Một số giải pháp rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh lớp 2 qua môn tiếng việt

  • Số trang: 12 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 33 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC A. PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài II. Mục đích, phương pháp nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu 2. Phương pháp nghiên cứu III. Giới hạn của đề tài IV. Kế hoạch thực hiện B. PHẦN NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận II. Cơ sở thực tiễn III. Thực trạng và những mâu thuẫn 1. Thuận lợi 2. Khó khăn IV. Các biện pháp giải quyết vấn đề V. Hiệu quả C. KẾT LUẬN I. Ý nghĩa của đề tài đối với công tác III. Bài học kinh nghiệm9 Trang 1 1 2 2 2 2 2 3 3 4 5 5 5 5 7 9 9 9 II. Khả năng áp dụng TÀI LIỆU THAM KHẢO 11 0 A. PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài Thực hiện Quyết định số 2994/QĐ-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2010 của Bộ giáo dục và Đào tạo triển khai giáo dục kĩ năng sống trong một số môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học; dựa trên cơ sở những định hướng của đợt tập huấn tăng cường giáo dục kĩ năng sống trong các môn học của Bộ cho các cấp học trong hệ thống giáo dục phổ thông. Ở Việt Nam, để thực hiện việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học. Giáo dục phổ thông đã và đang từng bước đổi mới theo hướng từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, phù hợp với từng lớp học, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Qua đó, cho thấy tầm quan trọng và cần thiết của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông nói chung, học sinh tiểu học nói riêng. Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở tiểu học nhằm đạt mục tiêu trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp; tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh sử dụng quyền và bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở tiểu học được tập trung chủ yếu ở 4 môn học: Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học và Tự nhiên xã hội. Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa nội dung giáo dục kĩ năng sống lồng ghép vào các môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không chỉ từ các bài giảng. Thực chất của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là nhằm trang bị cho học sinh các kĩ năng sống cơ bản là: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một nội dung được đông đảo phụ huynh và dư luận quan tâm, bởi đây là một chương trình giáo dục hết sức cần thiết đối với học sinh. Nhiều ý kiến cho rằng, các trường học hiện nay đã quá nặng về dạy kiến thức, ít quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh dẫn đến có một bộ phận học sinh trong các trường thiếu hụt hiểu biết về môi trường xung quanh, ứng xử cần thiết 1 trong cuộc sống. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong hành vi, lối sống đạo đức của nhiều học sinh. Chính sự cần thiết ấy, tôi đã cố gắng thử nghiệm nhiều biện pháp để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh song theo bản thân tôi nhận thấy việc giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh được thể hiện rõ nét nhất trong môn Tiếng Việt. Vì thế tôi đã chọn đề tài “Các biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 qua môn Tiếng Việt ”. II. Mục đích, phương pháp nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu - Giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; Giúp học sinh hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân; có hành vi thói quen ứng xử có văn hóa, hiểu biết và chấp hành pháp luật,… - Giúp học sinh có đủ khả năng tự thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ, độc lập, tự tin khi giải quyết công việc. - Tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản của kĩ năng sống được hình thành qua việc học tập môn tiếng Việt tại lớp 2G trường Tiểu học An Thạnh 1, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. 2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp điều tra. - Phương pháp thống kê. - Phương pháp phỏng vấn. - Phương pháp phân tích tổng hợp. - Phương pháp so sánh. - Phương pháp thực hành. III. Giới hạn của đề tài Tìm hiểu về hình thức giáo dục hình thành kĩ năng sống cho học sinh thông qua lồng ghép nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn tiếng Việt của học sinh lớp 2G trường Tiểu học An Thạnh 1, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. IV. Kế hoạch thực hiện - Chọn đề tài. - Lập đề cương nghiên cứu. - Đọc, thu thập tài liệu viết đề tài. - Thâm nhập thực tế. - Hoàn thành sáng kiến. 2 B. PHẦN NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận Kĩ năng sống thúc đẩy phát triển cá nhân và xã hội, có thể nói kĩ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ. Giáo dục kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Hiện nay việc đưa giáo dục kĩ năng sống vào nhà trường đã được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới. Theo tài liệu của UNICEF, hiện nay có 153 nước đã đưa giáo dục kĩ năng sống vào nhà trường, hơn 140 nước đã thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh với các phương thức khác nhau. Xu hướng hội nhập và phát triển không cho phép giáo dục nước ta giậm chân với những cách làm cũ, lạc hậu và trì trệ. Môn Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi. Kĩ năng đặc thù, thể hiện ưu thế của tiếng Việt là kĩ năng giao tiếp, sau đó là kĩ năng nhận thức, bao gồm nhận thức thế giới xung quanh, tự nhận thức, ra quyết định, … kĩ năng sống có thể hình thành tự nhiên, học được từ những trải nghiệm của cuộc sống và do giáo dục mà có. Không phải đợi đến lúc được học kĩ năng sống một con người mới có những kĩ năng sống đầu tiên. Chính cuộc đời, những trải nghiệm, va vấp, thành công và thất bại giúp con người có được bài học quý giá về kĩ năng sống. Tuy nhiên, nếu được dạy dỗ từ sớm, con người sẽ rút ngắn thời gian học hỏi qua trải nghiệm, sẽ thành công hơn. Kĩ năng sống cần cho suốt cả cuộc đời và luôn luôn được bổ sung, nâng cấp để phù hợp với sự thay đổi của cuộc sống biến động. Người trưởng thành cũng vẫn cần học kĩ năng sống. Ở học sinh bậc tiểu học, để giúp các em có tinh thần tự học, sáng tạo và biết vận dụng linh hoạt những điều đã học vào thực tiễn, trong quá trình dạy người giáo viên phải luôn tìm tòi, sáng tạo ra những phương pháp hay. Chẳng hạn như phương pháp “học mà chơi, chơi mà học”. Giúp các em vui chơi giải trí nhằm thay đổi trạng thái 3 của các em sau những giờ học căng thẳng và để bắt đầu một tiết học mới tốt hơn. Thường xuyên đặt câu hỏi cho các em, tạo điều kiện để các em tham gia hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề nào đó cụ thể,… trên cơ sở nền tảng là kiến thức cơ bản đã được học. Ngày nay, rèn luyện kĩ năng sống cho thế hệ trẻ mà tiêu biểu là các em học sinh là trách nhiệm chung của gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó, người giáo viên giữ vai trò quyết định. Đây cũng là một trong những nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục đã đề ra. II. Cơ sở thực tiễn Học tập là một nhu cầu thường trực của con người trong mọi thời đại. Học tập không chỉ dừng lại ở các tri thức khoa học thuần túy mà còn được hiểu là mọi tri thức về thế giới trong đó có cả những mối quan hệ, cách thức ứng xử với môi trường sống xung quanh. Kĩ năng sống là một trong những vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong quá trình tồn tại và phát triển. Chương trình học hiện nay đang gặp phải nhiều chỉ trích do quá nặng về kiến thức hàn lâm trong khi những tri thức vận dụng cho đời sống hàng ngày bị thiếu vắng. Hơn nữa, người học đang chịu nhiều áp lực về học tập khiến cho không còn nhiều thời gian cho các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội. Điều này đã dẫn đến sự “xung đột” giữa nhận thức, thái độ và hành vi với những vấn đề xảy ra trong cuộc sống. Do vậy, kĩ năng sống với mỗi người sẽ có cách hiểu khác nhau: - Đối với học sinh: kĩ năng sống là một cái gì mơ hồ, không thiết thực, chưa có ý thức trau dồi kĩ năng sống. - Đối với giáo viên: giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là ở phân môn đạo đức, là công việc của người khác, giáo viên chỉ lo trang bị kiến thức cho học sinh. - Đối với phụ huynh: Nhiều phụ huynh cho rằng việc giáo dục con em chủ yếu là ở nhà trường, nhà trường dạy như thế nào thì các em sẽ như thế đó phụ huynh không nhất thiết phải quan tâm nhiều. Thế nhưng giáo dục kĩ năng sống trong trường học là một việc làm cần thiết, không thể thiếu, bên cạnh đó việc khắc sâu và tạo thành kĩ năng thuần thục cho học sinh là việc làm thường xuyên không ai hết chính là những người gần gũi học sinh nhất đó là giáo viên và phụ huynh học sinh. 4 III. Thực trạng và những mâu thuẫn 1. Thuận lợi - Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, tổ khối và các thầy cô trong nhà trường thường xuyên trao đổi phương pháp dạy học qua các tiết dự giờ, thao giảng, hội giảng đã giúp tôi có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy . - Đa số học sinh có điều kiện học tập tốt, được gia đình quan tâm. - Lứa tuổi của các em học mà chơi, chơi mà học nên các em rất dễ thâm nhập tiếp thu các kiến thức một cách năng động và sáng tạo. 2. Khó khăn - Nội dung các bài học vốn đã nhiều, thời lượng lại ít nên khó lồng ghép giáo dục kĩ năng sống vào. - Học sinh cũng chưa có nhận thức đầy đủ và ý thức trau dồi kĩ năng sống, chưa tích cực chủ động tham gia các họat động trải nghiệm để tạo lập, rèn luyện kĩ năng sống. - Một số gia đình học sinh chưa thật sự kết hợp với nhà trường, có thái độ không đúng trong công tác giáo dục học sinh, chưa quan tâm đúng mức đến việc tập của con em mình. - Qua thực tế giảng dạy lớp 2, tôi thấy kĩ năng sống của học sinh chưa cao. Chỉ một số học sinh có hành vi, thói quen, kĩ năng tốt. Còn phần lớn các em có nhận xét đánh giá về sự việc nhưng chưa có thái độ và cách ứng xử, cách xưng hô chuẩn mực. Bảng số liệu các kĩ năng sống của học sinh lớp 2G. Tốt Các kĩ năng sống Số Diễn đạt trước đám đông. Tương trợ nhóm khi làm việc. lượng 9 8 Tỉ lệ 28% 25% Bình thường Số Tỉ lệ lượng 11 34% 12 37,5% Chưa tốt Số lượng 12 12 Tỉ lệ 38% 37,5% IV. Các biện pháp giải quyết vấn đề 1. Nghiên cứu kĩ năng sống cần rèn luyện qua từng bài dạy cho học sinh. Xác định rõ nhiệm vụ của môn học và nhiệm vụ giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong môn học Dạy học sinh học tiếng Việt mà cụ thể là phân môn tập làm văn là giúp cho các em nói viết lưu loát. Học sinh phát triển vốn từ ngữ, bồi dưỡng cảm xúc tình cảm lành 5 mạnh trong sáng, khả năng lựa chọn sắp xếp ý rõ ràng. Rèn khả năng tư duy, trí tưởng tượng phong phú. Qua đó vốn sống của các em được tăng lên giúp các em tự tin, có khả năng ứng xử linh hoạt trong cuộc sống. 2. Nghiên cứu mục tiêu cần đạt của giờ học, chú trọng cung cấp kĩ năng phu hợp với từng nội dung bài dạy cụ thể là việc chuẩn bị giáo án có lồng ghép cẩn thận Khả năng giáo dục kĩ năng sống của môn Tiếng Việt không chỉ thể hiện ở nội dung môn học mà còn thể hiện qua phương pháp giảng dạy của giáo viên. Để hình thành các kiến thức và rèn luyện kĩ năng mà chương trình môn Tiếng Việt đặt ra với học sinh tiểu học, người giáo viên cần vận dụng nhiều phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh,…Thông qua các hoạt động học tập học sinh có cơ hội rèn luyện, thực hành nhiều kĩ năng sống cơ bản, cần thiết. 3. Thực hiện mô hình dạy học có 4 giai đoạn a. Giai đoạn 1: Khám phá Tìm hiểu kĩ năng hiểu biết của học sinh về những việc làm hoặc sự kiện diến ra trong cuộc sống. b. Giai đoạn 2: Kết nối Giới thiệu thông tin kiến thức và kĩ năng mới thông qua việc tạo “cầu nối” liên kết giữa cái đã biết và cái chưa biết. c. Giai đoạn 3: Vận dụng Tạo cơ hội cho người học vận dụng kiến thức rèn kĩ năng mới học vào hoàn cảnh điều kiện có ý nghĩa. d. Giai đoạn 4: Thực hành - Nâng cao mức độ vận dụng kiến thức và kĩ năng. - Điều chỉnh hiểu biết và kĩ năng còn sai lệch. - Luyện tập thực hành kĩ năng. 4. Để làm tốt việc dạy học như đã nêu trên, người giáo viện cần chuẩn bị những công việc sau: a. Chọn những kĩ năng cần thiết phù hợp địa phương: Chọn những kĩ năng phù hợp, gần gũi với học sinh. Các em có khả năng trực tiếp thực hành kĩ năng sau khi tiếp cận. VD: Thực hành kĩ năng: Giao tiếp, ứng xử lịch sự, xưng hô đúng mực trong giao tiếp với bạn. 6 b. Học sinh dự đoán các kĩ năng, yêu cầu của các kĩ năng cần đạt được sau khi học tiết học. c. Gợi ý học sinh nêu các kĩ năng thông qua bài học: Giáo viên cho học sinh nêu các yêu cầu, kĩ năng sau khi đọc trước bài học d. Hướng dẫn học sinh nắm được yêu cầu cần đạt sau bài học. Từ đó xác định các kĩ năng cần đạt: Tạo ra hứng thú, cảm xúc, lưu ý đó phải là cảm xúc riêng, thật, phải có sự liên tưởng từ đó xác định những yêu cầu của kĩ năng cần đạt. e. Giáo viên phải chuẩn bị các câu hỏi gợi ý hướng dẫn học sinh tự xác định các kĩ năng sống cần đạt: VD: Bài yêu cầu gì ? - Theo em cần phải làm gì để đạt được điều đó? - Trọng tâm bài ở chỗ nào? - Em cần có kĩ năng gì để thực hiện các vấn đề đó? - Sau khi học xong bài này em rút ra điều gì? - Em sẽ ứng dụng như thế nào, làm gì trong cuộc sống hàng ngày khi gặp trường hợp như trong bài? 5. Tổ chức cho học sinh thực hành kĩ năng sống vừa được học Tuỳ theo bài, giáo viên tổ chức cho các em hoạt động ngay tại lớp với tình huống tương tự bài học để học sinh tự tìm ra hướng giải quyết vấn đề, sau đó học sinh tự nêu các kĩ năng mà em đã ứng dụng để giải quyết vấn đề đó. Nếu không thể tổ chức thực hành được thì giáo viên hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu các tình huống tương tự mà các em đã gặp ở cuộc sống thường ngày, ghi chép lại và nêu cách giải quyết của bản thân để hôm sau trình bày trước lớp cho các bạn nghe và bổ sung chọn cách giải quyết tốt nhất. V. Hiệu quả Nhờ việc vận dụng các phương pháp như đã trình bày, kết quả giảng dạy giáo dục rèn kĩ năng sống cho học sinh của tôi tốt hơn nhiều. Điều đáng mừng là trong các tiết học này học sinh hào hứng hơn, tích cực hoạt động hơn. Học sinh biết chăm chú lắng nghe, thực hành kĩ năng một cách tương đối chính xác. Mạnh dạn, tự tin trình bày trước lớp. Trong các hoạt động nhóm các em biết tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng hoàn thành công việc được giao. Biết lắng nghe ý kiến và tôn trọng lẫn nhau.. Đăc biệt 7 học sinh tự tin cố gắng vươn lên trong học tập, rất nhiều học sinh tiến bộ. Số học sinh khá, giỏi tăng rõ rệt. Tốt Các kĩ năng sống Diễn đạt trước đám đông. Tương trợ nhóm khi làm việc. Số Tỉ lệ Bình thường Số Tỉ lệ lượng lượng 20 62,5% 10 31,3% 22 68,8% 9 28,1% Chưa tốt Số lượng 2 1 Tỉ lệ 6,2% 3,1% 8 C.KẾT LUẬN I. Ý nghĩa của đề tài đối với công tác “ Các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua môn Tiếng Việt” đã góp phần giúp giáo viên có những định hướng cơ bản, những việc cần phải chuẩn bị để tiết dạy có tích hợp kĩ năng sống diễn ra một cách nhẹ nhàng qua đó giáo dục cho học sinh những kĩ năng sống cơ bản,cần thiết mà không mang tính áp đặt hay hình thức. Học sinh có ý thức hơn trong việc tự trang bị cho mình những kĩ năng sống cơ bản, gần gũi để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi. II. Khả năng áp dụng Đề tài có thể được áp dụng với tất cả các tiết dạy có tích hợp kĩ năng sống ở môn Tiếng Việt lớp 2. III. Bài học kinh nghiệm Qua việc nghiên cứu đề tài, tôi việc giáo dục và rèn kĩ năng sống cho học sinh tiểu học là một việc làm rất khó. Tuy vậy, tôi cũng tự rút ra cho mình bài học kinh nghiệm. Giáo viên cần nắm được phương pháp đặc trưng việc giáo dục và rèn kĩ năng sống cho học sinh, biết lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp, kết hợp hình thức dạy học hợp lý nhằm phát huy tính chủ động của học sinh sẽ giúp các em phát huy cao độ trí tuệ, cảm xúc, năng động, sáng tạo trong học tập và giao tiếp. Tôi thấy đây cũng là cơ sở bước đầu khẳng định rằng: Để tổ chức giờ học dạy lồng ghép giáo dục và rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 2, đòi hỏi người giáo viên phải vận dụng tri thức, kĩ năng nghiệp vụ sư phạm một cách hợp lý. Đồng thời đưa ra áp dụng là hoàn toàn có cơ sở khoa học và phù hợp với thực tế giảng dạy hiện nay. Một trong những yêu cầu quan trọng để thực hiện việc lồng ghép giáo dục kĩ năng vào bài học trên lớp là giáo viên phải tìm ra được mối liên hệ giữa các kỹ thuật dạy học với nội dung rèn luyện kĩ năng sống. Chẳng hạn, với học sinh tiểu học, để hình thành nhóm kĩ năng nhận thức bao gồm: nhận thức bản thân, xây dựng kế hoạch, xác định điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, khắc phục khó khăn để đạt mục tiêu, tư duy tích cực và tư duy sáng tạo,… giáo viên cần sáng tạo rất nhiều tình huống trong bài học để học sinh qua đó tự hình thành các kĩ năng này. Để làm tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi ở giáo viên một tinh thần trách nhiệm và khả năng sáng tạo rất cao. 9 Giáo dục kĩ năng sống chỉ thật sự có hiệu quả khi người thầy có tâm huyết, sự kiên nhẫn và nhất là phải có thời gian. Giáo dục kĩ năng sống không phải chỉ là công việc của giáo viên, nhà trường mà của cả xã hội, cộng đồng. “Phải kết hợp cả gia đình, nhà trường và xã hội mới mong đào tạo được những học sinh phát triển toàn diện”. Nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông trong các nhà trường chính là các thầy cô giáo. Đối với cộng đồng thì đó là các bậc phụ huynh, ông bà, họ hàng thân thích, những người lớn tuổi,… Trên đây là những suy nghĩ và kinh nghiệm của bản thân về việc rèn kĩ năng sống cho học sinh qua môn Tiếng Việt. Chắc chắn đây chưa phải là giải pháp hay nhất nhưng nó sẽ giúp cho giáo viên một số kinh nghiệm để giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT CỦA TRƯỜNG An Thạnh, ngày 15 tháng 04 năm 2012 Xếp loại:…………….. Người viết CTHĐ 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở Tiểu học lớp 2 – Tài liệu dành cho giáo viên (NXB giáo dục Việt Nam). 2. Sách giáo viên tiếng Việt lớp 2 – tập 1, 2 (NXB giáo dục Việt Nam). 3. Sách giáo khoa tiếng Việt lớp 2 (NXB giáo dục). 4. Quyết định số 2994/QĐ-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 11
- Xem thêm -