Một số giải pháp quản lý tổ chuyên môn ở các trường trung học phổ thông huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa

  • Số trang: 125 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27670 tài liệu

Mô tả:

B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN MẠNH CƯỜNG MỌT SÓ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TỐ CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỐ THÔNG HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HOÁ LUẬN VÃN THẠC Sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHẸ A N - 2 0 1 3 B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯ ỜNG Đ Ạ I H Ọ C VINH NGUYỄN MẠNH CƯỜNG MỘT SÓ GIẢI PHÁP QUẢN LỶ TỎ CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỎ THÔNG HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HOÁ CHUYÊN NGÀNH: ỌƯẢN LÝ GIÁO DỤC MÃ SÓ: 60.14.05 LUẬN VĂN THẠC S ĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dân khoa học: PGS. TS. NGUYỄN BÁ MINH NGHỆ AN, 2013 LỜI CẢM ƠN Bằng tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Khoa Giáo dục học - Trường Đại học Vinh, các Thầy giáo, Cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khoá học. Tôi trân trọng cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Bá Minh, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu và làm luận văn. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các đồng chí: Ban Giám đốc và các phòng ban chuyên môn Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hoá; Huyện uỷ, HĐND, ƯBND huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Quan Sơn, Ban Giám hiệu, tổ trưởng, tổ phó, nhóm trưởng chuyên môn và giáo viên bộ môn của các trường THPT huyện Quan Sơn; cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu, động viên, khích lệ và giúp đỡ về mọi mặt trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn. Vì điều kiện thời gian, phạm vi nghiên cứu và năng lực có hạn, chắc chắn luận văn tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót. Rất có thể đó sẽ là hướng nghiên cứu phát triển trong thời gian tới của bản thân. Kính mong quý Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp hết sức thông cảm, giúp đỡ và chỉ dẫn thêm cho tôi để luận văn trở nên hoàn thiện hơn nữa, đóng góp một phần vào lý luận và thực tiễn công tác quản lý giáo dục. Nghệ An, tháng 10 nãm 2013 Tác giả Nguyễn Mạnh Cường MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu 2 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2 4. Giả thuyết khoa học 2 5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2 6. Phương pháp nghiên cứu 2 7. Đóng góp của luận văn 8. Cấu trúc luận văn Chương 1: C ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ TỔ CHUYÊN MÔN Ở 3 3 4 TRƯỜNG THPT 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4 1.2. Một số khái niệm cơ bản 6 1.2.1. Trường trung học phổ thông 7 1.2.2. Tổ chuyên môn 8 1.2.3. Chất lượng 9 1.2.4. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 12 1.2.5. Giải pháp và giải pháp quản lý 15 1.3. Tổ chuyên môn ở trường THPT 17 1.3.1. Vị trí, vai trò của tổ chuyên môn ở trường THPT 17 1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chuyên môn ở trường THPT 17 1.3.3. Nội dung hoạt động của tổ chuyên môn ờ trường THPT 18 1.4. Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THPT 21 1.4.1. Nguyên tắc quản lý hoạt động tổ chuyên môn 21 1.4.2. Nội dung quản lý hoạt động tổ chuyên môn 23 1.4.3. Đánh giá hoạt động tổ chuyên môn 24 1.4.4. Người tổ trưởng chuyên môn ở trường THPT 25 1.4.5. Hiệu trưởng quản lý tổ chuyên môn ở trường THPT 28 1.4.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn ở trường THPT Tiểu kết chương 1 Chương 2: C ơ SỞ THựC TIỄN CỦA QUẢN LÝ TỔ CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HOÁ 2.1. Khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Quan Sơn, tỉnh 32 34 35 35 Thanh Hóa 2.2. Thực trạng giáo dục THPT huyện Quan Son 2.3. Thực trạng hoạt động của các tổ chuyên môn ớ các trường THPT huyện Quan Sơn 2.3.1. Thực trạng cơ cấu tổ chức các tổ chuyên môn 2.3.2. Thực trạng nhận thức của CBQL và GV về vai trò của tổ chuyên 40 53 53 54 môn trong nhà trường 2.3.3. Thực trạng đáp ứng những yêu cầu hoạt động của tổ chuyên môn 56 2.3.4. Thực trạng đội ngũ tổ trưởng chuyên môn 57 2.3.5. Thực trạng tập thể sư phạm - tổ chuyên môn 58 2.4. Thực trạng công tác quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Quan Sơn 2.4.1. Các biện pháp quản lý tổ chuvên môn đã và đang sử dụng 2.4.2. Những ưu điểm và hạn chế trong công tác quản lý tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Quan Sơn 59 59 67 Tiểu kết chương 2 68 Chương 3: MỘT SÓ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TỔ CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HOÁ 71 3.1. Nguyên tắc đề xuất các giải pháp quản lý 71 3.2. Một số giải pháp quản lý tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá 72 3.2.1. Nâng cao nhận thức của CBQL đối với vai trò, vị trí và tầm quan trọng của tổ chuyên môn trong nhà trường THPT 3.2.2. Chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn 72 75 3.2.3. Lựa chọn và bồi dưỡng tổ trưởng, tổ phó chuyên môn 80 3.2.4. Tăng cường quyền tự chủ và tính năng động của TTCM 85 3.2.5. Quan tâm và đáp ứng các điều kiện hoạt động của tổ chuyên môn 90 3.2.6. Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá và thi đua khen thưởng đối với tổ chuyên môn 93 3.2.7. Thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với tổ chuyên môn, tổ 96 trưởng và tổ phó chuyên môn 3.2.8. Đẩy mạnh hoạt động phối kết họp giữa tổ chuyên môn với các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường 3.3. Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất 98 100 Tiểu kết chương 3 104 KÉT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1 PHỤ LỤC 2 BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ MÉT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN Ký hiệu, chữ viết tắt CBQL CM CMHS CNH-HĐH CQG ĐTB GD&ĐT GDTHPT GV HS HSG HT KH NTCM PHT QG QL QLGD SKKN TCM THPT TPCM TTCM XHCN Được hỉêu là Cán bộ quản lý Chuyên môn Cha mẹ học sinh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Chuân Quôc gia Đi êm trung bình Giáo dục và Đào tạo Giáo dục trung học phổ thong Giáo viên Học sinh Học sinh giỏi Hiệu trưởng Kê hoạch Nhóm trưởng chuyên môn Phó Hiệu trưởng Quôc gia Quản lý Quản lý giáo dục Sáng kiên kinh nghiệm Tô chuyên môn Trung học phô thông Tô phó chuyên môn Tô trưởng chuyên môn Xã hội chủ nghĩa 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Dân tộc ta đang vững bước tiến vào thế kv XXI, từng bước thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàn diện, CNH-HĐH đất nước, trong đó GD&ĐT có vai trò đặc biệt quan trọng. Nghị quyết TW 2 khoá VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “ Muốn tiến hành CNH-HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh GD&ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu to cơ bản của sự phát tĩiển nhanh và bền vững... để thực hiện mục tiêu dần giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh - phát triển nguồn lực con người là phát triển đức tài” [11, 19]. Nghị quyết Hội nghị còn khẳng định rõ nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của GD là nhằm: “xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH... là những người kế thừa xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên “GD là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD là đầu tư cho sự phát triển ” [11, 29]. Đe phát triển sự nghiệp GD&ĐT thì cần phải bắt đau từ những bậc học đau tiên, trong đó giáo dục trung học phổ thông giữ vị trí vô cùng quan trọng. Nâng cao chất lượng giáo dục trung học phổ thông là tạo ra nền tảng vững chắc cho việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng và chuyên nghiệp. - Hoạt động chủ yếu trong nhà trường là hoạt động CM. Các TCM (còn gọi là tổ bộ môn) là tổ chức quan trọng và nòng cốt trong nhà trường phổ thông. Hoạt động của tổ chuyên môn trong nhà trường là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng dạy học. Do đó, sự quản lý có hiệu quả của hiệu trưởng đối với tổ chuyên môn là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. - Trong những năm qua, giáo dục bậc THPT huyện Quan Son, tỉnh Thanh Hoá luôn có những bước phát triển khá vững chắc, đóng góp quan trọng vào việc thúc đay sự nghiệp giáo dục tỉnh Thanh Hoá phát triển. Tuy nhiên, chất lượng dạy học vẫn còn chưa cao, chưa đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới. Thực tế cho thấy công tác QL hoạt động củaTCM còn nhiều vướng mắc, bất cập, chưa thống nhất và có sự không đồng đều giữa các nhà trường và giữa các HT trường THPT trên địa bàn. 2 Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “M ột số giải pháp quản lý tổ chuyên môn ở các ừưòng THPT huyện Ọuan Son, tỉnh Thanh Hoá ” làm đề tài nghiên cứu. 2. Mục đích nghiên CÚ11. Đe xuất một số giải pháp quản lý tổ chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá 3. Khách thể và đối tượng nghiên cún. 3.1. Khách thế nghiên cứu Công tác quản lý tổ chuyên môn ở các trường THPT. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Giải pháp quản lý tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá. 4. Giả thuyết khoa học. Neu đề xuất và thực hiện được những giải pháp có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi, thì sẽ nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn ở trường THPT. 5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cửu. 5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý tổ chuyên môn ở các trường THPT. - Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của QL TCM ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá: tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của TCM và việc QL hoạt động của TCM ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá. - Đe xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá. 5.2. Phạm vi nghiên cừu Một số giải pháp quản lý tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá. 6. Phương pháp nghiên cứu. 3 * Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận. Phân tích, so sánh và tổng hợp các tài liệu khoa học (giáo dục học và quản lý giáo dục) và các văn kiện của Đảng, của nhà nước liên quan để giải quyết trên phương diện lý luận những vấn đề của đề tài. * Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn. + Phương pháp điều tra bằng phiếu: Xây dựng bảng hỏi cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên trường THPT. + Phương pháp phỏng vấn. Trao đổi phỏng vấn CBQL của Sở Giáo dục và Đào tạo và CBQL của trường THPT. + Phương pháp quan sát. * Phương pháp thống kê toán học: Thông qua việc lập biểu, bảng thể hiện các số liệu về trường, lớp, TCM, HT, hệ thống năng lực của HT và áp dụng thống kê toán học để tính tỷ lệ phần trăm. 7. Đóng góp của luận văn. - Phân tích làm rõ cơ sở lý luận của một số giải pháp quản lý tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá. - Điều tra, khảo sát thực trạng của công tác quản lý tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá. - Đe xuất và khảo nghiệm một số giải pháp quản lý tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá. 8. Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu và Ket luận, luận văn sẽ được ừiển khai thành ba chương. Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lý tổ chuyên môn ở trường THPT. Chương 2: Cơ sở thực tiễn của quản lý tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Chương 3: Một số giải pháp quản lý tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá. 4 Chương 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ TỎ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỐ THÔNG 1.1. Lịch sử nghiên cún vấn đề Trong công tác QLGD ở trường THPT, việc nâng cao chất lượng của TCM là một trong những khâu hết sức quan trọng. Thực tế cho thấy, ở đâu người lãnh đạo quan tâm đến chất lượng của việc dạy học, ở đó, chất lượng của TCM được chú ý đúng mức; và ngược lại, ở đâu TCM được đánh giá đúng chất lượng, thì ở đó, chất lượng dạy học được nâng cao rõ rệt. Bộ GD&ĐT đã quán triệt sâu rộng vấn để này trong các văn bản pháp quy. TCM là một bộ phận cấu thành trong bộ máy tổ chức, quản lí của nhà trường. Trong trường, các TCM có quan hệ với nhau, phối hợp với các tổ chức và đoàn thể nhằm thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ năm học, chương trình giáo dục, hoạt động giáo dục, chiến lược phát triển của nhà trường và các hoạt động khác hướng tới mục tiêu giáo dục. Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), nêu rõ: “Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng, giáo viên, viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục, cán bộ làm công tác tư vấn cho học sinh của trường trung học được tổ chức thành tổ chuyên môn theo môn học, nhóm môn học hoặc nhóm các hoạt động ở từng cấp học THCS, THPT. Mỗi tổ chuyên môn có tổ trưởng, từ 1 đến 2 tổ phó chịu sự quản lý chỉ đạo của Hiệu trưởng, do Hiệu trưởng bổ nhiệm ữên cơ sở giới thiệu của TCM và giao nhiệm vụ vào đầu năm học. - Tổ chuyên môn có những nhiệm vụ sau: + Xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường; 5 + Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ; tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học và các quy định khác hiện hành; + Giới thiệu tổ trưởng, tổ phó; + Đe xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên. - Tổ chuvên môn sinh hoạt hai tuần một lần và có thể họp đột xuất theo yêu cầu công việc hay khi Hiệu trưởng yêu cầu”. Vấn đề chất lượng của tổ chuyên môn đã được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu Giáo dục học. Trong cuốn Phương pháp dạy học tmyển thong và đồi mói, tác giả Thái Duy Tuyên nêu quan điểm: trọng tâm của quản lí phương pháp dạy học là quản lí hoạt động giảng dạy của giáo viên, quản lí hoạt động học tập của học sinh, và phải chú trọng quản lí chất lượng của tổ chuyên môn [36, 586]. Nghiên cứu sâu về vai trò, hoạt động đặc thù của TCM, tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng: “tổ chuyên môn là tế bào cơ bản, giữ vị trí quan trọng nhất trong việc triển khai công tác quản lí đổi mới phương pháp dạy học; là đầu mối để thực hiện các quyết định, các chủ trương của hiệu trưởng; là nơi tổ chức học tập, ứng dụng, thể nghiệm những phương pháp dạy học mới” [36, 586]. Ông cũng đề xuất giải pháp: “Đe quản lí hoạt động của tổ chuyên môn, trước hết cần cụ thể hóa các chủ trương về đổi mới phương pháp dạy học của các cấp quản lí thành qui định nội bộ để tổ chức thực hiện. Hiệu trưởng cần giao trách nhiệm cho Hiệu phó hoặc trực tiếp hướng dẫn tổ trưởng chuyên môn xây dựng kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học cho từng năm học... Đặc biệt, cần đổi mới nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn, phải chú trọng bồi dưỡng cho giáo viên những vấn đề cụ thể của từng môn học. Đồng thời, hiệu trưởng phải kiểm ừa tất cả các khâu, từ xây dựng kế hoạch đến tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch và tự kiểm tra, đánh giá của tổ” [36, 586]. về vấn đề quản lí chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn, Thái Duy Tuyên nêu một số biện pháp cụ thể: lập kế hoạch, xây dựng qui định nội bộ về hoạt động của TCM nham đối mới phương pháp dạy học; tố chức, chỉ đạo đoi mới hoạt động của tố; đối mới các kiểm tra, đánh giá; tạo động lực cho hoạt động của tổ. 6 vấn đề nhà nghiên cứu Thái Duy Tuyên quan tâm là vai trò của TCM trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Tuy đó chưa phải là tất cả, nhưng từ khâu then chốt ấy, ta có thể nhận thức được tầm quan trọng của tổ chuyên môn trong các hoạt động giáo dục của nhà trường. Gần đây, một số học viên cao học chuyên ngành QLGD đã chọn các vấn đề ít nhiều liên quan đến việc quản lí hoạt động của tổ chuyên môn trong trường phổ thông để làm luận văn thạc sĩ. Đó là công trình của Nguyễn Văn Hai với đề tài Nghiên cứu các giải pháp tăng cường quản lí hoạt động dạy học ở các ừưòng trung học phổ thông huyện Hoóc Môn thành phổ Hồ Chí Minh (2005); luận văn của Lê Thanh Tuấn: Nghiên cứu một số biện pháp tăng cưòng quản lí hoạt động dạy học của hiện trưởng các tmòng trung học phố thông huyện Khoái Châu —Hưng Yên (2008); luận văn của Nguyễn Văn Thứ: Các giải pháp nâng cao chất lưọng tổ chuyên môn các trưởng Tiểu học của huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa (2009); luận văn của Trần Trọng Thức: M ột sổ giải pháp nâng cao chất lượng quản lí dạy học ở các trường Tning học pho thông huyện Vũ Onang, tỉnh Hà Tĩnh (2009); luận văn của Lê Đại Hành: M ột so biện pháp quản lí hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường tiểu học thành pho Thanh Hóa (2010)... Nhìn chung, các công trình nêu trên đã tổng hợp những luận điểm cơ bản về lí luận giáo dục liên quan đến công việc dạy học của giáo viên trong mối quan hệ với tổ chuyên môn; đã khảo sát công tác quản lí của HT, ban giám hiệu đối với TCM trong trường tiểu học hoặc trường THPT ở các địa phương cụ thể; đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của TCM. Những công trình ấy đã phần nào gợi mở cho chúng tôi, giúp chúng tôi có định hướng rõ nét hơn khi triển khai đề tài nghiên cứu của mình. Mặt khác, tìm hiểu các công trình nghiên cứu và luận văn của những người đi trước, chúng tôi ý thức được đầy đủ hơn phạm vi công việc cần tiến hành đối với một đề tài còn có những điểm mới, chưa được giải quyết, cụ thể là thực tiễn công tác quản lý TCM và chất lượng của TCM các trường THPT trên địa bàn huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa. 1.2. Một số khái niệm cơ bản 7 1.2.1. Trường trung học phố thông Từ điến tiếng Việt định nghĩa: “Trung học phổ thông là cấp học cao nhất trong bậc trung học, từ lớp 10 đến lóp 12” [37, tr. 1049]. Theo Từ điển Giáo dục học, "Trường trung học phổ thông là cơ sở giáo dục phổ thông tiếp nối cấp trung học cơ sở và kết thúc bậc trung học, gồm 3 lớp 10, 11, 12. Trường trung học phổ thông được tổ chức và hoạt động theo qui định của Luật Giáo dục và Điều lệ nhà trường. Trường trung học phổ thông do chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể. Học sinh học hết chương trình trung học phổ thông thi tốt nghiệp đạt yêu cầu thì được Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông" [38, tr.446 - 447]. Gắn với khái niệm trường trung học phố thông là những qui định về kiến thức, kĩ năng của bậc học này. Trình độ bậc trung học phổ thông là "trình độ học vấn phổ thông thuộc bậc giáo dục trung học cấp cuối cùng được thực hiện trong ba năm học, từ lóp 10 đến lớp 12, đối với học sinh có tuổi từ 15 trở lên. Học vấn của trung học phổ thông gồm có những kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và được nâng cao ở một số môn học cần năng khiếu, đồng thời có những hiểu biết về hướng nghiệp. Người thi đạt trình độ trung học phổ thông được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” [38, tr.431]. Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), khẳng định rõ: Trường THPT là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng. Trường THPT được đặt dưới sự quản lí của Sở Giáo dục và Đào tạo. Trường THPT có các tổ chức hoạt động không ngoài mục đích của công việc giáo dục. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường lãnh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Các đoàn thể, tổ chức xă hội trong nhà trường hoạt động theo qui định của pháp luật và giúp nhà trường thực hiện mục tiêu, nguyên lí giáo dục. Đội ngũ giáo viên trong trường chia thành các tổ chuyên môn, có tổ trưởng, tổ phó, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của HT. Mỗi trường trung học có một tổ Văn phòng, gồm viên chức làm công tác văn thư, kế toán, thủ quỹ, y tế và các nhân viên khác. Một trong những tổ chức có vai trò quan trọng trong trường THPT là Hội đồng trường. Hội đồng trường đối với trường trung học công lập là tổ chức chịu trách nhiệm quyết định về phương hướng hoạt động của nhà trường, huy động và giám sát việc sử dụng các nguồn lực dành cho nhà trường, gắn nhà trường với cộng đồng và xã hội, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục. Ngoài ra, trường THPT còn có Hội đồng thi đua khen thưởng, Hội đồng kỉ luật giáo viên, nhân viên và học sinh, Hội đồng tư vấn theo yêu cầu của từng công việc ở những giai đoạn cụ thể. Nhiệm vụ, thành phần và thời gian hoạt động của các hội đồng do HT quyết định. 1.2.2. Tổ chuyên môn Trong cơ cấu tổ chức của trường THPT, tổ chuyên môn (có tài liệu dùng khái niệm tô bộ môn) được xem như là đơn vị sản xuất trực tiếp. Việc lên lớp giảng dạy và các hoạt động giáo dục khác là công việc của từng giáo viên, nhưng mỗi giáo viên không thể hoạt động biệt lập. Mỗi bộ môn trong trường học không phải do một mà là do một số giáo viên đảm nhận, số lượng ít nhiều tùy qui mô của trường, tùy đặc thù môn học. Nhưng dù ít hay nhiều, khi đã có từ hai người trở lên cùng làm một công việc giống nhau, về nguyên tắc, họ phải được tổ chức thành nhóm. Điều 16 của Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), nêu: “Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng, giáo viên, viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục, cán bộ làm công tác tư vấn cho học sinh của trường trung học được tố chức thành to chuyên môn theo môn học, nhóm môn học hoặc nhóm các hoạt động ở từng cấp học THCS, THPT. Mỗi tổ chuvên môn có tổ trưởng, từ 1 9 đến 2 tổ phó chịu sự quản lý chỉ đạo của Hiệu trướng, do Hiệu trưởng bổ nhiệm trên cơ sở giới thiệu của tổ chuyên môn và giao nhiệm vụ vào đầu năm học”. - TCM là một bộ phận của nhà trường, gồm một nhóm giáo viên (từ 3 người trở lên) cùng giảng dạy về một môn học hay một nhóm môn học hay một nhóm viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục, tư vấn học đường.. .được tổ chức lại để cùng nhau thực hiện các nhiệm vụ theo qui định tại khoản 2 điều 16 của Điều lệ nhà trường. - Mỗi TCM có tổ trưởng và từ 1-2 tổ phó do hiệu trưởng bổ nhiệm vào đầu năm học. - Trong trường trung học có 2 loại TCM phổ biến: Tổ đon môn và tổ liên môn. Đối với những trường THPT có qui mô lớn thì có tổ đơn môn (tổ Toán, tổ Lý, tổ Văn,...), những trường qui mô nhỏ và ở cấp THCS thường có tổ liên môn (tổ khoa học tự nhiên, tổ khoa học xã hội, hay tổ Toán - Lý, Tổ Hóa - Sinh, Tổ văn sử...). Nhiều khi trong một trường cũng có cả hai loại TCM môn này. Đối với tổ liên môn, trong sinh hoạt chuyên môn đôi khi lại được tách thành các nhóm chuyên môn để sinh hoạt theo điều kiện thực tế và yêu cầu triển khai nhiệm vụ. 1.2.3. Chất lượng Theo Từ điển tiếng Việt, chất lượng là "cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc" [37, tr. 144]. Trong công trình Triết học giáo dục Việt Nam [35, tr. 150-151], Thái Duy Tuyên cho rằng: "chất lượng là một khái niệm trừu tượng, khó, và hiện có nhiều cách định nghĩa khác nhau". Thực tế, chất lượng là vấn đề tương đối phức tạp, sở dĩ được lí giải nhiều cách khác nhau là bởi tồn tại nhiều góc nhìn và quan niệm không thống nhất. Ta có thể gặp một số định nghĩa về chất lượng: "Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cần của người tiêu dùng" (European Organization for Quality Control); "Chat lượng là sự phù hợp với yêu cần" (Philip B. Crosby); "Chat lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thế tạo cho thực thế đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nên ra và nhn cầu tiềm ấn" (ISO 8402)... Những cách lí giải trên 10 đây phù hợp với vấn đề chất lượng sản phẩm cũng như chất lượng của công việc. Từ các quan điểm, góc nhìn khác nhau ấy, có thể đưa ra một cách hiểu tổng quát: chất lượng là sự phù họp với yêu cầu. Sự phù hợp này phải được thể hiện trên cả 3 phương diện, người ta tóm tắt là 3P, cụ thể: (1) Performance hay Perfectibility: hiệu năng, khả năng hoàn thiện; (2) Price: thoả mãn nhu cần; (3) Punctuallity: đủng thời điểm. Thông thường, để đánh giá chất lượng của sản phẩm hoặc chất lượng của hoạt động, người ta thường dùng các khái niệm: tot, cao, trung bình, thấp, kém... Ví dụ: "Gạo của ta xuất khẩu ra nước ngoài tuy chất lượng tốt nhưng giá cả chưa tương xứng"\ "Do bị bớt xẻn vật liệu nên công tỉinh xây dựng này chất lượng kém, không đạt yên cần"; "Hiện nay hoạt động nghiên cứu khoa học của các Viện nghiên cứu, các trường đại học ở nước ta chất ỉtrợng chưa cao, chưa sánh được với khu vực và thế giới" ... Mục đích phấn đau của các đơn vị sản xuất, các tổ chức, trường học các cấp là phải đưa ra những sản phẩm được đánh giá cao về mặt chất lượng. Trong nền giáo dục nước ta hiện nay, vấn đề chất lượng giáo dục thường xuyên được nói đến trong các văn bản được ban hành, trong các họi nghị hội thảo khoa học, trong các báo cáo thanh tra, kiểm tra hoặc báo cáo tổng kết, đánh giá, thi đua. Chất lượng giáo dục của một trường, một địa phương cũng như trong phạm vi cả nước thường đánh giá: chất lượng tot, chất lượng khá, có chất lượng, không đảm bảo chất lượng..., tức là chất lượng phải được biểu hiện ở những mức độ cụ thể, không có vấn đề chất lượng trừu tượng, chung chung. Hiện nay, trong các ấn bản của ngành giáo dục, luận điểm "chất lượng là sự đáp ứng mục tiêu" được nhiều nhà quản lí, nhà giáo dục Việt Nam đồng tình. Tuy nhiên, mục tiêu mà giáo dục vươn lên để đáp ứng phải "phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội" [35,9]. Khái niệm chất lượng có quan hệ liên đới với khái niệm hiện quả. Hiệu quả vốn là khái niệm dùng trong lĩnh vực kinh tế, "biếu thị lượng thời gian chi phí cho một đơn vị sản phẩm hay số lượng sản phẩm được sản xuất trong một đơn vị thời 11 gian" [35, 153]. Dần dần, khái niệm hiệu quả được mở rộng nội hàm và được sử dụng rộng rãi trong nhiều hoạt động của con người. Thực tế, có khi sản phẩm có chất lượng tốt nhưng chưa chắc đã có hiệu quả kinh tế. Đó là những sản phẩm đạt các yêu cầu cao về kĩ thuật, sử dụng rất bền, nhưng tiêu tốn quá nhiều thời gian cho một đơn vị sản phẩm (chẳng hạn những sản phẩm thủ công làm bằng tay). Tuy nhiên, trong cách đánh giá phổ biến, khái niệm chất lượng và khái niệm hiệu quả thường gắn liền nhau. Cái tốt (chất lượng) chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó đi kèm theo số lượng (nhiều), sản xuất nhanh (thời gian) và giá thành rẻ (kinh tế). Nhanh, nhiều, tốt, rẻ gắn với nhau biểu thị hiệu quả trong sản xuất và lao động nói chung. Khảo sát chất lượng giáo dục cần tính đến nhiều tính chất của nó. Chung qui, đó là những tính chất: - Chất lượng giáo dục là một phạm trù lịch sử, nghĩa là nó không phải "dĩ thành bất biến" mà thay đổi theo thời gian, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống ở những thời kì cụ thể. Chẳng hạn, ở nước ta, không thể đem chuẩn chất lượng giáo dục thời chống Pháp, thời chống Mĩ và thời trước đổi mới để đảnh giá chất lượng giáo dục thời đổi mới, thời hội nhập, toàn cầu hoá. - Chat lượng giáo dục là một phạm tríi dân tộc, nghĩa là nó chịu sự chi phối của truyền thống lịch sử, văn hoá, điều kiện kinh tế - xã hội của một quốc gia. Chất lượng giáo dục của Việt Nam có những "thước đo" riêng so với chất lượng giáo dục Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kì, Na Uy, Phần Lan... - Chat lượng giáo dục là một phạm trìi quốc tế. Trong thời đại ngày nay, khi nhu cầu hội nhập trở thành điều kiện sống còn của mỗi quốc gia, vấn đề toàn cầu hoá là một đòi hỏi tất yếu, giáo dục của một đất nước cũng không thể khép kín trong phạm vi lãnh thổ của mình. Một khi thế giới đã là "thế giới phang", công dân một quốc gia cũng có thể là "công dân địa cầu" thì chất lượng giáo dục tất yếu phải có những điếm chung có tính toàn cầu. Điều này không mâu thuẫn với tính chất dân 12 tộc như đã nêu trên, ngược lại, nó tạo nên hiện tượng thống nhất trong đa dạng [35, 154]. Không thể phủ nhận rằng, chất lượng giáo dục của nước ta hiện nay đang còn thấp. Biểu hiện về sự hạn chế của chất lượng giáo dục rất lắm vẻ, thuộc mọi cấp, mọi loại hình trường học. Thực trạng này đòi hỏi ngành giáo dục cũng như các cấp quản lí các đơn vị phải nhận thức đầy đủ và có hướng khắc phục những tồn tại trước mắt cũng như hướng phát triển chiến lược, lâu dài. Việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của TCM trong nhà trường không nằm ngoài lỗ lực chung đó. 1.2.4. Quản lý, quản lý giảo dục, quản lý nhà trường 1.2.4.1. Ouản lý. Nhiều người thừa nhận rằng quản lý trở thành một trong 3 nhân tố của sự phát triển xã hội: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý. QL là sự tổ chức, điều hành, kết hợp vận dụng tri thức với việc sử dụng sức lao động để phát triển sản xuất xã hội. Việc kết hợp đó tốt thi xã hội phát ừiển, ngược lại kết hợp không tốt thì xã hội sẽ trì trệ, sự phát ừiển sẽ bị chậm lại. Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan điểm khác nhau về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau. Có thể điểm qua một vài quan điểm của các nhà nghiên cứu như sau: - Pall Hersey và Ken Blanc Hard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” thì xem xét “Quản lý như là một quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác đế hình thành các mục đích của tổ chức ” [31;52]. - Theo quan điểm hệ thống thì: QL là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đặt được mục tiêu đật ra trong điều kiện biến đổi của môi trường. 13 - Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Oĩiản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thế quản lý đến tập thế những ngưòi lao động (Nói chung là khách thế quán lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [29;35 ] Tóm lại, bàn về khái niệm quản lý, các tác giả đều thống nhất chung là: Onản ỉỳ là qiiả ừinh tác động có mục đích, có tổ chức của chì thế quản lý đến khách thế quản lý nhằm sử dụng có hiệu qiỉả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thong để đạt mục tiêu đặt ra trong điền kiện biến động ảia môi trường. Ouản lý không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật. Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi,...chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất”. 1.2.4.2. Ouản lý giáo dục Theo tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, ngay từ khi xuất hiện con người, con ngươi phải lao động có mục đích. Trong quá trình lao động, giáo dục ra đời. Cho nên giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội qua các thế hệ, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Đe hoạt động này vận hành có hiệu quả, GD phải được tổ chức thành một hệ thống các cơ sở giáo dục. Điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong giáo dục, đó là công tác QLGD (để quản lý các cơ sở giáo dục). Vậy QLGD là gì? Theo P.V.Khuđôminxky: “Ouản lý giáo dục lả tác động có hệ thong, có kế hoạch, có ỷ thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khăi ảia hệ thống từ Bộ GD đến nhà tmờng nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục Cộng sản chì nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hoà của họ ” [40;50] Theo Nguvễn Ngọc Quang “Oiiản lý giáo dục là hệ thong những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm hệ thong giáo dục vận hành theo đường loi và nguyên lý giáo dục của Đảng, thể hiện được các tình chất của nhà trường xã hội chì nghĩa Việt Nam mà tiêu điếm hội tụ là quà tĩình dạy học,
- Xem thêm -