mặt hàng thịt cá Hệ số co giãn giá về cầu -0,59 Ecá,tôm 0,02 Ecá,gà 0,06 Ecá,heo 0,12 Các hệ số co giãn giá chéo khác -0,01 Hệ số cho giãn thu nhập về cầu 0,40 Ta thấy: tổng của các hệ số về cầu là: 10 Nhóm: 1.2 Eii + (Ei1 +Ei2 +Ei3 +Ei4) + Eiy = -0,59 + 0,02 + 0,06 + 0,12 - 0,01 + 0,40 = 0  Đó là quan hệ thống nhất của các hệ số co giãn. Với các giả định rằng: 1) Hệ số co giãn thu nhập về cầu dương. 2) Các quan hệ chéo đa số là quan hệ thay thế (hệ số co giãn giá chéo dương), thì giá trị tuyệt đối của hệ số co giãn về cầu sẽ có khả năng lớn hơn các giá trị của hệ số co giãn giá chéo về cầu. Có như thế thì tổng các hệ số mới bằng 0. Quan hệ thống nhất cũng có thể sử dụng để xác định giới hạn dưới của hệ số co giãn giá về cầu và giới hạn trên của hệ số co giãn thu nhập về cầu. Ta có: tổng của các hệ số co giãn chéo là : Eij = Ei1 + Ei2 + …+Ein  Với giả định (2): Nếu: Tổng này = 0 => | Eii |  | Eiy |=> Có nghĩa là hệ số co giãn giá về cầu của hàng hóa i (Eii) sẽ gần như tương đương với hệ số co giãn thu nhập về cầu (Eiy), lúc đó tổng của các hệ số co giãn giá chéo là dương và như vậy 0 là giới hạn dưới của tổng này. Nếu: Tổng này > 0 => | Eii | > | Eiy | => độ lớn của hệ số co giãn thu nhập có thể xem là giới hạn dưới của hệ số co giãn thu nhập về cầu. Phân tích tương tự, có thể nói rằng giá trị tuyệt đối của hệ số co giãn giá về cầu một khi đã biết sẽ xác định giới hạn trên của hệ số co giãn thu nhập theo cầu. 2.2.3.2 Quan hệ đối xứng: Thể hiện mối quan hệ giữa các hệ số co giãn giá chéo. Ta có công thức: Eij = (Rj/Ri)Eji + Rj(Eji - Eiy) (2) 11 Nhóm: 1.2 Trong đó: Rj : Tỉ lệ chi tiêu cho hàng hóa j so với tổng chi tiêu Ri : Tỉ lệ chi tiêu cho hàng hóa i so với tổng chi tiêu Rij, Eji = hệ số co giãn giá chéo Eji, Eiy = hệ số co giãn thu nhập Giả sử, chi tiêu cho hàng hóa j chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng chi tiêu và hệ số co giãn thu nhập về cầu của 2 hàng hóa là tương đương nhau Eij = (Rj/Ri)Eji (2’) (2’) được gọi là công thức Hotelling – Jureen Nếu biết được Eji thì có thể ước lượng được Eij và ngược lại. Mối quan hệ giữa các hệ số co giãn chéo có thể nghiên cứu ứng dụng ở mức chấp nhận được và giá trị hệ số co giãn chéo ở mức chấp nhận được thường rất khó ước lượng trực tiếp từ dữ liệu sẵn có. Tác động thay thế trong giá mang tính chất đối xứng, còn tác động thu nhập thì không. VD: Chi tiêu thịt vịt thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng thu nhập bình quân của người tiêu dùng so với chi tiêu thịt gà => 1% thay đổi của giá thịt vịt ảnh hưởng đến giá thịt gà ít (hệ số co giãn chéo nhỏ) và ngược lại chi tiêu thịt vịt chiếm tỉ trọng lớn so với chi tiêu thịt gà trong tổng thu nhập của người tiêu dùng => 1% thay đổi của giá thịt vịt ảnh hưởng đến giá thịt gà lớn hơn (hệ số co giãn chéo lớn). Tức là ảnh hưởng của giá thịt gà lên thịt vịt lớn hớn giá thịt vịt lên giá thịt gà. 2.2.3.3 Quan hệ tổng Cournot Quan hệ này thể hiện số gia quyền của các hệ số co giãn giá (chéo) về cầu của mặt hàng tương ứng với một hàng hóa j thì bằng với giá trị âm của tỉ trọng chi tiêu cho hàng hóa j trong thu nhập: 12 Nhóm: 1.2 R1E1j + R2E2j + … + RnEnj =-Rjs Thí dụ: Giả sử ta có 3 mặt hàng: quần áo và giày dép, thực phẩm, du lịch. Với tỉ trọng chi tiêu tương ứng so với tổng chi tiêu là: 30%; 50%; 20%. Và hệ số co giãn giá chéo của thực phẩm tương ứng với quần áo và giày dép là -0.4. Hệ số co giãn giá chéo của du lịch tương ứng với quần áo và giày dép là -0.5 thì ta có: 0.5*(-0.4) + 0.2*(-0.5) = -0.3 2.2.3.4 Quan hệ tổng hợp Engel Quan hệ này thể hiện tổng số gia quyền của các hệ số co giãn thu nhập về cầu (Eiy) của tất cả hàng hóa mà một người tiêu dùng mua sắm bằng 1. Quyền số được sử dụng là tỉ trọng của khoản chi tiêu cho từng hàng hóa so với tổng chi tiêu (Ri). Công thức tính toán là: R1E1y + R2E2y + … + RnEny =-Ry Lưu ý là trong công thức này không nhất thiết tát cả các hệ số co giãn thu nhập dều nhỏ. Thí dụ co 4 mặt hàng với các hệ số co giãn thu nhập là 6; 1; 0.5; 0.2. và các quyền số tương ứng là 0.1; 0. 2; 0.2; 0.5. Thì ta có: 0.1*6 + 0.2*1 + 0.2*0.5 + 0.5*0.2=1 Các quan hệ được đề cập ở trên có thể được ứng dụng trong trường hợp cần ước lượng một hệ thống phương trình yêu cầu. Trong trường hợp này các ràng buộc về quan hệ của các hệ số co giãn về cầu có thể được quy định trong quá trình ước lượng. Một lợi thế của việc sử dụng hệ thống phương trình là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về cầu của các sản phẩm khác nhau được thể hiện trong quá trình ước lượng và phân tích thông qua việc quy định các ràng buộc theo quan hệ nêu trên. 2.3 QUAN HỆ CUNG ỨNG SẢN PHẨM TRONG NÔNG NGHIỆP 2.3.1 Khái niệm Cung thị trường: tổng số lượng sản phẩm mà tất cả các người sản xuất/bán sẵn sàng cung ứng ra thị trường với các mức giá khác nhau của hàng hoá đó 13 Nhóm: 1.2 trong khoảng thời gian nhất định, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Đối với đường cung ngắn hạn một số yếu tố sản xuất là cố định, trong khi một số yếu tố khác có thể thay đổi để đáp úng điều kiện giá cả thay đổi. + Ngắn hạn: thời gian từ 1-2 năm đối với sản phẩm công nghiệp. + Dài hạn:thời gian cần thiết đối với các yếu tố sản xuất. Vd: đất đai, vật kiến trúc và máy móc đều có thể thay đổi. Lượng sản phẩm mà nông dân sẵn sàng cung ứng thêm khi giá cả tăng lên phụ thuộc không chỉ vào các yếu tố sản xuất mà còn phụ thuộc vào khoản thời gian cần thiết để sự điều chỉnh có thể diễn ra, thời gian cần thiết cho sự điều chỉnh càng dài thì phản ứng điều chỉnh càng lớn khi giá thay đổi.  Trong khoảng thời gian rất ngắn: khi mùa vụ đã được sản xuất và thu hoạch thì đường cung ứng sản phẩm là một đường thẳng đứng, lượng cung ứng không thể tăng hay giảm.  Trong khoản thời gian ngắn: số lượng yếu tố sản xuất sử dụng (phân bón, thức ăn…) có thể thay đổi.  Trong khoản thời gian dài hơn: việc cung ứng sản phẩm có xu hường thay đổi nhiều hơn khi thời gian cần thiết cho sự điều chỉnh càng dài. Thời gian giữ vai trò rất quan trọng trong việc xác định quan hệ cung ứng trong nông nghiệp. Khái niệm thời gian ngắn, trung và dài hạn chỉ là tương đối. Thời gian cần thiết cho cung ứng thay đổi tùy thuộc vào loại sản phẩm. Ví dụ: thay đổi quyết định trong sản xuất cây ăn quả thì cần nhiều thời gian hơn trong chăn nuôi gia cầm. Đối với mục đích dự báo, người ta mong muốn tách rời tác động của việc thay đổi giá cả trong ngắn hạn và dài hạn, tuy nhiên việc này khó thực hiện trên thực tế. Khó có thể cô lập được toàn bộ tác động của một lần thay đổi về giá cả vì các lần thay đổi giá cả tiếp theo có thể diễn ra trước khi tác động cuối cùng của lần thay đổi thứ nhất có thể hoàn tất. Những gì mà người ta quan sát được 14 Nhóm: 1.2 trên thực tế là tác động tổng hợp của nhiều lần thay đổi giá cả khác nhau với các mức độ hiệu trễ khác nhau. 2.3.2 Hệ số co giãn về cung cấp (E s) Hệ số co giản giá về cung thể hiện phần trăm thay đổi về lượng cung tương ứng với một mức phần trăm thay đổi về giá, các nhân tố khác không đổi. Do giá và lượng cung cấp đổi cùng chiều nên hệ số có dấu dương.  Hệ số Es = 0 có nghĩa là lượng cung là không đổi khi giá thay đổi. Trường hợp này gọi là cung hoàn toàn không co giản.  0< Es <1: cung không co giản. Phần trăm thay đổi về lượng cung lớn hơn phần trăm thay đổi tương ứng về giá. 2.3.3 Cung thay đổi (sự dịch chuyển của đường cung) Số cung của một loại hàng hóa nào đó phụ thuộc vào giá của chính nó và một số yếu tố khác. Ở phần trước ta giả định các yếu tố khác không đổi, nhưng điều này không thực tế, cần phân biệt giữa sự thay đổi về số lượng cung (di chuyển dọc theo đường cung) và sự thay đổi cung (đường cung dịch chuyển). Vì vậy ta phải nghiên cứu sự thay đổi của các yếu tố này. Sự thay đổi của chúng sẽ làm dịch chuyển đường cung với mức giá không đổi. Phần này sẽ phân tích một cách chi tiết ảnh hưởng của các yếu tố này lên đường cung để từ đó rút ra các bài học hữu ích cho kinh doanh. 15 Nhóm: 1.2 S1 P S3 S2 P0 Q2 Q0 Q1 Q (S) Phải: P không đổi, Qs tăng (S) Trái: P không đổi, Qs giảm Các nhân tố ảnh hưởng đến sự dịch chuyển của đường cung là: (1) Giá cả đầu vào thay đổi: Để tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp phải mua các yếu tố sản xuất (đầu vào) như lao động, nguyên liệu, nhiên liệu…Như vậy giá yếu tố đầu vào quyết định chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Giá đầu vào giảm xuống sẽ làm giảm chi phí sản xuất và khích lệ các nhà sản xuất sản xuất nhiều hơn khi giá không đổi do lợi nhuận sẽ tăng lên. Khi đó đường cung sẽ dịch chuyển sang phải. Khi giá đầu vào tăng thì ngược lại, đường cung sẽ dịch chuyển sang trái. Vd: Năm 2009 giá tôm nguyên liệu tăng do sự cạnh tranh của thương nhân TQ, “Giá loại 20 con mỗi kg giá khoảng 140.000 đồng, nhưng thương nhân Trung Quốc sẵn sàng trả 195.000 đồng”. Do thiếu nguyên liệu, giá tăng cao, nhiều nhà máy chế biến tôm trong nước đã phải đóng cửa, giảm công suất. 16 Nhóm: 1.2 Nguồn: vnExpress.net Tôm nguyên liệu được thu mua với giá cao bởi Thương Nhân TQ (2) Giá cả của các sản phẩm cạnh tranh thay đổi Khi giá của sản phẩm cạnh tranh giảm thì sản phẩm bị cạnh tranh kém ưu thế hơn về giá, khiến lượng sản phẩm được bán ra ít đi, doanh thu giảm, lượng cung giảm nhưng giá vẫn không đổi, đường cung dịch chuyển sang trái, ngược lại giá của sản phẩm cạnh tranh tăng, đường cung dịch chuyển sang phải. Vd: Khoai tây Đà Lạt giá 7. 000- 8.000 đồng/kg, thì khoai tây Trung Quốc bán buôn chỉ 5.000- 6.000 đồng/kg khiến hàng nông sản Việt Nam đang mất dần thị phần ngay trên sân nhà. (3) Thay đổi công nghệ sản xuất Khi kỹ thuật sản xuất được cãi tiến, nhà sản xuất có thể sản xuất ra nhiều hơn trước trong cùng một thời gian hay cùng một lượng yếu tố đầu vào, làm giảm chi phí sản xuất. Do đó nhà cung ứng sẽ cung ứng nhiều hàng hóa hơn tại mỗi mức giá. Khi đó đường cung dịch chuyển sang phải. Vd: Trồng cam sành cải tiến: ngoài các khâu cơ bản như chọn, làm đất, lên liếp, bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh… như qui trình truyền thống, qui trình cải tiến có áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới kết hợp IPM và trồng ổi xen cam để xua đuổi rầy chổng cánh Diaphorina citri, một tác nhân truyền bệnh greening trên cam quýt rất nguy hiểm. Kết quả: Cây ổi sau trồng 1 năm đã bắt đầu cho thu nhập với mức từ 10-12 triệu đồng/công/năm. Cây cam sau trồng 2 17 Nhóm: 1.2 năm đã bắt đầu cho thu bói, quả sai, chất lượng tốt và đặc biệt là hoàn toàn sạch bệnh greening. (4) Thời tiết thay đổi Nhiều ngành sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, gắn liền với các điều kiện tự nhiên như đất, nước, thời tiết, khí hậu…Sự thay đổi các điều kiện này làm thay đổi số cung hàng hóa trên thị trường. Vd: Vụ đông xuân 2007-2008, toàn tỉnh Quảng Ngãi mất mùa do thời tiết quá khắc nghiệt. Mưa và rét lạnh kéo dài khiến nhiều diện tích lúa không có đòng, hoặc có đòng thì không ngậm sữa vì vậy bệnh tử đòng, lem lép hạt xảy ra trên diện rộng. Cả vùng lúa rộng lớn ở Tịnh Phong hầu như bị mất trắng Nguồn: http://vietbao.vn (5) Giá cả sản phẩm kết hợp thay đổi Sản phẩm kết hợp: Khi mua sản phẩm này thì thường đi kèm với sản phẩm khác. Do đó giá của sản phẩm này sẽ ảnh hưởng đến lượng cung của sản phẩm kia. Vd: Ngày 23/6 giá sữa đã tăng từ 4.600 lên 5.000 đồng/kg, từ 5.000 vọt lên thêm 1.200-1.600 đồng/kg. Giá sữa tăng, người dân sẽ đổ xô đi nuôi bò sữa, bất chấp ở nơi không đủ điều kiện. Hệ quả là con giống sẽ tăng giá và khan hiếm. 18 Nhóm: 1.2 TP.HCM hiện có đàn bò lớn nhất nước (ảnh mofahcm.gov.vn). Nguồn: http://vietbao.vn (6) Những rủi ro về giá cả và hoặc năng suất mà người sản xuất phải gánh chịu. Bán một đơn vị hàng hóa hôm nay và bán một đơn vị hàng hóa ngày mai có tính chất thay thế lẫn nhau. Nếu kì vọng giá tăng trong tương lai và hàng hóa không phải là loại mau hỏng thì các doanh nghiệp sẽ trữ lại hàng hóa, trì hoãn việc bán hay có thể sản xuất ít đi trong hiện tại để sản xuất nhiều hơn trong tương lai nhằm thu được lợi nhuận cao hơn trong tương lai khi giá tăng. Vd: Tháng sáu 2002 giá điều nhân chợt tăng chóng mặt, tới mức trên dưới 4.000 USD/tấn, trong khi hàng đã được vội vã bán hết từ lâu với giá rẻ mạt (khi nhận được tin là cầu giảm trong tương lai). Các doanh nghiệp kinh doanh điều bị thua thiệt khoảng trên 10 triệu USD vì sai lầm này. (7) Số lượng người sản xuất: Nếu nhiều doanh nghiệp gia nhập ngành thì có nhiều sản phẩm được sản xuất ra ở mức giá nào đó, làm dịch chuyển đường cung sang phải.Ngược lại đường cung sẽ dịch chuyển sang trái. Vd: Ưu điểm của tôm thẻ là thời gian nuôi ngắn, ít xảy ra dịch bệnh, chi phí thuốc và hóa chất phòng trị bệnh tôm thấp, giá giống không cao lắm… Chính những hấp lực trên khiến cho tôm thẻ chân trắng “lên ngôi”, chỉ trong thời gian ngắn diện tích nuôi tôm thẻ đã ồ ạt phát triển hơn 356 ha, tăng gấp 5,5 lần so với năm 2007. 19 Nhóm: 1.2 (8) Chính sách của nhà nước Thuế, các qui định và chính sách kinh tế của chính phủ cũng có ảnh hưởng đến cung. Chính sách chống ô nhiễm và bảo vệ môi trường sẽ làm tăng chi phí cho các doanh nghiệp, giảm lợi nhuận, có thể làm giảm sản lượng. Ngược lại, như chính sách hổ trợ có thể làm tăng sản lượng. Vd: 8-4-2010, Bộ NN&PTNT có Thông tư 25 về Hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hóa có nguồn gốc động vật nhập khẩu. Văn bản trên đã gây ra những khó khăn, trở ngại của các doanh nghiệp nhập khẩu thủy hải sản để gia công, chế biến, xuất khẩu khi Thông tư có hiệu lực thi hành. 2.3.4 Mối quan hệ trong phản - ứng - cung (động thái cung) Phần này giúp chúng ta phân biệt giữa đường cung sản phẩm theo lý thuyết và phản - ứng – cung. Đường cung sản phẩm được đề cập ở các phần trước đây thể hiện mối quan hệ giá cả và số lượng sản phẩm, các yếu tố khác không đổi (đường cung sản phẩm truyền thống), còn mối quan hệ phản - ứng - cung mang tính chất tổng quát hơn, nó xác định sản lượng cung ứng khi giá sản phẩm thay đổi trong điều kiện các yếu tố khác cũng có khả năng thay đổi. Đường cung sản phẩm truyền thống khẳng định rằng khi giá cả sản phẩm tăng rồi sau đó giảm lại thì lượng cung sản phẩm sẽ trở lại như lúc ban đầu. Đó là tính chất hai chiều của đường cung ứng sản phẩm truyền thống. Còn phản - ứng cung lại không mang tính chất hai chiều như vậy. Khái niệm phản - ứng - cung dựa trên cơ sở khi giá cả sản phẩm thay đổi thì các yếu tố khác cũng thay đổi theo một mối tương quan nào đó. Một trường hợp cụ thể là khi giá cả sản phẩm 20 Nhóm: 1.2
- Xem thêm -