Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở tỉnh Bình Thuận

  • Số trang: 130 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH LÊ HUỲNH THỊ HOA PHƯỢNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở TỈNH BÌNH THUẬN Chuyênngành: QuảnlýGiáodục Mãsố: 60.14.01.14 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Ngườihướngdẫnkhoahọc: PGS.TS. NguyễnBá Minh NGHỆ AN, 2014 2 LỜI CẢM ƠN Hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đối với: - Ban Giám hiệu và Phòng Đào tạo Sau đại học, trường Đại học Vinh. - Các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập ở lớp Cao học Quản lý giáo dục, khóa XX. - PGS.TS Nguyễn Bá Minh, nguyên trưởng khoa Giáo dục, trường Đại học Vinh; Vụ trưởng vụ Mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Người thầy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này. - Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn: + PGS.TS Hà Văn Hùng, nguyên phó Hiệu trưởng trường Đại học Vinh; + TS Phan Quốc Lâm, giảng viên chính trường Đại học Vinh; + ThS Mai Xuân Bá, tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Thuận; + Cô Nguyễn Thị Bích Hoàn, phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Thuận; + Cô Nguyễn Thị Thiệp, phó phòng Kế hoạch – Tài chính Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Thuận; + Thầy Trần Hữu Dung, trưởng phòng và thầy Nguyễn Tuấn Anh, chuyên viên phòng Giáo dục chuyên nghiệp Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Thuận; + Ban Giám đốc và các phòng, ban chuyên môn Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Thuận; Các đồng chí lãnh đạo UBND tỉnh, Phó Chủ tịch UBND phụ trách khối văn hoá - xã hội huyện; trưởng, phó trưởng phòng GD & ĐT các huyện; hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường Cao đẳng Cộng đồng Bình 3 Thuận, trường Cao đẳng Y tế, THPT, THCS, TH, MN trong tỉnh; giáo viên; cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan, đơn vị: Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, Hội cựu chiến binh tỉnh, Tỉnh đoàn Bình Thuận, Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh, Sở Tài chính, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Y tế, Hội Khuyến học, Công an tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, ... + Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, đóng góp ý kiến, cung cấp tài liệu và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu. Bản thân đã hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn Luận văn cũng không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được nhiều ý kiến chỉ dẫn và góp ý./. 4 MỤC LỤC Nội dung Trang Mục lục Bảng ký hiệu viết tắt Danh mục các bảng Mở đầu Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý xã hội hoá giáo dục 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.3. Một số vấn đề về xã hội hoá giáo dục 1.4. Quản lý công tác xã hội hoá giáo dục Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở tỉnh 1 6 6 10 15 28 33 Bình Thuận 2.1. Khái quát về tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Thuận 2.2. Thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở tỉnh Bình Thuận 2.3. Đánh giá chung về thực trạng Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở 33 38 68 71 tỉnh Bình Thuận. 3.1. Một số nguyên tắc đề xuất các giải pháp 3.2. Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở tỉnh Bình 71 72 Thuận 3.3. Đánh giá các giải pháp Kết luận và kiến nghị TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU 92 98 101 107 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT GD: GD & ĐT: Giáo dục Giáo dục và Đào tạo GD - ĐT: Giáo dục - Đào tạo GDTX: Giáo dục thường xuyên HĐND: Hội đồng nhân dân 5 MN: Mầm non NXB: Nhà xuất bản TH: Tiểu học THCS: Trung học cơ sở THPT: Trung học phổ thông TTGDTX: Trung tâm giáo dục thường xuyên TTHTCĐ: Trung tâm học tập cộng đồng UBND: Uỷ ban nhân dân XHH: Xã hội hoá XHHGD: Xã hội hoá giáo dục XHHT: Xã hội học tập DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Số hiệu bảng 2.1 2.2 Tên bảng Nhận thức chung về công tác XHHGD trong giai đoạn hiện nay Nhận thức chung về tầm quan trọng của công tác XHHGD Trang 49 50 6 2.3 Mục tiêu và lợi ích mà XHHGD mang lại 50 Các yếu tố có ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp 2.4 2.5 52 quản lý XHHGD Mức độ thực hiện các biện pháp quản lý XHHGD trên địa bàn tỉnh Bình Thuận 53 3.1 Đánh giá về tầm quan trọng của các giải pháp 93 3.2 3.3 Đánh giá về mức độ cấp thiết của các giải pháp 94 95 Đánh giá về mức độ khả thi của các giải pháp MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là một trong những tư tưởng cốt lõi về giáo dục (GD) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là chủ trương, quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta từ thời lập quốc đến nay. Từ ngày có Đảng, nhất là từ sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, tư tưởng Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của sự học, xem học tập là nhu cầu của cuộc sống đã được thể hiện một cách nhất quán trong đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Ngay từ những ngày đầu mới giành được độc lập, khi vận mệnh nước nhà 7 đang như ngàn cân treo sợi tóc, Đảng và Bác Hồ đã chủ trương huy động tối đa các nguồn lực để cùng một lúc chống ba thứ giặc "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm", xem chống giặc dốt cũng quan trọng, cấp bách như chống giặc đói để dân được ấm no và chống giặc ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập nước nhà. Giáo dục và Đào tạo (GD & ĐT) ngày nay là yếu tố quyết định tương lai của mỗi dân tộc, sự phát triển của mỗi quốc gia, trong bối cảnh toàn cầu hoá phát triển rộng khắp, cách mạng khoa học - công nghệ đạt những bước tiến thần kỳ, cách mạng thông tin bùng nổ, tri thức của nhân loại có sự tiến bộ không ngừng. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác GD & ĐT, phát triển GD & ĐT cùng với khoa học công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển. Phát triển GD & ĐT là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Sự nghiệp GD là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình, của các lực lượng xã hội. Chỉ có sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố này mới tạo thành sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp trồng người thắng lợi. Nội dung cơ bản của XHHGD bao gồm hai khía cạnh song hành có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau một cách biện chứng: Một là, mọi tổ chức, mọi tập thể, mọi cá nhân theo khả năng của mình đều có thể đóng góp cơ hội học tập cho cộng đồng. Hai là, mọi người dân trong cộng đồng đều có thể tận dụng cơ hội để học tập và tham gia phát triển GD, học tập để lập thân, lập nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống. XHHGD là chủ trương, quan điểm cơ bản, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta; là sự đúc kết bài học kinh nghiệm xây dựng nền GD cách mạng và truyền thống hiếu học của nhân dân ta; là sự tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng và phát triển GD của các nước tiên tiến trên thế giới; là xu thế mới, có tính tất yếu trong quá trình phát triển của loài người đương đại. Định hướng XHHGD được thể hiện rõ qua các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta: 8 Văn kiện Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII khẳng định: “Giáo dục - Đào tạo (GD - ĐT) là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân” [31]. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã xác định: "Thực hiện chủ trương XHHGD, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ GD" [32]. Văn kiện Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: "… thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá (XHH)", chấn hưng nền GD Việt Nam" [35]. Văn kiện Đại hội XI của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển chủ trương XHHGD là: "Hoàn thiện cơ chế, chính sách XHHGD, đào tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập (XHHT), tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời" [37]. Ngày 18 tháng 4 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQCP về đẩy mạnh XHH các hoạt động GD, y tế, văn hoá và thể dục thể thao; ngày 30 tháng 5 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường. Nghị quyết số 05 của Chính phủ xác định: "Qua 7 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 90/1997/NQ-CP và 5 năm thực hiện Nghị định 73/1999/NĐ-CP, công tác XHH các hoạt động GD, y tế, văn hoá và thể dục thể thao đã thu được những kết quả quan trọng… Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện XHH đã bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập. Hạn chế lớn nhất là tốc độ XHH còn chậm so với tiềm năng và chỉ tiêu định hướng của Nghị quyết 90; mức độ phát triển XHH không đồng đều giữa các vùng miền và cả giữa các tỉnh, thành phố, địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội như nhau". "Công tác quản lý còn bất cập cả trong định hướng phát triển, quy hoạch và chỉ đạo thực hiện. Việc triển khai thực hiện còn chậm và nhiều lúng túng. Quản lý nhà nước vừa gò bó, vừa buông lỏng; cơ chế chính sách chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu đồng bộ, còn chưa phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các lực lượng xã hội chưa được tổ chức và phối hợp tốt để chủ động, tích cực tham gia vào quá trình XHH...". "Nguyên nhân của những hạn chế trước hết là do nhận thức còn chưa đầy đủ, xem XHH chỉ là biện pháp huy động 9 sự đóng góp của nhân dân trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp. Tư tưởng và thói quen bao cấp vẫn còn khá nặng nề" [22]. Bình Thuận là một tỉnh ở miền Đông Nam Bộ với đặc điểm tình hình kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ; việc cụ thể hoá Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP còn nhiều khó khăn, thiếu sót: nhận thức về XHHGD không đồng đều; chưa có cơ chế, chính sách cụ thể tạo thuận lợi cho công tác XHHGD; kết quả huy động các nguồn lực xã hội cho sự nghiệp GD còn khiêm tốn... Hiện nay, ở Bình Thuận chưa có công trình nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về vấn đề XHHGD. Để góp phần phát triển kinh tế - xã hội, huy động có hiệu quả các nguồn lực xã hội cho sự nghiệp GD, tạo sự chuyển biến quan trọng về chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bình Thuận đến năm 2018 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII Đảng bộ Tỉnh (nhiệm kỳ 2010 - 2015), chúng tôi chọn định hướng nghiên cứu “Một số giải pháp quản lý công tác XHHGD ở tỉnh Bình Thuận” làm đề tài luận văn tốt nghiệp. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp quản lý công tác XHHGD ở tỉnh Bình Thuận. 3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác XHHGD. 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp quản lý công tác XHHGD ở tỉnh Bình Thuận. 3.3. Phạm vi nghiên cứu: Để việc nghiên cứu có tập trung, luận văn chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu một số hoạt động XHHGD ở tỉnh Bình Thuận đến năm 2018. Chúng tôi chỉ tổ chức khảo sát, đánh giá các giải pháp chứ không tổ chức thử nghiệm. 4. Giả thuyết khoa học Nếu đề xuất được các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi thì có thể nâng cao chất lượng công tác XHHGD ở tỉnh Bình Thuận. 10 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề XHHGD. - Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề XHHGD ở tỉnh Bình Thuận. - Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác XHHGD ở tỉnh Bình Thuận. 6. Phương pháp nghiên cứu - Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: + Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu; + Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập. - Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: + Phương pháp điều tra xã hội học; + Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GD; + Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia; - Phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu. 7. Đóng góp của luận văn 7.1. Về lý luận - Khẳng định tầm quan trọng của XHHGD trong sự nghiệp GD, từ đó, nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý XHHGD trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. - Xác định cụ thể các yếu tố của quản lý XHHGD cần phải thay đổi để thích ứng với thực tiễn, hướng công tác quản lý XHHGD đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng GD của tỉnh Bình Thuận. 7.2. Về thực tiễn 11 - Chỉ ra những hạn chế, khiếm khuyết về nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về XHHGD; về công tác quản lý XHHGD trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. - Đề xuất được một số giải pháp khoa học, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý XHHGD, góp phần nâng cao chất lượng GD của tỉnh Bình Thuận đến năm 2018. 8. Cấu trúc nội dung luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nghiên cứu, đề tài còn có 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý xã hội hoá giáo dục. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở tỉnh Bình Thuận. Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở tỉnh Bình Thuận. CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Những nghiên cứu trong nước XHHGD là một truyền thống quý báu từ xa xưa của dân tộc Việt Nam, trải qua lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, truyền thống đó luôn luôn được giữ gìn và nhân rộng. Vào thế kỷ XI (1070), Nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám; năm 1075, vua Lý Thánh Tông cho mở khoa thi đầu tiên để lựa chọn nhân tài. Sang thời 12 nhà Hồ, Hồ Quý Ly thể hiện sự quan tâm đến công việc học hành qua chủ trương mở rộng trường học ở các lộ, châu, phủ. Vào những năm 1420, nhà Lê mở rộng chế độ GD, thi cử so với các triều đại trước, con em mọi tầng lớp nhân dân đều được tham gia dự thi. Vào thế kỷ XVIII (năm 1788), triều đại Tây Sơn chủ trương mở rộng nền GD đến tận thôn, xóm. Với câu nói bất hủ: “Dựng nước, trước tiên phải lo việc học”, vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) đã ban hành Chiếu lập học, các xã phải lập ra nhà xã học, chọn người hay chữ và có đức hạnh phụ trách việc giảng dạy (gọi là xã giảng dụ), cho phép một số địa phương mở một số đền, chùa làm trường học. Những chính sách nêu trên chứng tỏ vua Quang Trung có hoài bão muốn xây dựng nền học thuật, GD dân tộc, nâng cao ý thức tự lực, tự cường, thoát khỏi những ràng buộc của nền GD khuôn sáo cũ [38]. Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam mới ra đời. Với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền GD Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, hạn chế, thiếu thốn để chuyển mình sang giai đoạn mới: Phát triển "nền GD của dân, do dân, vì dân". Trong giai đoạn sau khi thống nhất đất nước đến trước đổi mới (trước năm 1986), với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, đất nước nói chung và nền GD nước ta nói riêng rơi vào khủng hoảng, sự nghiệp GD toàn dân có lúc chưa được coi trọng, bản chất xã hội của GD không quan tâm đầu tư đúng mức, không thu hút được các nguồn lực của toàn xã hội tham gia vào các hoạt động GD. Cơ sở vật chất GD xuống cấp, lạc hậu, nền GD nước ta rơi vào tụt hậu nghiêm trọng, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và xu thế phát triển chung của thời đại. Trước yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập ngày càng sâu rộng vào các thể chế kinh tế - xã hội toàn cầu, Đảng ta đã kịp thời ban hành những chủ trương, quyết sách đúng đắn về GD & ĐT. Từ Đại hội VII đến Đại hội XI của Đảng, Đảng ta luôn xác định "GD & ĐT là quốc sách hàng đầu", ''XHH'' là một trong những quan điểm, chủ trương lớn để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội. Bàn về vấn đề XHHGD, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý GD đều có chung nhận định về vai trò, vị trí, ý nghĩa chiến lược của công tác XHHGD trong sự nghiệp GD & ĐT ở nước ta. 13 Tác giả Phạm Minh Hạc đã viết: “XHH công tác GD, một con đường phát triển GD nước ta” [39]. Tác giả cho rằng, XHHGD là "Làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm đối với GD, GD phục vụ đắc lực cho phát triển KT - XH, thực hiện việc kết hợp GD trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện để GD kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; XHHGD có quan hệ hữu cơ với dân chủ hoá GD". “XHH công tác GD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối chiến lược, một con đường phát triển GD của nước ta… Sự nghiệp GD không chỉ là của Nhà nước mà là của toàn xã hội, mọi người cùng làm GD, nhà nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm GD” [40]. Theo tác giả Lê Ngọc Lan: “Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng Việt Nam, khái niệm XHHGD ngày càng được mở rộng và phong phú hơn. Đây không phải là giải pháp tình thế nhằm tháo gỡ khó khăn của nước nghèo. Ngay khi chúng ta đạt được mức tăng trưởng nhiều lần so với hiện nay thì tư tưởng XHHGD vẫn giữ được giá trị chủ đạo cơ bản” [45]. Tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “XHHGD phản ánh bản chất của luận đề: GD cho tất cả mọi người, tất cả cho sự nghiệp GD”. Vậy, huy động toàn xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền GD quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước không phải là một ý tưởng mới lạ. PGS.TS Đặng Quốc Bảo nhấn mạnh: “Không có xã hội nào có thể tồn tại nếu không có sự GD và mọi sự GD đều hướng tới sự tiến bộ của xã hội. Như vậy là luôn luôn tồn tại nền GD xã hội” [13]. Tác giả Vũ Văn Phúc (Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản) khẳng định: "Đẩy mạnh XHHGD, huy động mọi nguồn lực để phát triển sự nghiệp GD và xây dựng XHHT… XHHGD vừa là mục tiêu vừa là một trong những giải pháp chủ yếu để phát triển GD & ĐT" [50]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt (Chủ tịch, Tổng giám đốc, Invest Consult Group) cho rằng: "XHHGD là tinh thần, là nội dung quan trọng nhất của cải cách GD, bảo đảm sự thành công của cải cách GD". Ông cũng cho rằng: "XHHGD có ý 14 nghĩa là nhà nước phải tạo ra không gian xã hội, luật pháp và chính trị cho việc hình thành một khu vực GD mà ở đấy ai cũng có quyền đóng góp vì sự nghiệp GD, thực hiện sự cạnh tranh về chất lượng GD, tức là GD phải thuộc về xã hội " và "XHHGD không chỉ là đa dạng hoá hình thức và các nguồn đầu tư cho GD & ĐT, mà quan trọng nhất là đa dạng hoá nội dung hay đa dạng hoá, hiện đại hoá chương trình GD thích ứng với những đòi hỏi của xã hội" [15]. Nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp cho rằng: "Sức mạnh tổng hợp của ngành GD & ĐT được đo bằng thước đo XHH… XHH cũng là con đường tốt nhất để tiếp cận các bài học thành công của nền GD các quốc gia tiên tiến trên thế giới để vận dụng sáng tạo, đúng đắn, sát thực vào thực tiễn Việt Nam, theo hướng đi tắt, đón đầu, bứt phá nhanh hơn với hiệu quả cao nhất" [43]. Trong những năm gần đây, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu như tác giả Nguyễn Mậu Bành, Trần Quang Nhiếp, Hồ Thiệu Hùng… có nhiều bài viết về XHHGD. Bộ GD & ĐT, Viện Khoa học GD Việt Nam đã và đang tiến hành hệ thống hoá các đề tài nghiên cứu về XHHGD, đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn quản lý để phát triển lý luận và đề xuất chính sách nhằm hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận, ban hành các văn bản hướng dẫn địa phương, các đơn vị GD thực hiện nhiệm vụ công tác XHHGD. Trên cơ sở kết quả công tác XHHGD giai đoạn 2006 - 2010, Bộ GD & ĐT đã đề xuất với Chính phủ ban hành Đề án đẩy mạnh công tác XHHGD và đào tạo giai đoạn 2012 - 2016 [63]. Ngoài ra, được sự hướng dẫn của các nhà khoa học, nhiều luận văn thạc sĩ, luận văn tiến sĩ trong nước đã đề cập đến vấn đề XHHGD ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trên địa bàn tỉnh, cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề XHHGD ở cấp huyện. Trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn công tác XHHGD của địa phương, hầu hết các nghiên cứu đã đề xuất được giải pháp quan trọng, có tính khả thi để đẩy mạnh công tác quản lý XHHGD ở địa phương mình, song, hạn chế chung nhất của các nghiên cứu này là chưa tập trung đề xuất vấn đề mấu chốt, cốt lõi, có tính chi phối hiệu quả công tác quản lý XHHGD: Đề xuất cơ chế, chính sách đẩy mạnh công tác XHHGD. 15 1.1.2. Những nghiên cứu ở nước ngoài Cũng như nước ta, các nước phát triển trên thế giới đều coi trọng chính sách XHHGD, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho GD phát triển và quan tâm sâu sắc đến hiệu quả GD mang lại cho nền kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia chú trọng phát huy sức mạnh tổng hợp của xã hội trong cải cách GD để bảo đảm ai cũng học tập, ai cũng được hưởng thụ GD, ai cũng tham gia phát triển GD. Năm 1947, Nhật Bản đặt GD vào vị trí hàng đầu của các chính sách quốc gia. Nhật Bản đẩy mạnh cải tổ hệ thống GD nhằm tạo ra một hệ thống GD mở với mục đích tạo cho học sinh lòng ham học, tự chủ trong suy nghĩ, phát triển những năng lực khác nhau nhằm tạo cơ hội thích hợp với nhu cầu học tập và nghề nghiệp của học sinh, luôn dành cho địa phương và nhà trường quyền tự chủ. Năm 1971, Nhật Bản thành lập Bộ GD, đề ra chính sách: Đối với các trường TH bắt buộc thì "sự bình đẳng'' là nguyên tắc tối cao. Còn đối với các trường sơ trung và cao trung thì nguyên tắc "tài năng" là cao nhất. Quan điểm này không những xoá bỏ sự bất bình đẳng trong xã hội về GD, mà còn tạo ra cơ hội cho sự phát triển tiềm năng của con người. Để xây dựng XHHT, Chính phủ Nhật Bản đã lập ra Uỷ ban Quốc gia về GD suốt đời. Ở Nhật Bản có hai hệ GD: GD nhà trường và GD xã hội. GD nhà trường chính là hệ GD ban đầu, gồm trường mẫu giáo, trường phổ thông và các loại hình trường đào tạo nghề từ trung cấp đến đại học. Nhật Bản rất quan tâm đến hệ GD xã hội (GD tiếp tục) vì đây là hệ GD có tác dụng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đối với Hàn Quốc, vai trò tư nhân trong GD là nhân tố quan trọng thúc đẩy nền GD phát triển mạnh mẽ, tạo ra sự công bằng, dân chủ trong thụ hưởng chính sách GD. Hàn Quốc tập trung mạnh các nguồn lực xã hội cho GD dựa trên đầu tư của nhà nước kết hợp với nguồn lực của tư nhân. Chính phủ Hoa Kỳ đầu tư mạnh cho hiện đại hoá GD, thực hiện mục tiêu học tập suốt đời và đề cao việc học để đạt trình độ học vấn cao. Để đạt được điều này, một trong những giải pháp quan trọng là Chính phủ chủ trương đa dạng hoá 16 các loại hình trường học nhằm thực hiện tốt chiến lược phát triển GD dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, đón đầu sự phát triển của nền kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI. Ở Inđônêxia, ngoài hệ thống GD nhà trường, còn coi trọng các loại hình GD ngoài nhà trường: ở gia đình, xã hội, các doanh nghiệp, các trường đại học mở, phục vụ nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân. Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện chính sách đa dạng hoá các loại hình đào tạo, đào tạo nghề nghiệp - kỹ thuật, tổ chức nhiều loại hình nghề nghiệp chính quy và phi chính quy để thích ứng với nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong quá trình phát triển đất nước. Như vậy, chúng ta thấy rằng các nước có đặc điểm riêng về kinh tế - xã hội nhưng đều có điểm chung trong phương thức XHHGD: Đó là huy động mọi tiềm lực của cộng đồng cho GD. Ở nhiều quốc gia, XHHGD là sự lựa chọn ưu tiên, có tính chất quyết định cho mô hình phát triển GD của riêng mình. 1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.2.1. Xã hội hoá giáo dục 1.2.1.1. Xã hội hoá: Có nhiều cách hiểu, định nghĩa XHH khác nhau: - XHH là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội. - XHH là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của cộng đồng nhằm đáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội. - Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm XHH được hiểu là "Làm cho một việc gì, một cái gì đó thành của chung xã hội”. Kể từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ trương cải cách tổ chức bộ máy Nhà nước theo hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thì thuật ngữ "XHH" được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện, hội nghị, hội thảo… Nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về XHH có các cách lý giải khác nhau, song, tựu trung lại có thể khẳng định: Bản chất của XHH là cách làm, cách 17 thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường tuyên truyền, huy động và tổ chức sự tham gia của cộng đồng, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội mang lại lợi ích cho nhân dân, thực sự "của dân, do dân và vì dân". 1.2.1.2. Xã hội hoá giáo dục: XHHGD được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân, toàn thể xã hội tham gia vào sự nghiệp GD. XHHGD là làm cho hoạt động GD trở thành hoạt động chung của toàn xã hội. XHHGD là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động GD và cộng đồng xã hội, là làm cho GD phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội. XHHGD là duy trì sự cân bằng động giữa hoạt động GD và xã hội sẽ tạo động lực cho việc huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển GD. XHHGD là cách nói gọn của "XHH công tác GD" với nội hàm là phương thức, cách thức, phương châm, cách làm GD, tổ chức và quản lý GD. Đảng và Nhà nước ta chủ trương XHHGD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận quan trọng trong đường lối, chính sách GD. Nghị quyết Đại hội X của Đảng xác định: “Đẩy mạnh XHH GD & ĐT. Rà soát, sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng trường công lập; bổ sung chính sách ưu đãi để phát triển các trường ngoài công lập và các trung tâm GD cộng đồng” [35]. Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP của Chính phủ xác định khái niệm XHHGD là: "Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển sự nghiệp GD" [19]. Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, y tế, văn hoá, thể thao ghi rõ: "XHH hoạt động GD là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển sự nghiệp GD nhằm từng bước nâng cao 18 mức hưởng thụ về GD trong sự phát triển về vật chất và tinh thần của nhân dân" [20]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc, XHHGD là: "Làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm đối với GD, GD phục vụ đắc lực cho phát triển KT - XH, thực hiện việc kết hợp GD trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện để GD kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; XHHGD có quan hệ hữu cơ với dân chủ hoá GD" [40]. Tác giả Trần Quang Nhiếp đưa ra một hệ thống các khái niệm về XHHGD: "XHHGD là làm cho các hoạt động mang tính GD của xã hội được huy động vào quá trình GD một cách tích cực, có hiệu quả; là xã hội tham gia giải quyết một cách phù hợp những vấn đề GD đang đặt ra; là đa dạng hoá các loại hình GD; là mở rộng quy mô đáp ứng yêu cầu GD của xã hội; là xây dựng cơ cấu ngành học, cấp học hợp lý; là kiểm soát được chất lượng đào tạo toàn diện và ngày càng nâng lên; là hướng tới đáp ứng các yêu cầu phát triển xã hội; là quá trình tiếp thu có chọn lọc những tri thức, những thành tựu văn minh, tiến bộ của thời đại, của thế giới làm cho GD cập nhật với xã hội hiện đại... XHHGD là phát huy vai trò của các chủ thể trọng yếu mà nền GD nước nhà đã tổng kết thành phương châm: GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội" [48]. XHHGD, theo chúng tôi phải được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể xã hội tham gia vào sự nghiệp GD, làm cho hoạt động GD trở thành hoạt động chung của toàn xã hội. 1.2.2. Quản lý và quản lý giáo dục 1.2.2.1. Quản lý Từ khi xã hội loài người xuất hiện, con người có sự hợp tác với nhau thì hoạt động quản lý đã được hình thành. Ở đâu có nhóm xã hội thì ở đó cần đến hoạt động quản lý. Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng quản lý vào trong việc tổ chức hoạt động của mình. Quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đối tượng quản lý phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực 19 hoạt động cụ thể, từng giai đoạn phát triển của xã hội mà có những cách hiểu khác nhau về quản lý. Theo Từ điển Tiếng Việt “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [64]. Frederics William Taylor (1856 - 1915) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [26]. Các Mác khẳng định: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất định đến sự quản lý. Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hình thành những chức năng chung, xuất hiện trong toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của bộ phận riêng lẻ của nó” [46]. Có tác giả lại hiểu quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng và thực hiện một cách sáng tạo các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của mình” [18]. Tóm lại, quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một nhóm (hay nhiều nhóm xã hội) cùng nhau thực hiện những nhiệm vụ và mục đích chung. Quản lý có vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động của xã hội. 1.2.2.2. Quản lý GD Quản lý GD là một bộ phận của quản lý xã hội, là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt tới kết quả mong muốn. Quản lý GD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động GD của những người làm công tác GD. 20 Quản lý GD cũng có các chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá quá trình GD. Nội dung của quản lý GD là quản lý các yếu tố cấu thành quá trình GD tổng thể, bao gồm: mục tiêu GD, nội dung GD, phương pháp GD, nhà GD, người được GD, kết quả GD, đồng thời quản lý các cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, GD, môi trường GD, các lực lượng GD. Như vậy, quản lý GD là quản lý quá trình sư phạm, quá trình dạy học GD diễn ra ở tất cả các cấp học, bậc học và cơ sở GD, làm cho quá trình đó vận hành đúng đường lối, quan điểm GD của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 1.2.3. Quản lý Xã hội hoá giáo dục Quản lý XHHGD được hiểu là quá trình chỉ đạo, điều hành công tác XHHGD, là hệ thống những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý đến các lực lượng trong và ngoài ngành GD nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu quả mục tiêu GD. Quản lý XHHGD đòi hỏi phương pháp mềm dẻo, linh hoạt, tạo được những phong trào, định hướng được phong trào, phát huy dân chủ trong nhân dân, tăng cường nguồn lực của xã hội và cộng đồng nhằm thực hiện mục tiêu GD: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” 1.2.4. Giải pháp quản lý Theo Từ điển tiếng Việt, "giải pháp" là cách giải quyết một vấn đề nào đó [49]. Giải pháp có 02 loại: giải pháp hành chính và giải pháp quân sự. Giải pháp quản lý GD là loại giải pháp hành chính nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong công tác quản lý GD, để chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý theo mục tiêu đào tạo của nhà trường. Giải pháp là hệ thống những tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định. 1.3. Một số vấn đề về xã hội hoá giáo dục
- Xem thêm -