Một số giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay

  • Số trang: 116 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH SẺNG VI LAY PHON KẸO PẠ SỢT MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY Chuyên ngành : Chính trị học Mã sè : 60 31 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ MINH QUÂN HÀ NỘI - 2005 MỤC LỤC Tran MỞ ĐẦU g 1 2 Chương 1: PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, TẠO ĐIỀU KIỆN CHO VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở LÀO HIỆN NAY 6 1.1. Phát triển nền kinh tế thị trường, chuẩn bị công nghiệp hóa, hiện đại hóa là yêu cầu và điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào hiện nay 1.2. Tuyên truyền giáo dục ý thức dân chủ, ý thức pháp luật nâng cao 6 dân trí trong nhân dân Chương 2: ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ 22 NƯỚC THEO HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở LÀO HIỆN NAY 33 2.1. Nhận thức về đổi mới và hoàn thiện theo hướngxây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào hiện nay 2.2. Hướng đổi mới tổ chức và hoạt động Nhà nước nhằm xây dựng 33 nhà nước pháp quyền ở Lào hiện nay và những năm tới Chương 3: ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 61 THEO HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở LÀO HIỆN NAY 79 3.1. Đổi mới tư duy về sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước theo hướng Đảng lãnh đạo Nhà nước pháp quyền ở Lào hiện nay 3.2. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào hiện nay KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 79 89 101 103 3 CHDCND: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân : Céng hßa D©n chñ Nh©n d©n CNXH : Chủ nghĩa xã hội : Chñ nghÜa x· héi NDCM : Nhân dân Cách mạng Nxb. : Nhà xuất bản XHCN : Xã hội chủ nghĩa : Nh©n d©n C¸ch m¹ng : Nhµ xuÊt b¶n : X· héi chñ nghÜa 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhà nước pháp quyền - nhà nước xác định pháp luật ở vị trí tối thượng, tổ chức và hoạt động theo pháp luật, sử dụng pháp luật trong quản lý xã hội - như kinh nghiệm lịch sử cho thấy là hình thức tổ chức nhà nước có thể đáp ứng được các yêu cầu phát triển của xã hội. Trong thời đại ngày nay, xây dựng nhà nước pháp quyền đã trở thành một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của các quốc gia, nhất là đối với các nước đang phát triển. Xây dựng nhà nước pháp quyền, một mặt, là xây dựng một nhà nước có khả năng thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của nhân dân cho phát triển đất nước, mặt khác, còn là cơ sở đảm bảo sự ổn định, sự bền vững của bản thân nhà nước. Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (NDCM) xác định phải từng bước đổi mới và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân và vì dân. Bởi vì, đối với nước CHDCND Lào - mét nước còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội còn thấp như hiện nay - thì việc xây một nhà nước pháp quyền càng có ý nghĩa quyết định. Việc đặt vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền theo định hướng XHCN ở Lào hiện nay, một mặt, là đòi hỏi khách quan của việc chuyển sang nền kinh tế thị trường, của quá trình dân chủ hoá xã hội và quá trình hội nhập quốc tế, mặt khác, còn là yêu cầu của việc xây dựng và củng cố chế độ dân chủ nhân dân theo định hướng XHCN. Xây dựng nhà nước pháp quyền dù ở quốc gia nào cũng là một quá trình lịch sử, là kết quả của sự phát triển của sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội. Trong những điều kiện lịch sử nhất đinh, việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở mỗi nước lại lại đòi hỏi những cách làm cụ thể - những giải pháp cụ 2 thể, phù hợp. Xây dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện ở Lào là một công việc lâu dài, phức tạp và hệ trọng, đòi hỏi nhiều giải pháp các yếu tố liên quan đến điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa, tâm lý dân téc, nhu cầu xã hội, quan hệ quốc tế. Việc xác định các giải pháp đòi hỏi phải gắn được lý luận với thực tiễn, các giải pháp được nêu ra cần phải phù hợp với điều kiện trong nước của Lào và xu hướng phát triển của thế giới. Quá trình xây dựng nhà nước hiện nay ở Lào được tiến hành trong giai đoạn đầu của sự nghiệp đổi mới với điều kiện kinh tế - xã hội còn thấp, trình độ dân trí văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ chưa phát triển cao, dân chủ hóa trong xã hội còn hạn chế. Do vậy, trong các phương hướng và giải pháp cần xác định được những mô hình, cách thức tổ chức thích hợp, khả thi và có hiệu quả thiết thực tạo cơ sở vững chắc cho các bước đi trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào. Việc xác định những giải pháp Êy phải dùa trên cơ sở thực tiễn khách quan của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng củng cố bộ máy nhà nước và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng qua từng giai đoạn nhằm đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân các bộ téc Lào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Việc nghiên cứu một cách trực tiếp và có hệ thống về “Một số giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay” là có ý nghĩa thiết thực về lý luận và thực tiễn đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước ở CHDCND Lào. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Quan điểm của Đảng NDCM Lào về đổi mới và hoàn thiện nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền ở CHDCND Lào đã được nêu trong một số văn kiện của Đảng, đã được cụ thể hóa một bước thành Hiến pháp (Hiến pháp 1991, Hiến pháp sửa đổi 2003) và một số đạo luật khác. Theo tinh thần Êy, ở Lào đã có một số công trình khoa học đề cập tới vấn đề 3 xây dựng nhà nước, nhưng chủ yếu mới dừng lại ở vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền như là một tất yếu khách quan của việc đảm bảo quyền lực của nhân dân lao động, củng cố hoàn thiện bộ máy nhà nước nói chung. Cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến các giải pháp cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào. Tuy nhiên, những công trình đã có có thể xem là những cơ sở, những tiền đề có thể kế thừa, khai thác phục vụ đề tài của luận văn này. Có thể xem đề tài về các giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào (đề tài luận văn này) là sự tiếp nối các đề tài, các công trình nghiên cứu đã có về tính tất yếu, những đặc điểm, những yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào. Có thể thấy một số công trình sau đây: 1. Khăm Cải Viêng Xa Văn (1995), Sự kiện lịch sử của việc thành lập Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Tạp chí A Lun May (CHDCND Lào). 2. Phông Xa Vặt Búp Pha (1996), Sự phát triển của Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Tạp chí A Lun May (CHDCND Lào). 3. Chả Lơn Dia Pao Hơ (1995), Sự vững mạnh của quyền lực nhà nước là yếu tố đảm bảo cho nền độc lập chủ quyền quốc gia, Tạp chí Xây dựng Đảng Nhân dân cách mạng Lào. 4. En Sô La Thi (2000), Xây dựng nhà nước đảm bảo quyền lực của nhân dân lao động ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu với những quy mô và cấp độ khác nhau về nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền được thực hiện từ những năm 1991 -1995 và từ 1995 đến nay. Có thể thấy nhiều đề tài lớn đã được thực hiện trong những năm 1991 -1995 như một số đề tài cấp Nhà nước thuộc Chương trình KX. 05, một số đề tài cấp Nhà nước thuộc các Chương trình KX. 08 và KX. 10 cho đến nay. Những kết quả nghiên cứu trên là những cơ sở hết sức quý giúp cho việc thực hiện đề tài của luận văn này. 4 Đăc biệt, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới góc độ của khoa học chính trị, trong đó có Chính trị học. Có thể nêu một số công trình sau đây: 1. Nguyễn Thị Tâm (2002), Đổi mới phương thức lãnh đạo đối với nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 2. Võ Văn Bơ (1999), Xây dựng nhà nước pháp quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp cử nhân chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 3. Phạm Ngọc Hà (2002), Nhà nước pháp quyền với việc thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở Việt Nam hiện nay, Luận án thạc sĩ Chính trị học. 4. Nguyễn Quốc Bảo (2000-2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm phát huy quyền lực chính trị của nhân dân lao động thể hiện trên địa bàn huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Luân văn tốt nghiệp cử nhân chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 5. Nguyễn Cộng Hòa (2002), Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Những công trình nêu trên chủ yếu đề cập tới việc xây dựng nhà nước pháp quyền, thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền nói chung. Chưa có công trình nào đề cập trực tiếp và có hệ thống tới vấn đề những giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền. Có thể nói, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về vấn đề này. 5 Với việc xác định các giải pháp này, luận văn sẽ góp phần làm rõ căn cứ lý luận và thực tiễn cho quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở CHDCND Lào hiện nay và những năm tới. 3. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của luận văn Mục đích trên luận văn là xác định một số giải pháp cần thiết, phù hợp và có tính khả thi cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở ở nước CHDCND Lào hiện nay và những năm tới. Nhiệm vụ của luận văn là lý giải những cơ sở lý luận và thực tiễn của một số giải pháp về: 1) kinh tế; 2) chính trị và 3) xã hội đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở CHDCND Lào. Luận văn giới hạn nghiên cứu ở một số giải pháp chủ yếu về kinh tế, chính trị và xã hội để xây dựng nhà nước pháp quyền ở CHDCND Lào hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng NDCM Lào và của Đảng Cộng sản Việt Nam làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp của chính trị học và xã hội học mácxít, gắn phân tích lý luận với tổng kết thực tiễn. 5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của một số giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền ở CHDCND Lào trên cơ sở tư duy mới về việc phát triển kinh tế thị trường, xây dựng xã hội công dân, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở Lào hiện nay. 6. Ý nghĩa của luận văn Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước CHDCND Lào theo hướng nhà nước pháp quyền. 6 Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, học tập và giảng dạy trong các cơ sở đào tạo về một số nội dung liên quan đối với những giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. 7 Chương 1 PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TẠO ĐIỀU KIỆN CHO VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở LÀO HIỆN NAY 1.1. PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, CHUẨN BỊ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA LÀ YÊU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở LÀO 1.1.1. Về quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa ở Lào hiện nay 1.1.1.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội ở Lào thời kỳ trước đổi mới CHDCND Lào là một nước nhỏ bé nằm trong bán đảo Đông Dương với diện tích 236.800 km 2 có dân số hơn 5 triệu người (thống kê dân số cuối năm 2004), mật độ dân số bình quân 12 người/1km 2. Lào có hơn 49 các bộ téc khác nhau cùng sinh sống và được chia thành ba khối dân téc lớn: dân téc Lào Lum, dân téc Lào Thâng, dân téc Lào Xung. Trong đó dân téc Lào Lum chiếm 60% của dân số các bộ téc Lào. Về tổ chức hành chính của Nhà nước Lào được chia thành bốn cấp: Trung ương, tỉnh, huyện, bản - làng. Về phong tục tập quán các bộ téc Lào phần lớn theo Phật giáo. Về kinh tế nhìn chung Lào là một nước nông nghiệp lạc hậu, một nền kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên. Sản xuất nông nghiệp phân tán, manh mún, nặng tính tự cấp, tự túc. Sản xuất với công cụ phương thức canh tác gồm nhiều loại hình, từ loại sản xuất kiểu xa xưa trước phong kiến cho đến canh tác hiện đại đan xen nhau, nhưng nhìn chung còn rất lạc hậu cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Mức sống của nhân dân các bộ téc còn nghèo nàn. Những đặc điểm đó được thể hiện rõ nét trên các vùng địa bàn miền núi, các tỉnh phía Bắc và phía Đông. Sản xuất và đời sống của nhân dân 8 phần lớn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Các bộ téc miền núi sống du canh, du cư, phá rừng đốt nương làm rẫy, tận hưởng trực tiếp vật phẩm của tự nhiên để duy trì cuộc sống thường ngày của họ. Ở các vùng thung lũng và đồng bằng nhỏ ven các triền sông, suối, nông dân trồng lúa nước một vụ kết hợp với chăn nuôi trong gia đình và đánh bắt hái lượm tự nhiên để sinh sống. Ở các vùng đồng bằng, thành phố, thị xã trục đường giao thông ven các triền sông lớn và sông Mê Kông sản xuất phát triển hơn so với các vùng khác. Nhưng nhìn chung sản xuất nông nghiệp là chính và vẫn giữ phương thức canh tác tiểu nông sản xuất nông nghiệp chủ yếu là dùa vào sức kéo của trâu bò, sức người với các công cụ lao động thô sơ như: cày, cuốc, dao, liềm. Công cụ cơ khí nhỏ chưa được sử dụng phổ biến, việc dùng phân bón, thuốc trừ sâu và kỹ thuật canh tác như thâm canh, tăng vụ còn rất hạn chế, cho nên hiệu quả, năng suất chất lượng lao động sản xuất còn rất thấp kém. Nông sản làm ra chỉ đủ để ăn và tiêu dùng trong cuộc sống hàng ngày. Trong nông nghiệp và nông thôn cũng chưa có phân công chuyên môn hóa rõ rệt, sản xuất của các hộ nông dân là vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi, cho nên hiệu quả năng suất còn thấp. Năng suất lúa nước bình quân đạt: năm 1976 là 1,43 tấn/ha, 1980 là 1,65 tấn/ha, 1985 là 2,11 tấn/ha. Trồng trọt độc canh, trồng lúa nếp là chủ yếu, kỹ thuật canh tác lạc hậu và chỉ làm một vụ, chăn nuôi cũng chỉ là hoạt động mang tính chất kinh tế gia đình chưa thành sản xuất hàng hóa [45, tr.36]. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung khai thác gỗ, lâm sản để tiêu dùng trong cuộc sống và một phần để xuất khẩu. Một số lâm sản có giá trị rất cao và rất quý, nhưng phương thức khai thác còn thô sơ, tùy tiện và coi thường các biện pháp tu bổ tái tạo rừng. Sản xuất tự nhiên dùa vào rừng núi, sông hồ chủ yếu chỉ cung cấp cho tiêu dùng hàng ngày của nhân dân 9 địa phương, chưa tận dụng một cách hợp lý và có hiệu quả những tiềm năng sắn có Êy, chưa được bảo vệ và khai thác đúng mức. Trước ngày giải phóng kinh tế - xã hội của Lào là từng trải qua một thời kỳ có hai vùng kinh tế - xã hội khác nhau: Vùng kinh tế - xã hội mang tính chất dân chủ nhân dân (vùng giải phóng cũ) là nơi căn cứ cách mạng. Đây là vùng có quan hệ mật thiết và được sự giúp đỡ của các nước thuộc phe XHCN trước đây, đặc biệt là Cộng hòa XHCN Việt Nam. Vùng kinh tế - xã hội mang tính chất phụ thuộc vào sự viện trợ của chủ nghĩa thực dân đế quốc, nhất là Mỹ với mục đích chiến tranh xâm lược. Đây là vùng kiểm soát tạm thời của chính quyền ngụy Viêng Chăn. Sau năm 1975 kinh tế - xã hội hai vùng đã thống nhất thành nền kinh tế - xã hội dân chủ nhân dân và đã từng trải qua thời kỳ cơ chế quan liêu bao cấp. Trong thời kỳ này nhà nước ưu tiên bảo hộ kinh tế tập thể và quốc doanh, trên cơ sở những điều kiện, sự viện trợ giúp đỡ của các nước XHCN. Tuy vậy, sau hàng chục năm về cơ bản nền kinh tế Lào vẫn chưa thoát ra khỏi tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc, rất nhỏ bé, phân tán và lạc hậu. Điều đó thể hiện rõ trong cơ cấu kinh tế ngành. Theo những số liệu thống kê gần đây, cơ cấu kinh tế Lào với những ngành chính là [46]: Ngành 1980 1984 1985 1986 Nông nghiệp 83,00 73,00 73,10 73,30 Công nghiệp 6,00 8,60 9,9 10,50 Dịch vô 11,00 17,90 17,00 16,20 Tính theo % Một cơ cấu kinh tế như vậy ảnh hưởng đến sự phát triển đi lên của đất nước. Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm chiến lược của đất nước vẫn là làm thế nào để đưa Lào thoát khỏi nền kinh tế nhỏ bé, phân tán lạc hậu. Phải làm sao 10 xây dựng được cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mới. Trong đó căn bản, trọng tâm nhất là phải xây dùng cho được lực lượng sản xuất mới. Song việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược đó vào cuối những năm 1980 trở đi không còn nằm trong bối cảnh phát triển thuận chiều với những quan hệ kinh tế được triển khai một cách truyền thống theo hướng có sự giúp đỡ một chiều của các nước XHCN phát triển đi trước. Dù còn sơ khai nhỏ bé nhưng nền kinh tế đất nước vẫn phải tự tìm đường tồn tại và phát triển trên cơ sở bình đẳng, hai bên cùng có lợi với các nước XHCN và quan hệ thị trường sòng phẳng với các nền kinh tế khác trên thế giới. Đó là những thách thức rất to lớn và căng thẳng đối với nền kinh tế cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của đất nước Lào. Trước những đòi hỏi gay gắt và nghiêm trọng đó của thực tế lịch sử, Đảng NDCM Lào đã khởi xướng sự nghiệp đổi mới, tiếp nhận xu thÕ đổi mới đúng đắn của một số nước XHCN anh em, đặc biệt là Việt Nam. Đại hội Đảng lần thứ IV (1986) đã khẳng định: "Quyết tâm chuyển nền kinh tế tự nhiên, nửa tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa với một kiểu cơ cấu mới, gắn nông nghiệp, lâm nghiệp với công nghiệp và dịch vụ" [43, tr.25]. 1.1.1.2. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội ở Lào thời kỳ đổi mới Thực hiện đường lối đổi mới trong đó có đổi mới kinh tế mà trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý, sự phát triển của nền kinh tế Lào đã từng bước có những chuyển biến rất quan trọng. Có thể thấy những chuyển biến cơ bản sau đây: + Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ Cơ cấu kinh tế trước năm đổi mới (1985), tiêu biểu là các năm 1980-1984, 1985 và 1986 nông nghiệp chiếm 73-83%, công nghiệp chiếm 6-10%, dịch vụ chiếm 11-17% (như đã thể hiện ở bảng trên). 11 Qua đổi mới cơ cấu kinh tế đã có sự đổi thay đáng kể: về cơ cấu nông nghiệp năm 1995 chiếm 54,3%, 1996 chiếm 52%, 1997 chiếm 51,5% và 1998 chiếm 52,8%. Công nghiệp năm 1995 chiếm 18,8%, 1996 chiếm 20,6%, 1997 chiếm 20,82%, 1998 chiếm 21,73%. Dịch vụ năm 1995 chiếm 27,00%, 1996 chiếm 27,4%, 1997 chiếm 26,96% và 1998 chiếm 26,2% của GDP [47, tr.83]. Với sự chuyển dịch tích cực của cơ cấu kinh tế đó nên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm đã tăng trưởng đáng kể: "Năm 1990 tăng 6,7%, năm 1991 tăng 4,00%, năm 1992 tăng 7,0%, năm 1993 tăng 5,9%, năm 1994 tăng 8,1%, năm 1995 tăng 7,0%, năm 1996 tăng 6,9%, năm 1997 tăng 6,9%, năm 1998 tăng 4,0%” [35, tr.73, 83]. + Chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Trong những năm qua ở Lào đã có chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, mệnh lệnh, hành chính từ trên xuống dưới sang cơ hế thị trường. Nhà nước thực hiện vai trò định hướng và điều tiết vĩ mô, để cho các đơn vị sản xuất kinh doanh là người tự chủ, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy luật cung - cầu, theo yêu cầu của thị trường. Thực tế kinh nghiệm bước đầu ở Lào đã cho thấy phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường vẫn cần phải có kế hoạch, nhất là với những nền kinh tế còn nhỏ bé và nhiều yếu kém. Nhà nước sử dụng kế hoạch làm công cụ định hướng, cần thiết điều tiết sự phát triển của thị trường đúng hướng, có trọng tâm, trọng điểm, tạo ra sức mạnh cần thiết cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo định hướng XHCN. Kế hoạch trong cơ chế mới là kế hoạch được hình thành thông qua những căn cứ của thị trường. Sù thay đổi về cơ chế quản lý kinh tế từ chế độ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, có thể nói, là sự thay đổi căn bản nhất, tạo nền tảng 12 cho những thay đổi về chính trị và xã hội Lào trong những năm qua và hiện nay. Có thể thấy những thay đổi lớn trong cơ chế kinh tế mới như: Một là, để thích ứng với thị trường ở Lào đã từng bước thực hiện trao đổi thông qua giá cả và tỷ giá theo cơ chế thị trường. Nhà nước chỉ quản lý giá cả của những sản phẩm chủ yếu mang tính chiến lược như điện lực, nước sạch, thông tin liên lạc, hàng không. Việc thực hiện chính sách kinh tế mới, những năm vừa qua đã thúc đẩy sản xuất kinh doanh, mở rộng ngành nghề tạo công ăn việc làm cho người lao động, tỷ lệ lạm phát giảm (89% của năm 1989, xuống 10% của những năm 1990-1996). Hai là, đã chuyển đổi hệ thống ngân hàng, từ hệ thống ngân hàng một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp với chức năng nhiệm vụ khác nhau: Ngân hàng Trung ương làm nhiệm vụ quản lý điều tiết tầm vĩ mô về mặt lưu thông tiền tệ; Ngân hàng Thương mại làm nhiệm vụ lưu động tín dụng và cung ứng dịch vụ vốn cho các đơn vị sản xuất kinh doanh. Tách Kho bạc Nhà nước khỏi hệ thống Ngân hàng Quốc gia. Đồng thời đã cho một ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh tại CHDCND Lào, nhằm mở rộng thị trường vốn, tăng đầu tư cho nền kinh tế. Việc thực hiện chính sách trên đã góp phần làm cho kinh tế thị trường ổn định và mở rộng. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống ngân hàng vẫn còn nhiều yếu kém, chưa thực sự trở thành công cụ điều tiết chủ đạo cho nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Điều này thể hiện rõ trong việc đồng Kíp hiện đang ngày càng có nguy cơ tụt xuống làm cho thị trường giá cả biến động liên tiếp. Ba là, hệ thống tài chính nhà nước được chuyển từ hệ thống tài chính dưới hình thức làm nghĩa vụ cho nhà nước của các đơn vị kinh doanh, các hộ gia đình thành hệ thống nép thuế theo pháp luật. Sự thay đổi trên đã góp phần làm cho chính sách tài chính cấp vĩ mô của Nhà nước có 13 hiệu lực và có khả năng huy động nguồn tài chính ngày càng tăng cho ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy việc đầu tư vào sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống tài chính các cấp chưa hẳn là công cụ điều tiết có hiệu quả, nhất là trong nền kinh tế thị trường của một quốc gia kém phát triển. Việc quản lý, sử dụng, kiểm soát ngân sách vốn đầu tư cả trong và ngoài nước chưa chặt chẽ. Hiện tượng bội chi ngân sách vẫn thường xảy ra. Do những yếu kém đó nên chưa phát huy tối đa tiềm lực tài chính của đất nước, cũng như việc thu hót các nguồn tài chính từ bên ngoài. Bốn là, đã cải cách hệ thống quản lý hành chính về kinh tế từ quản lý kinh tế theo sự phân cấp như tỉnh, huyện và Trung ương sang quản lý theo ngành trong hệ thống chiều dọc. Giảm biên chế bộ máy hành chính từ 106.000 người năm 1986 xuống còn 76.000 người năm 1994. + Chuyển từ thừa nhận hai thành phần kinh tế sang thừa nhận nhiều thành phần kinh tế Trước đổi mới nền kinh tế của CHDCND Lào có hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể. Bước vào thời kỳ đổi mới đã có sự điều chỉnh lớn trong quan hệ sản xuất với việc thừa nhận nhiều thành phần kinh tế. Đây là một trong những chính sách cơ bản, trụ cột về phát triển kinh tế. Sự chuyển đổi này từng bước khơi dậy các tiềm năng phát triển của nền kinh tế đất nước. Cùng với việc chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần là việc chuyển các đơn vị kinh tế nhà nước và tập thể hoạt động kém hiệu quả và không mang tính chất chiến lược sang các hình thức sở hữu khác như cho thuê, tư nhân góp vốn cùng kinh doanh hay bán cho tư nhân trong và ngoài nước theo thời gian hợp đồng. Đã có hàng loạt doanh nghiệp nhà nước quy mô vừa và nhỏ thuộc cấp tỉnh, cấp Trung ương đã chuyển sang hình thức trên. Nhà nước chỉ nắm giữ một số đơn vị kinh tế có tính chất chiến lược, có liên 14 quan tới nhu cầu ổn định đời sống của toàn xã hội như điện lực, nước sạch, hàng không, xăng dầu, bưu chính viễn thông v.v.. Ở Lào hiện nay đang tồn tại và phát triển nhiều thành phần kinh tế. Trong đó có cả các thành phần kinh tế có vốn đầu tư 100% vốn nước ngoài và vốn liên doanh trong - ngoài nước. Các đơn vị kinh tế từng bước hoạt động sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường và bình đẳng trước pháp luật. Từng bước phát huy tính chủ động và sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp. + Chuyển từ quan hệ trao đổi hiện vật sang quan hệ trao đổi hàng hóa, tiền tệ Quan hệ hàng hóa tiền tệ là một vấn đề cơ bản của sự chuyển đổi sang hệ thống kinh tế thị trường. Ngay từ khi bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới Nhà nước Lào đã chuyển đổi từ cơ chế chi - trả có tính chất hành chính sang chế độ chi - trả bằng tiền mặt theo quy luật thị trường, mở rộng buôn bán tù do hợp pháp, chuyển từ chế độ tiền lương cung cấp theo phiếu sổ tay sang chế độ lĩnh lương bằng tiền mặt. Chuyển từ hệ thống nhiều tỷ giá trao đổi của nhà nước sang hệ thống giá cả và tỷ giá trao đổi đơn nhất. Xóa bỏ những hàng rào ngăn sông cấm chợ giữa các tỉnh và địa phương với nhau. Trao đổi buôn bán theo cơ chế thị trường được mở rộng giữa thành thị và nông thôn trên cả nước và mở rộng buôn bán qua biên giới. Theo thống kê, năm 1994-1995 giá trị lưu thông hàng hóa cả nước so với năm 1985 tăng 9 lần, riêng năm 1995 khả năng sức mua tăng lên 11,3% so với năm 1994. Việc buôn bán với nước ngoài ngày càng phát triển. Đến nay CHDCND Lào đã có quan hệ buôn bán với hơn 30 nước trên thế giới với tổng giá trị buôn bán năm 1994-1995 đạt đến 759,7 triệu USD so với năm 19931994 tăng 461%, trong đó xuất khẩu đạt 274 triệu USD so với 15 năm 1985 tăng 24,7 lần, nhập khẩu đạt tới 485 triệu USD, so với năm 1985 tăng 24,4 lần [36, tr.59]. + Chuyển sang mở rộng và đa phương hóa các quan hệ kinh tế với nước ngoài Trước khi có những biến động lớn ở Liên Xô và Đông Âu những năm 1990-1991, Lào có quan hệ kinh tế chủ yếu với các nước XHCN. Trong đó, chủ yếu Lào tiếp nhận viện trợ từ các nước XHCN. Hiện nay, một mặt Lào tiếp tục củng cố, mở rộng quan hệ với các nước XHCN anh em truyền thống trong đó có Việt Nam và quan hệ trên tinh thần mới, cơ chế mới. Mặt khác, tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước trong cộng đồng thế giới. Trong điều kiện hiện nay Đảng và Nhà nước Lào đã và đang coi việc mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài theo hướng đa phương hóa như một chiến lược hàng đầu để thu hót vốn đầu tư và công nghệ hiện đại nhằm xây dựng củng cố đất nước. Chính sách này đã là một trong những yếu tố giúp CHDCND Lào vượt qua tình trạng khó khăn về nhiều mặt đặc biệt là về mặt tài chính. Do chính sách mở cửa, tranh thủ sự giúp đỡ hợp tác của các nước, các tổ chức quốc tế, bình quân mỗi năm Lào nhận được khoảng 300 triệu USD dưới hình thức viện trợ không hoàn lại và vay lãi xuất thấp. Đây là nguồn vốn quan trọng hỗ trợ ngân sách quốc gia cũng như việc xây dựng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ năm 1988 trở lại đây nhờ có Luật đầu tư nước ngoài nên tổng giá trị đầu tư nước ngoài vào Lào đã tăng lên. Theo thống kê 1995, Chính phủ Lào đã phê duyệt khoảng 500 dự án với tổng giá trị 5,5 tỷ USD. Phần lớn các dự án đầu tư vào ngành điện lực, khai mỏ và dịch vụ. Năm 1996 đã thu hót được 63 dự án đầu tư của nước ngoài với tổng giá trị 972.185.770 USD, năm 1997 có 62 dự án các loại với tổng số vốn là 113.611.310 USD, năm 1998 thu hót được sự đầu tư của nước ngoài 69 dự án với tổng giá trị là 97.788.160 USD [47, tr.84]. 16 Hơn 10 năm qua, thực hiện chính sách đổi mới kinh tế - xã hội, CHDCND Lào đã thu được những thành tựu bước đầu. Song, cũng còn nhiều tồn tại yếu kém, gặp khó khăn nhiều mặt nhất là hệ thống các thể chế, chính sách, pháp luật và cán bé. + Chuyển sang từng bước chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để nâng cao chất lượng sản xuất thoát khỏi tình trạng phụ thuộc vào tự nhiên, tự cung, tự cấp chúng ta ở Lào đang bắt đầu chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, về cơ cấu giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ qua hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới, kiểu sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc trong nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ hơn 50% GDP. Sản xuất nông nghiệp phần lớn vẫn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nhất là vùng nông thôn xa xôi, hẻo lánh. Chưa tạo được điều kiện, môi trường thuận lợi để giúp đỡ nông dân các vùng này thoát ra khỏi tình cảnh nghèo nàn, lạc hậu. Việc chặt cây phá rừng, đốt nương làm rẫy và hình thức làm ăn sinh sống, theo kiểu tự nhiên, tự cung, tự cấp của đồng bào vẫn tiếp diễn. Qua khảo sát của các tổ chức quốc tế về vấn đề nghèo nàn lạc hậu cho thấy vẫn còn hơn 40% số dân cư trên cả nước đang sinh sống dưới mức nghèo khổ, riêng miền Nam chiếm 60%, đa số gia đình có thu nhập bình quân dưới 100 USD/năm nhiều hộ còn thiếu đói [36, tr.61]. Về sản xuất công nghiệp, tuy tỷ lệ tăng bình quân tương đối cao (12%/năm). Nhưng công nghiệp chưa thực sự có tác dụng thúc đẩy sản xuất nông, lâm nghiệp. Tỷ lệ sản xuất công nghiệp phục vụ nông lâm nghiệp còn rất thấp mới chiếm 0,5% tổng giá trị sản phẩm công nghiệp, sản phẩm tiêu dùng chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của xã hội, hơn 90% hàng 17 tiêu dùng nhất là thực phẩm, phải nhập từ bên ngoài vào. Tổng giá trị xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 60-65% so với tổng giá trị nhập khẩu. Việc sản xuất để bù đắp nhập siêu cũng rất khó khăn, vì không Ýt các doanh nghiệp trong nước bị phá sản, hàng hóa sản xuất ra không có khả năng cạnh tranh với hàng ngoài [36, tr.62-63]. Về du lịch đã có phát triển khá nhanh, nhưng phần lớn là dịch vụ trong thành phố lớn mà chủ yếu lại phục vụ trong sinh hoạt xa xỉ, lãng phí như nhà hàng ăn uống, khách sạn. Ở đây các đồ ăn, thức uống và các thiết bị phục vụ toàn là hàng nhập từ bên ngoài vào. Dịch vụ vẫn trải qua biên giới chưa được củng cố thỏa đáng, hệ thống thương mại, tài chính, ngân hàng chưa thực sự là công cụ điều tiết khuyến khích sản xuất tiêu dùng trong nước, tâm lý thích dùng hàng ngoại, xài tiền ngoại còn phổ biến làm ảnh hưởng đến uy tín giá trị đồng Kíp - nội tệ. Việc thu hót đầu tư nước ngoài dù đạt kết quả tốt trên nhiều lĩnh vực nhưng khâu chuẩn bị điều kiện đón nhận các dự án đầu tư nước ngoài cũng còn hạn chế nhất là thiếu đội ngò cán bộ có kiến thức kinh nghiệm trên lĩnh vực này, thiếu sự chuẩn bị cho việc thống kê, khảo sát cơ bản trước khi đón nhận các dự án. Việc quản lý đầu tư các dự án nước ngoài còn chưa thực hiện tốt. Hệ thống giao thông thông tin liên lạc, giáo dục y tế cơ sở hạ tầng chưa phát triển đầy đủ, thông suốt cũng là trở ngại lớn kìm hãm việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 1.1.2. Một số vấn đề về tiếp tục phát triển kinh tế đáp ứng yêu cầu và tạo điều kiện cho quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Lào hiện nay 1.1.2.1. Tiếp tục nhận thức sâu sắc và thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện cụ thể ở Lào Việc giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho phát triển kinh tế, khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các hình thức sản xuất kinh doanh là một chủ trương, một đường lối có tầm quan
- Xem thêm -