Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh nhno ptnt tỉnh hải dương

  • Số trang: 39 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Luận văn Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương LỜI NÓI ĐẦU Là một nước đang phát triển, xuất phát điểm với một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Đảng và nhà nước ta đã đề ra những chính sách để từng bước cải thiện nền kinh tế nước nhà và tiến tới một xã hội văn minh phồn thịnh hơnxã hội XHCH. Hệ thống ngân hàng giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc biến chủ trương đó thành hiện thực bởi ngân hàng là nguồn chủ yếu huy động cung cấp vốn, khơi dậy tiềm năng và phát triển kinh tế. Nhờ có hệ thống ngân hàng các nguồn vốn đầu tư được lưu chuyển đến những nơi cần thiết để phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Đó chính là hoạt động của tín dụng ngân hàng, một đòn bẩy quan trọng góp phần làm thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, mặt trái của nó luôn tồn tại song hành với hoạt động tín dụng đó là “rủi ro”. Vâng đây là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro tín dụng trong một số trường hợp không những gây thiệt hại cho chính Ngân hàng đó mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cả hệ thống Ngân hàng và nền kinh tế. Nhân thức được tầm quan trọng của vấn đề trên em đã chọn đề tài: “ Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương” để làm luận văn tốt nghiệp. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương I: Ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng trong nền kinh tế thị trường. Chương II: Thực trạng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương. Chương III: Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương. CHƯƠNG I NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG I- NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại. 1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại. Hệ thống NHTM hình thành và phát triển trong một quá trình lâu dài với nhiều hình thái kinh tế xã hội, nó ra đời trên cơ sở nền sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển. Ngày nay, hoạt động của các tổ chức môi giới trên thị trường tài chính ngày càng phát triển về số lượng, quy mô, hoạt động đa dạng phong phú và đan xen lẫn nhau. Trong mỗi nước có một mô hình riêng về hệ thống trung gian tài chính nhưng phải nói các NHTM lớn nhất cả về phạm vi, đối tượng cũng như khối lượng hoạt động giao dịch và dịch vụ. Tuy khái niệm về NHTM còn có những điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất coi NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt trên thị trường chuyên kinh doanh tiền tệ mà phần lớn không phải bằng nguồn vốn tự có của mình, chủ yếu bằng nguồn vốn vay mượn trong xã hội thông qua việc huy động tiền gửi, cho vay và làm trung gian cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Tại Việt Nam, theo luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ chức tín dụng được ban hành ngày 26/12/1997, NHTM được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư, thực hiện nghĩa vụ chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán”. 1.2 Vai trò của Ngân hàng thương mại. Cùng với sự nghiệp đổi mới và đi lên của đất nước thì không thể phủ nhận vai trò đóng góp to lớn của ngành Ngân hàng: Thứ nhất: NHTM là nguồn chủ yếu huy động cung cấp vốn khơi dậy tiềm năng và phát triển kinh tế. Thứ hai: NHTM là thủ quỹ của các tổ chức kinh tế. Thứ ba: NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường thông qua hoạt động tín dụng của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp. Thứ tư: NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thứ năm: NHTM là cầu nối của nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. 2. Các nghiệp vụ chính của ngân hàng thương mại ( hoạt động chủ yếu). Cùng với thời gian các nhiệm vụ của NHTM càng được bổ sung và hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên dù ở mức độ thị trường nào NHTM vẫn duy trì ba nghiệp vụ kinh doanh chính ( Nghiệp vụ tài sản nợ, Nghiệp vụ tài sản có, Nghiệp vụ trung gian) và nếu thiếu một trong ba yếu tố đó thì Ngân hàng sẽ không còn tồn tại. 2.1 Hoạt động huy động vốn (Nghiệp vụ tài sản nợ). Đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản, đầu tiên, chủ yếu của NHTM và thông qua nghiệp vụ này NHTM thực hiện chức năng tạo tiền. NHTM đã tiến hành thu gom, tiếp nhận, quản lý lượng tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội dưới các hình thức như: Nhận tiền gửi tiếc kiệm, tiền gửi thanh toán,.....Trong đó tiền gửi bao gồm: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn. Ngoài ra NHTM còn phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi, các trái phiếu Ngân hàng hay đi vay từ các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. 2.2 Hoạt động sử dụng vốn (nghiệp vụ tài sản có). Trong nền kinh tế thị trường, NHTM thực chất cũng là một doanh nghiệp. Vì vậy khi kinh doanh phải coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và cuối cùng, để tạo ra lợi nhuận và thu nhập cho ngân hàng thì các NHTM phải biết sử dụng và khai thác nguồn vốn một cách triệt để và hiệu quả nhất. Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh sinh lời chủ yếu của NHTM, các NHTM dùng phần lớn vốn huy động để cho vay nhằm thu lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa chi phí đầu vào (lãi xuất huy động) và chi phí đầu ra (lãi suất cho vay). Thực hiện nghiệp vụ này các NHTM không những đã thực hiện được chức năng xã hội của mình thông qua việc mở rộng vốn đầu tư gia tăng sản phẩm xã hội, cải thiện đời sống nhân dân mà còn có ý nghĩa rất lớn đến toàn bộ đời sống kinh tế thông qua các hoạt động tài trợ cho các ngành, các lĩnh vực phát triển công nghiệp, nông nghiệp và các ngành sản xuất dịch vụ khác trong nền kinh tế. Ngoài hoạt động cho vay là chủ yếu, các NHTM còn thực hiện các hoạt động đầu tư hùn vốn, liên doanh liên kết, kinh doanh chứng khoán trên thị trường tài chính. Hoạt động này vừa mang lại lợi nhuận cho ngân hàng vừa góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế. 2.3 Hoạt động trung gian thanh toán (Nghiệp vụ trung gian). Ngân hàng làm trung gian thanh toán thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng bằng cách cung cấp các công cụ thanh toán thuận lợi như: Séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán, thư tín dụng,.... Hoạt động này góp phần làm tăng lợi nhuận thông qua việc thu phí dịch vụ thanh toán và đồng thời làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng, thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng. Ngoài ra còn có tác dụng bổ trợ cho hai nghiệp vụ trên nhằm thu hút và thoả mãn nhu cầu của khách hàng. 3- Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài ý muốn không dự tính trước được gây ra những thiệt hại cho một công việc cụ thể nào đó. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thường xảy ra những loại rủi ro sau:  Rủi ro nguồn vốn: Thường xảy ra một trong hai trường hợp sau: - Trường hợp thừa vốn: Tức là vốn bị ứ đọng không cho vay và đầu tư được, vì vậy không sinh lời; trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả lãi hàng ngày cho người có tiền gửi vào ngân hàng. - Trường hợp thiếu vốn: Xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu cho vay và đầu tư hoặc không đáp ứng được nhu cầu thanh toán của khách hàng.  Rủi ro tín dụng: Là những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu khi khách hàng không trả, trả không đầy đủ hoặc không trả đúng hạn tiền gốc và tiền lãi.  Rủi ro lãi suất: Là những tổn thất cho Ngân hàng khi lãi suất thị trường có sự biến đổi.  Rủi ro hối đoái: Là loại rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường. Rủi ro này xuất hiện khi ngân hàng không có sự cân bằng về trạng thái ngoại hối tại thời điểm tỷ giá biến đổi.  Rủi ro thanh toán: Đây là loại rủi ro trong quá trình thanh toán có thể do sai sót nghiệp vụ hoặc bị lợi dụng trong thanh toán séc, thẻ, thanh toán điện tử.  Các rủi ro khác: Đó là những rủi ro do thiên tai mang lại như: Thiên tai, hoả hoạn, động đất, hoặc bị lừa đảo, mất trộm,.... làm thiệt hại đến tài sản của ngân hàng. Tuy nhiên ta có thể dễ dàng hạn chế nó bằng các biện pháp bảo hiểm. II- RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tín dụng. Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế thị trường là một hoạt động rất nhạy cảm, mọi biến động trong nền kinh tế xã hội đều nhanh chóng tác động đến hoạt động của ngân hàng, nó có thể gây xáo chộn bất ngờ và dẫn đến sự giảm sút trầm trọng về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy hoạt động kinh doanh của NHTM luôn chứa đựng những rủi ro “tiềm ẩn”, nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vậy rủi ro tín dụng là: Rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán (Giáo trình tín dụng của học viện ngân hàng) 2. Các hình thức rủi ro tín dụng. 2.1 Không thu được lãi đúng hạn Cấp độ thấp nhất là khi người vay không trả được tiền lãi đúng kỳ hạn, khi đó ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này được xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trường hợp khách hàng muốn quỵt nợ, chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối vốn khi đến kỳ hạn trả lãi của khách hàng, khách hàng phải tạm hoãn trả lãi cho ngân hàng. 2.2 Không thu được vốn (nợ gốc) đúng hạn. Khi không thu được nợ gốc đúng hạn cũng có nghĩa là một lượng vốn cho vay có thể gây khó khăn tạm thời. Khi đó ngân hàng sẽ chuyển số nợ gốc đó sang mục nợ quá hạn phát sinh. Khoản mục này phát sinh vào thời gian đáo hạn của hợp đồng tín dụng. 2.3 Không thu được lãi hoặc thu không đủ tiền lãi. Không thu đủ lãi làm lãi treo đóng băng và điều này làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. 2.4 Không thu đủ vốn cho vay Không thu đủ vốn cho vay là nợ không có khả năng thu hồi, nếu tình trạng này phát sinh thường xuyên thì ngân hàng sẽ mất vốn và kéo dài thì ngân hàng sẽ phá sản. Trên đây là bốn hình thức giúp cho NHTM nhận biết rủi ro tín dụng và có biện pháp xử lý. Tuy nhiên, không phải lúc nào gặp rủi ro tín dụng thì ngân hàng đều phải trải qua bốn trường hợp trên. Có trường hợp khách hàng trả lãi rất đầy đủ và đúng hạn nhưng cuối cùng lại không thể trả được nợ gốc cho ngân hàng. Vì vậy, khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào các trường hợp có nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng như là lãi treo phát sinh và đặc biệt là nợ quá hạn phát sinh còn ở các trường hợp khác có lãi treo đóng băng hay nợ không có khả năng thu hồi được coi là rủi ro thực sự nên thường được xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra những bài học kinh nghiệm. 3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. 3.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng.  Khách hàng là cá nhân: Sau khi vay vốn của ngân hàng thường có rủi ro do một số nguyên nhân sau: Cá nhân thiếu năng lực pháp lý, thu không ổn định, bị mất việc làm , các sự kiện trong gia đình, trộm cắp hoặc sử dụng vốn sai mục đích, thậm chí do cá nhân có mục đích lừa đảo ngân hàng. Việc quản lý quá trình sử dụng vốn vay ngân hàng đối với các cá nhân thường là rất khó khăn khi xảy ra các biến cố sẽ làm cho các cá nhân không trả nợ cho ngân hàng và việc thu hồi nợ đối với cá nhân thường kéo dài và phức tạp.  Khách hàng là các doanh nghiệp: - Sự yếu kém về trình độ kỹ thuật, máy móc thiết bị lạc hậu làm cho năng suất lao động thấp, chất lượng kém giá thành cao dẫn đến hàng hoá ứ đọng, thua lỗ trong kinh doanh. - Khả năng tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo còn nhiều hạn chế, trong nền kinh tế thị trường muốn thành công trong kinh doanh thì các doanh nghiệp cần phải có kiến thức, kỹ năng quản trị kinh doanh chứ không thể thành đạt chỉ bởi lòng nhiệt tình và sự chịu đựng gian khổ. - Tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Tài chính khó khăn, vốn tự có thấp trong khi tồn tại nhiều nợ nần có thể khiến doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích như: Doanh nghiệp dùng vốn vay ngắn hạn để mua sắm tài sản cố định hoặc kinh doanh bất động sản nên khi đến hạn phải trả nợ vẫn chưa kịp chuyển đổi thành tiền. Tất cả các nguyên nhân trên là từ phía khách hàng đối tác không thể thiếu trong các quan hệ tín dụng. Họ là người mang lại thu nhập cho ngân hàng, đồng thời đưa lại cho ngân hàng những nguy cơ rủi ro cho nên nếu hạn chế được những nguy cơ đó sẽ làm tăng đáng kể lợi nhuận cho ngân hàng. 3.2 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng. Thường thì khi nhắc đến rủi ro tín dụng, người ta thường nghĩ đến đó là do khách hàng không chấp hành đúng những thoả thuận với ngân hàng. Nhưng như thế thì chưa đủ, bởi vì ngân hàng là người quyết định cho vay hay không cho vay. Do vậy ngân hàng không thể không có những sai sót dẫn đến rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng có thể tổng hợp thành những nguyên nhân như sau: - Ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng không phù hợp với nền kinh tế. - Do cán bộ tín dụng chưa chấp hàng đúng quy trình cấp tín dụng, không đảm bảo đúng các nguyên tắc tín dụng. - Năng lực và trình độ quản lý của một bộ phận cán bộ tín dụng ngân hàng chưa đáp ứng kịp với diễn biến rất nhanh của nền kinh tế thị trường. - Do áp lực cạnh tranh với các ngân hàng khác. - Do việc tăng dư nợ không đi kèm với việc quản lý của cán bộ tín dụng nên dẫn đến tình trạng quá tải đối với cán bộ tín dụng, dư nợ bình quân quá lớn, số món vay nhiều, thuộc mọi lĩnh vực kinh tế nên cán bộ chuyên trách khó kiểm soát thường xuyên liên tục để có biện pháp hữu hiệu kịp thời ngăn chặn. - Do đạo đức nghề nghiệp của cán bộ Ngân hàng còn yếu kém, bất cập. - Công tác thanh tra kiểm soát nội bộ chưa theo kịp yêu cầu quản lý tín dụng. 3.3 Nguyên nhân khác  Môi trường kinh tế chưa ổn định do chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước đang trong quá trình điều chỉnh, các doanh nghiệp phải cạnh tranh gay gắt với nạn hàng giả và hàng nhập lậu.  Môi trường pháp lý trong lĩnh vực tín dụng chưa thật sự hoàn thiện, các văn bản pháp lý chưa đồng bộ khi thực hiện còn nhiều vướng mắc tạo ra các khe hở để kẻ xấu lợi dụng gây rủi ro cho cả doanh nghiệp và ngân hàng .  Sự bất bình đẳng trong đối sử của một số cơ quan quản lý Nhà nước dành cho các NHTM khác nhau.  Ngoài ra, các nguyên nhân rủi ro do điều kiện tự nhiên như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh..... là những rủi ro mang tính chất thuần tuý có thể xảy ra đối với mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực kinh doanh. Các nhân tố này khi đã xảy ra đều làm ngừng trệ sản xuất kinh doanh và thiệt hại tiền của, của doanh nghiệp, đe doạ khả năng thu hồi nợ của ngân hàng. Như vậy, ngân hàng đã gián tiếp phải gánh chịu những rủi ro do thiên tai gây ra. III- SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG. Như chúng ta đã biết ngân hàng chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, chỉ cần một biến động nhỏ trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới hoạt động của các ngân hàng, và ngược lại khi các ngân hàng có vấn đề nhỏ sẽ ngay lập tức tác động đến các chủ thể khác trong nền kinh tế. Đặc biệt với vai trò quyết định sự sống còn của các NHTM, nếu rủi ro tín dụng xảy ra thì nó sẽ để lại hậu quả khôn lường. 1. Đối với bản thân ngân hàng. Trước tiên đó là thu nhập và lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị giảm sút, thậm trí thua lỗ. Sau đó là đến vấn đề uy tín, khi một ngân hàng hoạt động không có hiệu quả, uy tín sẽ bị suy giảm nghiêm trọng, khách hàng ồ ạt đến rút tiền, hoặc không đầu tư tiếp nữa. Ngân hàng sẽ không có vốn để kinh doanh, hoặc thiếu vốn làm cho hoạt động bị gián đoạn, có khi bị ngừng lại dẫn đến thua lỗ, thu nhập của nhân viên bị giảm sút, họ sẽ không có đủ điều kiện công tác tốt, không thể cống hiến hết mình cho cơ quan được, đây lại càng là nguyên nhân làm cho hoạt động của ngân hàng đi hết khó khăn này đến khó khăn khác. Nếu không có một quyết định bình tĩnh, đúng đắn sẽ làm cho ngân hàng đi vào thế bế tắc, dẫn đến phá sản ngân hàng. Vì vậy việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là một việc làm cần thiết và cấp bách đối với các NHTM. 2. Đối với nền kinh tế. Có nhà kinh tế đã từng nói, nếu nền kinh tế là một cơ thể sống thì hệ thống ngân hàng được coi là mạch máu. Khi rủi ro tín dụng xảy ra nó không chỉ thiệt hại cho bản thân, mà còn để lại hậu quả vô cùng to lớn đối với nền kinh tế. Có thể chu kỳ kinh tế bị biến đổi, lạm phát gia tăng, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ do không có đủ vốn,.... Ngoài ra do thu nhập của chính những cán bộ ngân hàng bị giảm nên nhu cầu tiêu dùng cũng giảm theo làm cho một phần hàng hoá bị ứ đọng chẳng hạn. Trên đây chỉ là nêu điển hình một số thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra, còn muôn vàn những vấn đề mà chúng ta không thể liệt kê được, như ảnh hưởng đến sự an nguy của nền chính trị xã hội, nền giáo dục, y tế quốc phòng...Vậy nên các NHTM, các chủ thể của nền kinh tế, tất cả hãy nâng cao tinh thần trách nhiệm, chấp hành đúng các quy định của pháp luật để hạn chế tối đa nhất những rủi ro nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng. Góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH HẢI DƯƠNG I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI NHÁNH NHNo&PTNT TỈNH HẢI DƯƠNG 1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương Chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương tiền thân là Ngân hàng nông nghiệp tỉnh Hải Hưng, được thành lập theo quyết định số 57/NH-QĐ ngày 1/7/1988, và là một đơn vị trực thuộc NHNoVN Trải qua 4 lần đổi tên và chia tách nhằm đáp ứng các nhiệm vụ kinh tế- chính trị của mỗi giai đoạn từ 01/06/1998 đến nay Ngân hàng chính thức được gọi là NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương theo quyết định số 595/ QĐ- NHNo- 02 ngày 16/12/1996 của tổng giám đốc NHNo&PTNTVN, hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của NHNo&PTNTVN thực hiện cơ bản những nhiệm vụ kinh tế, chính trị tại địa phương: đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế nói chung, phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới nói riêng, với các chức năng chủ yếu như: Huy động vốn, hoạt động tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán ngân quỹ, và kinh doanh các dịch vụ Ngân hàng khác,....... Hệ thống NHNo&PTNTVN nói chung khi mới thành lập gặp muôn vàn khó khăn tưởng như không trụ nổi, lúc bấy giờ NHNo được gọi là Ngân hàng 10 nhất: Thiếu vốn nhất, đông người nhất, chi phí kinh doanh cao nhất, dư nợ thấp nhất, tổn thất rủi ro cao nhất, cơ sở vật chất lạc hậu nhất, trình độ nghiệp vụ non kém nhất, kinh doanh thua lỗ nhất, đời sống cán bộ khó khăn nhất, tín nhiệm khách hàng thấp nhất. NHNo Hải Dương cũng năm trong tình trạng chung đó. Song với đường lối và chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước, với sự quan tâm giúp đỡ của các cấp uỷ, chính quyền địa phương, sự phối hợp hỗ trợ của các ngành, các đoàn thể trong tỉnh, sự tín nhiệm của khách hàng và nhân dân, đặc biệt là các thể lệ chế độ nghiệp vụ và sự chỉ đạo có bài bản phù hợp với thực tế của NHNo&PTNTVN cùng với ý chí tự lực, tự cường của Ngân hàng. Cho đến nay, Ngân hàng đã cơ bản vượt qua khó khăn, liên tục đổi mới công nghệ, đào tạo lại cán bộ, sắp xếp lại mô hình tổ chức với 33 chi nhánh, 1 hội sở, 12 ngân hàng nông nghiệp huyện, 1 NHNo Thành Phố, 14 chi nhánh NHNo cấp III trực thuộc các chi nhánh huyện và hội sở, 5 phòng giao dịch được phân bổ rộng khắp trên toàn tỉnh, nhờ hoạt động ngày càng có hiệu quả và với phương châm gần gũi với khách hàng, Ngân hàng đã trở thành người bạn đồng hành không thể thiếu được của bà con nông dân và các tổ chức kinh tế. 2- Cơ cấu tổ chức của chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương. Hiện nay Chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương có tổng số cán bộ công nhân viên là 95 người (trong tổng số CB có 58 nữ, 37 nam) và được bố trí theo sơ đồ sau: MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA NHNo&PTNT TỈNH HẢI DƯƠNG BAN GIÁM ĐỐC PHÒNG TÍN DỤNG PHÒNG HÀNH CHÍNH PHÒNG KẾ TOÁN NGÂN QUỸ PHÒNG VI TÍNH PHÒNG TỔ CHỨC CÁN BỘ PHÒNG NGUỒN VỐN VÀ KẾ HOẠCH TỔNG HỢP PHÒNG THANH TOÁN QUỐC TẾ PHÒNG THẨM ĐỊNH PHÒNG KIỂM TRA KIỂM TOÁN NỘI BỘ Trong đó:  Ban lãnh đạo: (gồm có 1 giám đốc và 2 phó giám đốc) chịu trách nhiệm lãnh đạo và điều hành mọi hoạt động kinh doanh của chi nhánh.  Phòng tín dụng: Kiểm tra, xem xét và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp uỷ quyền. Lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao, chỉ đạo điều hành hoạt động kinh doanh toàn tỉnh.  Phòng hành chính: Có nhiệm vụ làm công tác văn phòng, hành chính văn thư lưu trữ và phục vụ hậu cần (lễ tân) thực hiện công tác xây dựng cơ bản, sửa chữa TSCĐ, mua sắm công cụ lao động,......  Phòng kế toán- ngân quỹ: - Thực hiện các nghiệp vụ kế toán ngân hàng, hạch toán tiền gửi, tiền vay, thanh toán chuyển tiền cho các đơn vị, làm nhiệm vụ hạch toán nội bộ, quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng của NHNo&PTNT trên địa bàn. - Ngân quỹ: Có chức năng thu chi tiền mặt, đáp ứng yêu cầu tiền mặt cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá nhân trên địa bàn đảm bảo an toàn kho quỹ.  Phòng vi tính: Tổng hợp, thống kê và lưu trữ số liệu thông tin liên quan đến hoạt động của chi nhánh, xử lý các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ và tín dụng, và các hoạt động khác phục vụ cho hoạt động kinh doanh.  Phòng tổ chức cán bộ: Có nhiệm vụ theo dõi nhân sự, xây dựng lề lối làm việc trong đơn vị và mối quan hệ với tổ chức Đảng, công đoàn, chi nhánh trực thuộc trên địa bàn, đề xuất định mức lao động. Thực hiện công tác quy hoạch cán bộ, tổng hợp theo dõi thường xuyên cán bộ nhân viên được quy hoạch đào tạo.  Phòng nguồn vốn và kế hoạch tổng hợp: Xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược khách hàng, tham mưu cho ban lãnh đạo về công tác nguồn vốn, cân đối nguồn vốn, sử dụng vốn và điều hoà vốn kinh doanh đối với các chi nhánh trên địa bàn.  Phòng thanh toán quốc tế: Thực hiện công tác thanh toán quốc tế thông qua mạng SWIFT NHNo&PTNTVN, các nghiệp vụ tín dụng, bảo lãnh, ngoại tệ có liên quan đến thanh toán quốc tế, các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ (muabán, chuyển đổi) thanh toán quốc tế trực tiếp theo quy định.  Phòng thẩm định: Thu thập, quản lý, cung cấp những thông tin phục vụ cho việc thẩm định và phòng ngừa rủi ro tín dụng.  Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ: Xây dựng chương trình công tác năm, quỹ phù hợp với công tác kiểm tra, kiểm toán, đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngay tại hội sở và các chi nhánh phụ thuộc. 3. Tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh 3.1 Hoạt động huy động vốn Phương châm hoạt động của NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương cũng như các Ngân hàng khác là “ đi vay để cho vay”. Chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương đã tự khai thác và tăng trưởng nguồn vốn để phục vụ các chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Ngoài việc thực hiện tốt các hình thức huy động vốn truyền thống Chi nhánh đã thường xuyên nghiên cứu thị trường vốn để đưa ra các sản phẩm với lãi suất phù hợp với quan hệ cung cầu, mở rộng thêm các hình thức huy động tiền gửi và đầu tư khác nhau, với nhiều kỳ hạn khác nhau, hình thức trả lãi cũng khác nhau tuỳ từng thời kỳ. Bên cạnh đó cải tiến phương thức phục vụ đối với khác hàng, mở rộng mạng lưới huy động vốn đến từng khu dân cư tập trung, tạo niềm tin và thu hút được khách hàng đến với ngân hàng gửi tiền. Do đó đã góp phần tăng trưởng nguồn vốn, tạo được cơ cấu hợp lý và điều đó được thể hiện ở bảng sau: Bảng 1: Tình hình và kết quả huy động vốn. Đơn vị:Triệu đồng VN Năm 2003 Năm 2004 So sánh2004/2003 Số tiền Chỉ tiêu Số tiền T.T Số tiền T.T Tăng (+) Tỷ lệ % % Giảm (-) Tăng giảm % Tổng vốn huy động ( ) 902.647 100 1.453.295 100 550.648 61 TG các tổ chức kinh tế 256.420 28,4 643.321 44,3 386.901 151 TG dân cư 646.227 71,6 809.974 55,7 163.747 25,3 TG không kỳ hạn 254.844 28,2 519.422 35,7 264.578 103,8 TG có kỳ hạn 647.803 71,8 933.873 64,3 286.070 44,2 TG nội tệ 873.432 96,7 1.334.355 91,8 460.923 52,7 TG ngoại tệ 29.215 3,3 118.940 8,2 89.725 307 1- Phân theo khách hàng 2- Phân theo tính chất 3- Phân theo loại tiền (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2003- 2004)  Trong cơ cấu phân theo khách hàng: - Thì tiền gửi của các tổ chức kinh tế năm 2004 đạt 643.321 triệu đồng chiếm 44,3% trong tổng nguồn vốn huy động tăng 386.901 triệu đồng (+151%) so với năm 2003. - Tiền gửi dân cư: Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động và có mức tăng trưởng ổn định qua các năm. Qua biểu số liệu cho thấy, nguồn tiền gửi dân cư năm 2004 đạt 809.974 triệu đồng chiếm 55,7% trong tổng nguồn vốn huy động tăng 163.747 triệu (+25,3%) so với năm 2003. Sở dĩ có được kết quả như vậy, ngoài việc giữ được uy tín với khách hàng, các hình thức huy động truyền thống..... Chi nhánh đã mạnh dạn đưa ra các hình thức huy động tiết kiệm mới như: Tiết kiệm bậc thang triển khai năm 2003, tiết kiệm có thưởng triển khai năm 2004 đã giúp cho khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn hơn trong điều kiện nhiều kênh huy động vốn trên thị trường.  Nếu phân theo tính chất của huy động vốn thì tiền gửi không kỳ hạn năm 2004 đạt 519.422 triệu đồng, chiếm 35,7% trong tổng nguồn vốn, tăng 264.578 triệu đồng (+103,8%) so với cuối năm 2003. Tiền gửi có kỳ hạn đạt mức tăng 933.873 triệu đồng, chiếm 64,3% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 286.070 triệu đồng (+44,2%) so với cuối năm 2003. Điều đó chứng tỏ chất lượng dịch vụ Ngân hàng cũng như hiệu quả kinh doanh của chi nhánh đang ngày càng được nâng lên.  Nếu phân theo loại tiền thì qua bảng số liệu cho ta thấy công tác huy động vốn cả nội tệ và ngoại tệ đều có mức tăng trưởng rõ nét, song nhìn chung tốc độ tăng trưởng nội tệ có chiều hướng nhanh hơn so với ngoại tệ, nhưng về tỷ trọng thì nguồn vốn ngoại tệ ngày càng có vị trí nhất định trong tổng nguồn vốn huy động. Cụ thể nếu như năm 2003 vốn huy động bằng ngoại tệ chiếm 3,3% thì năm 2004 đã chiếm 8,2%, đẩy nguồn vốn huy động bằng nội tệ có tỷ trọng từ 96,7% năm 2003 xuống còn 91,8% năm 2004. 3.2 Hoạt động sử dụng vốn (hoạt động cho vay). Đây là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và có tác động tích cực nhất đối với nền kinh tế địa phương. Năm 2004 nhờ có nhiều chính sách áp dụng thúc đẩy hoạt động cho vay nên tổng doanh số cho vay tăng nhiều so với năm 2003 và được thể hiện qua bảng số liệu sau: Bảng 2: Kết quả cho vay của Chi nhánh Đơn vị: Triệu đồng VN Năm 2003 Chỉ tiêu Số tiền T.T Số tiền % 1. Tổng doanh số cho vay So sánh 2004/2003 Năm 2004 Số tiền Tỷ lệ % T.T Tăng giảm Tăng giảm % ( ) ( ) 1.339.337 100 1.749.384 100 410.047 30,6 - Cho vay ngắn hạn 689.809 51,5 1.064.376 60,8 374.567 54 - Cho vay trung, dài hạn 649.528 48,5 685.008 39,2 35.480 5,46 2. Doanh số thu nợ 977.628 100 1.479.622 100 501.994 51,3 - Dsố thu nợ ngắn hạn 542.114 55,5 816.135 55,2 274.021 50,5 - Dsố thu nợ trung, dài hạn 435.514 44,5 663.487 44,8 227.973 52,3 1.286.145 100 1.555.907 100 269.762 21 - Dư nợ ngắn hạn 472.034 36,7 720.275 46,3 248.241 52,6 - Dư nợ trung, dài hạn 814.111 63,3 835.632 43,7 21.521 2,6 3. Tổng dư nợ (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2003-2004) Tổng doanh số cho vay đến ngày 31/12/2004 là 1.749.384 triệu đồng, tăng 410.047 triệu so với năm 2003, tỷ lệ tăng 30,6%. Trong đó: - Cho vay ngắn hạn năm 2004 tăng 54% so với năm 2003 - Cho vay trung, dài hạn năm 2004 tăng 5,46% so với năm 2003 Doanh số thu nợ năm 2004 tăng so với năm 2003 là 501.994 triệu đồng, tỷ lệ tăng 51,3%. - Doanh số thu nợ ngắn hạn năm 2004 so với năm 2003 tăng 50,5% - Doanh số thu nợ trung, dài hạn tăng 227.973 triệu đồng, tỷ lệ tăng 52,3%. Tổng dư nợ đến ngày 31/12/2004 là 1.555.907 triệu đồng tăng so với năm 2003 là 269.762 triệu, tỷ lệ tăng 21% - Dư nợ ngắn hạn năm 2004 là 720.275 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 46,3% trong tổng dư nợ và tăng so với năm 2003 là 52,6%. - Dư nợ trung, dài hạn cũng tăng so với năm 2003 là 2,6% Về cơ cấu dư nợ tương đối phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của địa phương. Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn lớn nhưng không nhiều, đó là một kết cấu hợp lý và thuận lợi. 3.3 Các hoạt động khác  Công tác kế toán và ngân quỹ: Cho đến nay trong hệ thống NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương đã có gần 900 tài khoản bao gồm cả tài khoản cá nhân và tài khoản của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Mặc dù khối lượng thu chi tiền mặt tăng cao (cả nội và ngoại tệ) định biên cán bộ làm ngân quỹ có hạn, nạn tiền giả lớn,… song công tác ngân quỹ được lãnh đạo đặc biệt quan tâm, các cán bộ thừa hành nhiệm vụ thực hiện nghiêm túc nên không để xẩy ra sai phạm, thiếu quỹ. Trong quá trình thu chi tiền mặt toàn chi nhánh đã phát hiện và thu giữ 4.650 tờ bạc giả với số tiền 272,7 triệu đồng tăng 102,7 triệu so với năm 2003. Trong năm đã trả tiền thừa cho khách hàng 805 món, số tiền là 262 triệu đồng, tăng 4 triệu so với năm 2003. Qua đó đã tạo được lòng tin, uy tín đối với khách hàng.  Dịch vụ chi trả kiều hối: Năm 2004 là năm có doanh số chi trả kiều hối lớn nhất từ trước đến nay (cả nước thông qua hệ thống ngân hàng đạt 3 tỷ USD). Toàn chi nhánh có mạng lưới rộng, đối tượng chủ yếu là người lao động việt nam đi làm việc tại nước ngoài nên đã có tổng doanh số chi trả kiều hối 13.047 món (tăng 125% so với năm 2003) số tiền là 17.288 ngàn USD (tăng 242% so với năm 2003) tương đương 273 tỷ VNĐ. Bình quân mỗi ngày giao dịch có 48 món chuyển tiền từ nước ngoài về, ngày cao điểm là 180 món. II- THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT TỈNH HẢI DƯƠNG 1. Nhận dạng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương. Rủi ro tín dụng là một vấn đề được quan tâm đặc biệt đối với mọi ngân hàng. Một quan hệ tín dụng phát sinh, về cả phía Ngân hàng và khách hàng đều có ý thức và những biện pháp đảm bảo phòng tránh tối đa những rủi ro có thể xảy ra. Tuy nhiên, như ta vẫn thường nói: “ Không có gì là tuyệt đối”. Rủi ro là điều không thể tránh khỏi. Rủi ro tín dụng được thể hiện dưới các dạng: Nợ quá hạn (NQH), nợ được giãn, nợ được khoanh. 1.1 Nợ quá hạn Là khoản vay đã đến hạn trả nợ mà khách hàng chưa trả được đúng như trong hợp đồng tín dụng, cũng không có lý do chính đáng để xin gia hạn nợ do đó phải chuyển sang nợ quá hạn. Đó là một trong ba loại rủi ro tín dụng nhưng ở mức độ thấp, có nhiều khả năng thu hồi. Về mặt thời gian người ta chia nợ quá hạn ra thành 3 loại: - NQH dưới 6 tháng, được xếp vào loại nợ quá hạn bình thường, có nhiều khả năng thu hồi. Đây là loại nợ quá hạn thường gặp. - NQH từ 6 tháng đến 12 tháng, được gọi là nợ quá hạn có vấn đề. Khả năng thu hồi nợ khó khăn hơn, ngân hàng phải mất nhiều công sức để phân tích nguyên nhân, tìm giải pháp, tăng cường đôn đốc, kiểm tra để thu nợ. - NQH trên 12 tháng, được gọi là nợ quá hạn khó đòi. Khả năng thu hồi rất khó khăn, có nhiều phức tạp và phải bằng nhiều biện pháp kể cả phải phát mại tài sản thế chấp, các biện pháp hành chính, pháp luật mới có hy vọng thu được nợ.
- Xem thêm -