Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

  • Số trang: 138 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

0 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRẦN THỊ MAI MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỆ AN, NĂM 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRẦN THỊ MAI MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC MÃ SỐ: 60.14.01.14 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HÀ VĂN HÙNG NGHỆ AN, NĂM 2014 LỜI CẢM ƠN Với tình cảm kính trọng và chân thành, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới: Phòng Đào tạo sau đại học, Hội đồng khoa học, các giảng viên của Trường Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Đặc biệt tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.Hà Văn Hùng, người đã tận tâm bồi dưỡng kiến thức, năng lực tư duy, phương pháp nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này. Tác giả cũng xin được cảm ơn Sở GD&ĐT Thanh Hóa; Phòng GD&ĐT huyện Hà Trung; Các cơ sở giáo dục trong toàn huyện; Các Phòng, Ban chuyên môn của HUYỆN UỶ, HĐND, UBND huyện Hà Trung; Đảng uỷ, HĐND, UBND các xã, Thị trấn trên địa bàn huyện Hà Trung; Các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp, trao đổi của các chuyên gia, các bạn đồng nghiệp và độc giả để luận văn được hoàn thiện và có giá trị thực tiễn cao hơn. Xin chân thành cảm ơn ! Nghệ An, tháng 9 năm 2014 Tác giả Trần Thị Mai MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài........................................................................................ 2. Mục đích nghiên cứu................................................................................. 3. Khách thể đối tượng nghiên cứu................................................................ 4. Giả thuyết khoa học................................................................................... 5. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................. 6. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 7. Những dự kiến đóng góp của đề tài........................................................... 8. Cấu trúc luận văn....................................................................................... NỘI DUNG Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác XHH GD tiểu học ........... 1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.............................................................................. 1.2. Một số khái niệm cơ bản.............................................................................. 1.3. Công tác xã hội hoá giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay.................. 1.4. Quản lý công tác xã hội hoá giáo dục tiểu học............................................. Kết luận chương 1............................................................................................... Chương 2. Thực trạng quản lý công tác XHH GD tiểu học huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa.......................................................................... 2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử văn hóa và kinh tế - xã hội của huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa............................ 2.2. Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa............................................................................. 2.3. Thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa....................................................................... 2.4. Đánh giá thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa....................................................................... Kết luận chương 2............................................................................................... Chương 3. Một số giải pháp quản lý công tác XHH GD tiểu học huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa..................................................................... 3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp............................................................ 3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu........................................................... 3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính tính toàn diện................................................... 3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn........................................................... 3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi.............................................................. 3.2. Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa............................................................ 3.2.1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về chủ trương xã hội hóa giáo dục trong đó có giáo dục tiểu học............................................. 3.2.2. Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng cơ quan quản lý Nhà nước và sự chỉ đạo ngành GD trong việc thực hiện XHH GD .................................................................................................................. 3.2.3. Quản lý việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội đầu tư cho trường tiểu học............................................................... 3.2.4. Quản lý việc xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách, đổi mới quản lý Nhà nước về công tác xã hội hóa giáo dục.......................... 3.2.5. Phát huy hiệu quả phối kết hợp giữa 3 môi trường giáo dục (nhà trường, gia đình, xã hội) trong quản lý công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học.............................................................................................. 3.2.6. Đổi mới xây dựng kế hoạch công tác xã hội hóa giáo dục...................... 3.2.7. Tăng cường đổi mới công tác quản lý tài chính XHH GD, phát huy dân chủ hóa trường học................................................................... 3.2.8. Nâng cao vai trò của cán bộ quản lý và giáo viên tiểu học trong việc thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục........................................................ 3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp............................................................... 3.4. Thăm dò tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất.................................. 3.4.1. Những kết quả ban đầu của việc triển khai công tác XHH GD ở trường tiểu học Thị trấn Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa..........................................87 1 3.4.2. Thăm dò tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất................................... Kết luận chương 3............................................................................................... KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................................................... 1. Kết luận.................................................................................................... 2. Kiến nghị................................................................................................ TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... Pl-1 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT GD XHH XHH GD XHHT GD&ĐT HĐND UBND ĐH,CĐ ĐHSP TTHTCĐ TTGDTX-DN THCS THPT KHCN KT-XH GV CBGV CBQL CNH HĐH BDTX CSVC HCMHS HĐGD PCGDTH PCGDTHCS PHHS QLGD SKKN CNTT Giáo dục Xã hội hóa Xã hội hóa giáo dục Xã hội học tập Giáo dục và đào tạo Hội đồng nhân dân Uỷ ban nhân dân Đại học,Cao đẳng Đại học Sư phạm Trung tâm học tập cộng đồng Trung tâm giáo dục thường xuyên- dạy nghề Trung học cơ sở Trung học phổ thông Khoa học công nghệ Kinh tế xã hội Giáo viên Cán bộ giáo viên Cán bộ quản lí Công nghiệp hóa Hiện đại hóa Bồi dưỡng thường xuyên Cơ sở vật chất Hội cha mẹ học sinh Hội đồng giáo dục Phổ cập giáo dục tiểu học Phổ cập giáo dục trung học cơ sở Phụ huynh học sinh Quản lý giáo dục Sáng kiến kinh nghiệm Công nghệ thông tin Pl-2 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục (GD) luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội, có vai trò quyết định tương lai của mỗi người và của mỗi quốc gia, cho nên nó là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội. Theo K.Marx “Con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, nhân cách của con người phải được hình thành dưới tác động của gia đình, nhà trường và xã hội. Tức là phải xã hội hóa giáo dục (XHH GD) nhân cách con người. Đó vừa là yêu cầu, vừa là cơ sở biện chứng của quá trình XHH GD. Làm cho hoạt động GD trở thành một hoạt động rộng lớn, sâu sắc, toàn diện, thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - kỹ thuật…). Vì thế không phải xem GD như là một đối tượng tác động của xã hội hóa (XHH) mà là “XHH cách làm GD”. XHH GD không chỉ đơn thuần là việc huy động nhân dân đóng góp tiền của, vật chất mà là một chủ trương mang tính toàn diện và đồng bộ. Vì vậy, XHH GD là giải pháp quan trọng nhằm thực hiện chiến lược phát triển GD nước ta trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Trong tương lai, nền GD của nước nhà cũng phải hướng tới những tư tưởng của nền GD hiện đại. GD phải dựa trên bốn trụ cột (UNESCO đã xác định 4 trụ cột giáo dục trong thế kỉ XXI đó là): Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống với nhau và học để tự khẳng định mình. Bốn trụ cột này phải đặt trên nền tảng học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập (XHHT). Đặc biệt XHH công tác GD là tư tưởng chiến lược lớn của Đảng và Nhà nước ta. Tư tưởng đó được đúc kết từ bài học kinh nghiệm xây dựng nền GD cách mạng và truyền thống hiếu học của dân tộc. Đề cao sự học và chăm lo việc học hành của nhân dân ta suốt hàng ngàn năm lịch sử phát triển của dân tộc. Tư tưởng đó còn là sự tiếp thu sáng tạo kinh nghiệm xây dựng và phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT )của các nước trên thế giới. Tư tưởng chiến lược của Đảng và Nhà nước về XHH GD đã được thể hiện trong Văn kiện ở các kỳ Đại hội của Đảng và các Nghị quyết của Chính phủ. Cụ thể: Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, phát triển Pl-3 đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục” [23]. Văn kiện Đại hội X Đảng nhấn mạnh:“… thực hiện“chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá xã hội hóa”, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [24]. Văn kiện Đại hội XI của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển chủ trương XHH GD là: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời” [25 ]. Ngày 18 tháng 04 năm 2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động GD. Ngày 24/6/2005, Bộ GD& ĐT đã ban hành quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT phê duyệt đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005 - 2010”. Luật GD năm 2005 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Điều 12 về nội dung XHH GD nêu rõ: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục. Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn” [35]. Trên thực tế XHH GD không đơn thuần là một cuộc đại cải cách hệ thống GD mà nó là một trong những nội dung quan trọng nhất trong chiến lược hoạch định tương lai đất nước. GD tiểu học là cấp học nền tảng của hệ thống GD quốc dân, là cấp học hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học ở các cấp học tiếp theo. Đầu tư cho GD tiểu học là đầu tư cho phát triển, đầu tư cho tương lai, chuẩn bị lớp người lao động mới phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá(CNH) - hiện đại hoá (HĐH) đất nước. Pl-4 Với đặc điểm “là một bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14 tuổi”, GD tiểu học gắn liền với chính sách dân trí và thực hiện Luật phổ cập GD. Thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước, tỉnh Thanh Hóa luôn quan tâm đến công tác XHH GD.Tỉnh ủy, UBND và Sở GD&ĐT tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều chủ trương, Nghị quyết, chương trình, đề án về XHH GD, đồng thời tổ chức thực hiện đạt hiệu quả. Trong Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ 17 nhiệm kỳ 2010- 2015 chỉ rõ:“Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực của toàn xã hội cho phát triển giáo dục đào tạo ...đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập” [44]. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm, chủ trương, chính sách và Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, trong thời gian qua huyện Hà Trung đã có nhiều chủ trương, giải pháp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng xã hội học tập(XHHT) và công tác XHH GD,tập trung mọi nguồn lực cho GD&ĐT.Thường vụ Huyện ủy Hà Trung đã có chỉ thị số 14-CT/HU (ngày 26/7/2005) Thông tri số 04 TT/HU (ngày 05/8/2005) của Ban thường vụ Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Hà Trung có nhiều Nghị quyết chuyên đề về phát triển GD, xây dựng phong trào XHH GD. UBND huyện có Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2000 – 2010, định hướng đến năm 2015” [16] [44]. Đại hội Đảng bộ huyện Hà Trung lần thứ XX nhiệm kỳ 2010- 2015 đã thực hiện Chương trình hành động với nhiều giải pháp phát triển kinh tế - xã hội(KTXH), an ninh, quốc phòng... Trong đó, lĩnh vực GD, đang được tập trung phát triển toàn diện, vững chắc các cấp học, bậc học, ngành học về qui mô chất lượng và hiệu quả…đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất(CSVC), xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia(ĐCQG), xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực.’’Đẩy mạnh phong trào XHH GD, khuyến học, xây dựng XHHT từ cơ sở [16] [17]. Có thể nói công tác XHH GD ở huyện Hà Trung đã có những chuyển biến tích cực, nhưng để thực sự phát huy được tác dụng của nó trong việc nâng cao chất lượng học tập, điều kiện CSVC đáp ứng cho việc dạy và học là chưa cao. Trước thực trạng đó, chúng tôi nhận thấy rằng việc tìm ra giải pháp đẩy mạnh công tác XHH GD là một việc làm cần thiết đối với phong trào GD của Pl-5 huyện nói chung và đặc biệt là cấp tiểu học nói riêng. Xuất phát từ tính cấp thiết đó tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài:“Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài luận văn của mình. Hy vọng sẽ góp một phần nhỏ khắc phục những mặt hạn chế, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động XHH GD ở huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa. 2. Mục đích nghiên cứu Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác XHH GD tiểu học trên địa bàn huyện Hà Trung, từ đó góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT của huyện Hà Trung. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu Vấn đề quản lý công tác XHH GD tiểu học trên địa bàn Huyện. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Một số giải pháp quản lí công tác XHH GD tiểu học huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. 4. Giả thuyết khoa học Công tác xã hội hóa giáo dục tiểu học huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa sẽ được đẩy mạnh nếu đề xuất và thực hiện các giải pháp quản lý có tính khoa học, đồng bộ và khả thi. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý giáo dục(QLGD) tiểu học. 5.2.Khảo sát đánh giá thực trạng công tác XHH GD tiểu học của huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa. 5.3.Đề xuất một số giải pháp quản lí công tác XHH GD ở các trường tiểu học của huyện Hà Trung. 5.4. Thăm dò tính khả thi của đề tài trong thực tiễn 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1. Nghiên cứu về mặt lý luận Pl-6 Nghiên cứu các tài liệu, văn bản của Đảng, Nhà nước, của tỉnh Thanh Hóa, huyện Hà Trung và của các xã, phường thuộc huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu các tài liệu, văn bản của Ngành GD&ĐT. Nghiên cứu các tài liệu, văn bản có liên quan tới GD và XHH GD. 6.2. Nghiên cứu thực tiễn Tiến hành khảo sát, điều tra, đánh giá thực trạng, vận dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Tham khảo ý kiến, thu thập thông tin qua cán bộ và chuyên gia. 6.3. Phương pháp thống kê toán học: Dùng toán thống kê để điều tra, phân tích, đánh giá. 7. Những đóng góp của đề tài 7.1. Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý công tác XHH GD Tiểu học trên địa bàn Huyện. 7.2. Đánh giá được thực trạng quản lý công tác XHH GD Tiểu học tại huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa 7.3. Đề xuất được các giải pháp quản lý nhằm đẩy mạnh công tác XXH GD nói chung và Giáo dục Tiểu học nói riêng tại huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa. 8. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương. Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý công tác XHH GD tiểu học Chương 2: Thực trạng quản lý công tác XHH GD tiểu học huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác XHH GD tiểu học huyện Hà Trung - tỉnh Thanh Hóa Pl-7 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Từ năm 1972, UNESCO đã đề ra quan điểm “Giáo dục suốt đời”, giáo dục phải hướng mục tiêu đào tạo ra những người có đủ tri thức và kỷ năng, năng lực và phẩm chất với tinh thần trách nhiệm đầy đủ của người công dân tham gia và cuộc sống lao động” [45]. Vì vậy, phương hướng phát triển GD của các nước trên thế giới trong thế kỷ XXI là: Tích cực chuyển nền GD sang hệ thống học tập suốt đời; Phát triển các chương trình GD hướng mạnh vào tính cá nhân; Làm cho hệ thống GD đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại (đa dạng, mềm dẻo, liên thông)... Tất cả đều hướng vào mục tiêu chung là thông qua phát triển GD&ĐT, tạo ra động lực cho tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội của đất nước mình. Vì vậy phát triển sự nghiệp GD&ĐT không chỉ riêng của Nhà nước và của Ngành GD&ĐT mà là nhiệm vụ chung của mọi lực lượng xã hội. Mỗi quốc gia, tùy thuộc đặc điểm riêng của mình đều có những hình thức làm GD theo một cách riêng. Dưới đây, chúng tôi xin khái quát về cách làm GD của một số nước trên thế giới, liên quan đến XHH GD. Năm 1947, Nhật Bản đặt GD vào vị trí hàng đầu của các chính sách quốc gia. Nhật Bản đẩy mạnh cải tổ hệ thống GD nhằm tạo ra một hệ thống GD mở với mục đích tạo cho học sinh lòng ham học, tự chủ trong suy nghĩ, phát triển những năng lực khác nhau nhằm tạo cơ hội thích hợp với nhu cầu học tập và nghề nghiệp của học sinh, luôn dành cho địa phương và nhà trường quyền tự chủ. Năm 1971, Nhật Bản thành lập Bộ GD, đề ra chính sách: Đối với các trường tiểu học bắt buộc thì “sự bình đẳng” là nguyên tắc tối cao. Còn đối với các trường sơ trung và cao trung thì nguyên tắc “tài năng” là cao nhất [45]. Quan điểm này không những xoá bỏ sự bất bình đẳng trong xã hội về GD, mà còn tạo ra cơ hội cho sự phát triển tiềm năng của con người. Pl-8 Để xây dựng xã hội học tập(XHHT), Chính phủ Nhật Bản đã lập ra Uỷ ban Quốc gia về GD suốt đời. Ở Nhật Bản có hai hệ GD: GD nhà trường và GD xã hội. GD nhà trường chính là hệ GD ban đầu, gồm trường mẫu giáo, trường phổ thông và các loại hình trường đào tạo nghề từ trung cấp đến đại học. Nhật Bản rất quan tâm đến hệ GD xã hội (GD tiếp tục) vì đây là hệ GD có tác dụng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Từ năm 1991, Hoa Kỳ đã đưa ra một số nét lớn của chiến lược phát triển GD, trong đó khẳng định việc biến nước Mỹ thành quốc gia của những học sinh và biến các cộng đồng dân cư thành các cộng đồng học tập. Đến năm 2010, Mỹ đã xây dựng được các cộng đồng GĐ ngoài phạm vi nhà trường. Đây là mô hình nhà trường kiểu mới mà vị trí đặc biệt trong thiết kế thuộc về tập thể cộng đồng, giới doanh nghiệp và lao động. Nhà trường trở thành trung tâm đời sống cộng đồng, tạo điều kiện cho việc học tập của mọi người không phải chỉ ở nhà trường mà còn ở gia đình. Tổng thống Bill Clintơn đã có thông điệp nói đến hiện đại hóa nền GD, mục tiêu học tập suốt đời và đề cao việc học tập để đạt trình độ học vấn cao. Ông cũng nói đến việc mở rộng các biên giới của việc học suốt đời để người Mỹ ở độ tuổi nào cũng có cơ hội học tập, yêu cầu khấu trừ thuế lên tới 10.000 USD/năm cho toàn bộ học phí ở cao đẳng và đại học để mọi gia đình không phải đóng thuế với khoản tiền mà họ tiết kiệm được để giành đóng học phí vào đại học(ĐH) và cao đẳng(CĐ). Tuy phải đối phó với nhiều vấn đề nhưng trong chiến lược phát triển GD của mình, nước Mỹ đặc biệt quan tâm đến yêu cầu một nền GD được xây dựng trên nền tảng công nghệ thông tin (CNTT)và xã hội tri thức để đón đầu sự phát triển của nền kinh tế Mỹ trong thế kỷ XXI [45]. Singapo là một quốc đảo nhỏ, diện tích ít, dân số không nhiều(4,5 triệu) nhưng nổi tiếng là một quốc gia phát triển về kinh tế và giáo dục của vùng châu Á. Nguyên thủ tướng Singapo ông Lý Quang Diệu đã từng nói: “Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục, sẽ thắng trong phát triển kinh tế, giáo dục chỉ được phép dư, không được phép thiếu”.Những vấn đề như là tuyển mộ, duy trì giáo viên giỏi, cải thiện huấn luyện cho ban giám hiệu, sử dụng kỹ thuật một cách sáng tạo và hiệu quả, hướng tới giúp học Pl-9 sinh đạt thành quả tốt hơn, ...trở thành những vấn đề được quan tâm đặc biệt trong chính sách giáo dục của Singapo. Đối với Hàn Quốc, vai trò tư nhân trong GD là nhân tố quan trọng thúc đẩy nền GD phát triển mạnh mẽ, tạo ra sự công bằng, dân chủ trong thụ hưởng chính sách GD. Hàn Quốc tập trung mạnh các nguồn lực xã hội cho GD dựa trên đầu tư của nhà nước kết hợp với nguồn lực của tư nhân. Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện chính sách đa dạng hoá các loại hình đào tạo, đào tạo nghề nghiệp - kỹ thuật, tổ chức nhiều loại hình nghề nghiệp chính quy và phi chính quy để thích ứng với nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong quá trình phát triển đất nước. Như vậy, chúng ta thấy rằng các nước có đặc điểm riêng về kinh tế - xã hội nhưng đều có điểm chung trong phương thức XHH GD: Đó là huy động mọi tiềm lực của cộng đồng cho GD. Ở nhiều quốc gia, XHH GD là sự lựa chọn ưu tiên, có tính chất quyết định cho mô hình phát triển GD của riêng mình [45]. 1.1.2. Những nghiên cứu trong nước Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế chung đó trên thế giới. Trước yêu cầu của cuộc sống, của sự nghiệp đổi mới kinh tế, văn hóa n ước ta c ần thiết phải quan tâm đến việc xây dựng và phát triển công tác XHH GD. Ph ải tạo điều kiện để người dân tham gia học tập thường xuyên, học tập suốt đời. Nếu xét về bản chất thì XHH GD không phải là vấn để hoàn toàn mới ở đất nước ta Nó đã có nguồn gốc từ rất lâu cùng với truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc ta. Dưới thời phong kiến và thuộc địa, trường học chỉ mở rất ít dành cho con em các bậc vua chúa, quan lại, địa chủ, con cái nhà giàu nhằm phục vụ cho giai cấp thống trị. Con em của tầng lớp nghèo khổ đều do nhân dân tự lo liệu dưới hình thức trường tư do các thầy đồ mở hoặc do nhân dân tự tổ chức và mời thầy dạy. Việc đóng góp nuôi thầy là hoàn toàn tự nguyện, tùy theo khả năng kinh tế mỗi gia đình. Trong thời nhà Lý, các kỳ thi định kỳ được tổ chức để chọn người tài, không phân biệt giàu nghèo và đẳng cấp xã hội. Người đỗ khoa bảng được cử ra giúp Pl-10 dân, giúp nước. Nhân dân tôn vinh những người có học, đề cao những người học thành tài bằng cách lập văn bia, văn miếu thờ các bậc tiền hiền, danh nhân của địa phương và sẵn sàng đóng góp tiền của, công sức để rước vị tân khoa “vinh qui bái tổ” một cách long trọng. Ngoài ra, để khuyến khích cho việc học, nhân dân đã có chế độ học điền (ruộng dành cho việc học). Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công (1945), Hồ Chí Minh đã xác định sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và kháng chiến là cuộc đấu tranh chống lại ba kẻ thù: “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”. Thông điệp của Người ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (3/9/1945) là: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Và Người đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ. Chỉ năm ngày sau phiên họp này (8/9/1945) hàng loạt sắc lệnh liên quan tới giáo dục được Hồ Chí Minh ký như: Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ; Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong sáu tháng làng nào, thị trấn nào cũng phải có lớp học với ít nhất là 30 người theo học; Sắc lệnh số 20/SL cưỡng bách học chữ quốc ngữ không mất tiền hạn một năm tất cả người dân Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ; Sắc lệnh về việc thiết lập một Quỹ tự trị cho trường Đại học Việt Nam (10/10/1945). Sau cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, cùng với việc ra đời của nhiều Bộ, Bộ Giáo dục cũng được thành lập... [30] [31]. Để thực hiện nhiệm vụ của Nha Bình dân học vụ là cấp tốc xóa nạn mù chữ trong nhân dân, ngày 4/10/1945, Hồ Chí Minh đã có lời hiệu triệu “Chống nạn thất học”. Người kêu gọi: Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.Và Người đã tạo nên được một phong trào GD đại chúng. Bài học thành công là biết huy động sức mạnh của toàn dân tộc, tập trung toàn dân diệt “giặc dốt” [28] [29]. Trong quá trình đổi mới sự nghiệp cách mạng, tư tưởng xã hội hoá của Người đã được Đảng, nhân dân ta kế thừa và phát huy. Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII) khẳng định: “GD&ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Mọi người đi học, Pl-11 học thường xuyên, học suốt đời. Mọi người chăm lo GD. Các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể, các tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp GD&ĐT, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho GD&ĐT” [20]. Thực hiện chủ trương XHH GD, hàng loạt các đề án, đề tài về XHH GD đã được các nhà khoa học, quản lí, các tổ chức quan tâm nghiên cứu. Bên cạnh những đề án lớn mang tầm cỡ quốc gia do Văn phòng Chính phủ chủ trì như “Cơ sở lí luận của xã hội hóa giáo dục”, “Kinh nghiệm thế giới trong việc xã hội hóa giáo dục” của Viện nghiên cứu phát triển GD, còn có nhiều tác giả viết về hoạt động này như: “xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối GD, một con đường phát triển GD ở nước ta” của Phạm Minh Hạc. Trong đó tác giả đã cung cấp nhiều thông tin cần thiết và bổ ích cho các cấp quản lí, các tổ chức và đoàn thể, nhà trường, gia đình về mục đích, ý nghĩa, nội dung hoạt động, phương thức tiến hành công tác quản lí và những kinh nghiệm để nâng cao chất lượng XHH công tác GD [27]. Trong tài liệu “XHH GD nhìn từ góc độ pháp luật” (NXB Tư pháp - Hà Nội 2004), tác giả Lê Quốc Hùng đã chỉ ra những hạn chế trong quản lí Nhà nước về công tác XHH GD đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước đối với hoạt động này. Các nhà nghiên cứu khác như: Trần Quang Nhiếp, Nguyễn Mậu Bành, Huy Ất, Huy Ngân…có nhiều bài viết về XHH. Viện khoa học GD nước ta nhiều năm qua đã tiến hành hệ thống các đề tài nghiên cứu về XHH GD, đúc kết kinh nghiệm để phát triển lý luận và đề xuất chính sách nhằm hoàn thiện nhận thức lý luận, ban hành một số văn bản hướng dẫn các địa phương, các đơn vị GD thực hiện và xây dựng những đề án về công tác XHH GD. “Xã hội hóa công tác giáo dục- nhận thức và hành động”do Viện khoa học giáo dục Việt Nam xuất bản năm 1999. Nội dung tài liệu cụ thể hóa và hoàn thiện những quan niệm cơ bản mà mọi người cần biết về XHH GD, đồng thời chỉ ra vai trò và trách nhiệm của từng lực lượng trong XHH công tác GD, những nét chính về cách tiến hành XHH công tác GD ở địa phương và cơ sở trường học. [45] Pl-12 Trong cuốn“Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, tác giả Phạm Minh Hạc một lần nữa khẳng định:“Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước, mà là của toàn xã hội: mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào tập trung trong toàn dân” [27]. Tóm lại việc đa dạng hóa các nguồn lực để phát triển GD không chỉ có ở nước ta mà rất nhiều nước trên thế giới đã quan tâm đến việc xây dựng và củng cố các tổ chức nhằm phục vụ cho GD với quan điểm coi con người là trung tâm của sự phát triển. Các nước phát triển trên thế giới đều coi trọng chích sách XHH GD, tạo cơ hội cho GD phát triển và quan tâm đến hiệu quả GD. Thời gian gần đây, dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học, các thầy cô giáo trường ĐH Vinh, ĐHSP Hà Nội,Viện Khoa học Giáo dục, nhiều luận văn thạc sĩ, luận văn tiến sĩ đã đề cập đến XHH và XHH GD ở nhiều khía cạnh khác nhau. Đặc biệt là công tác XHH GD ở các trường phổ thông. Tuy nhiên vấn đề tăng cường công tác XHH GD ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa thì chưa có công trình nào nghiên cứu. Chính vì thế những kết quả nghiên cứu đạt được của đề tài luận văn sẽ là những đóng góp thiết thực (cho dù là nhỏ bé) trong việc tăng cường công tác XHH GD ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Hà Trung nói riêng và các trường tiểu học tỉnh Thanh Hóa nói chung. 1.2 Một số khái niệm cơ bản 1.2.1. Giáo dục ở trường tiểu học Điều 2 Luật phổ cập giáo dục tiểu học chỉ rõ: “Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức trí tuệ, thẩm mĩ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [37]. Chính vì thế có thể nói GD tiểu học: - Là “nền”, “móng” của giáo dục phổ thông. - Góp phần quyết định hình thành nhân cách tốt đẹp cho học sinh tiểu học, đặt nền tảng cho việc phát triển đúng mục đích đào tạo của các cấp học sau. Pl-13 Điều 2, Điều lệ trường tiểu học được ban hành theo quyết đinh số 51/QĐBGD ĐT ngày 31 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo cũng qui định: Trường tiểu học là cơ sở GD của bậc tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống GD quốc dân [26]. Đây là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14 tuổi thực hiện trong 5 năm học từ lớp 1 đến lớp 5. Bậc học này nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các chức năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở. - Là cấp học phổ cập bắt buộc trong hệ thống GD phổ thông. - Là bậc thang đầu để biết học Tóm lại giáo dục tiểu học có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống GD quốc dân. Là bậc học có tính chất nền móng của GD phổ thông. 1.2.2. Xã hội hóa và xã hội hóa giáo dục trường tiểu học 1.2.2.1. Xã hội hóa Có nhiều cách hiểu, định nghĩa XHH khác nhau: - XHH là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội. - XHH là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của cộng đồng nhằm đáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội. - Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm XHH được hiểu là “Làm cho một việc gì, một cái gì đó thành của chung xã hội”. [47] Kể từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ trương cải cách tổ chức bộ máy Nhà nước theo hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thì thuật ngữ “XHH” được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện, hội nghị, hội thảo… Nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về XHH có các cách lý giải khác nhau, song, tựu trung lại có thể khẳng định: Bản chất của XHH là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường tuyên truyền, huy động và tổ chức sự tham gia của cộng đồng, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo
- Xem thêm -