Một số giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh hà tây

  • Số trang: 72 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Lời mở đầu Kể từ khi có Luật hợp tác xã mới (1/1/1997), kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX kiểu mới phát triển dưới nhiều hình thức, trình độ khác nhau trong các ngành các lĩnh vực, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn, đã đáp ứng một phần nhu cầu của những người lao động, hộ sản xuất kinh doanh, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển đất nước. Tuy nhiên hiện nay kinh tế HTX đặc biệt là các HTX trong nông nghiệp còn nhiều mặt yếu kém, năng lực nội tại hạn chế, số HTX làm ăn có hiệu quả còn ít, lợi ích đem lại cho các thành viên chưa nhiều. Những hạn chế, yếu kém đó có thể do trình độ phát triển thấp của lực lượng sản xuất nhưng quan trọng hom là do những thiếu sót kuyết điểm của các cấp uỷ Đảng và Chính quyền từ Trung ương đến địa phương: nhận thức về vị trí ,vai trò tất yếu khách quan của Kinh tế tập thể mà nòng cốt là kinh tế HTX chưa thống nhất,việc tuyên truyền chính sách của Đảng và Nhà nước, giải thích mô hình HTX kiểu mới chưa được quan tâm đúng mức, bộ máy quản lý của Nhà nước đối với các HTX hầu như không còn; Nhà nước vừa lúng túng vừa buông lỏng ừong tổ chức chỉ đạo, chưa làm tốt việc tổ chức thi hành luật HTX, chưa quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho HTX; chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để đẩy mạnh phát triển các HTX. Tâm lý hoài nghi, mặc cảm với mô hình HTX kiểu cũ ừong xã hội còn phổ biến. Nghị quyết Đảng IX đã xác định “ Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức đa dạng trong đó nòng cốt là các HTX” Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền Kinh tế quốc dân. Các HTX nông nghiệp trước hết tập trung làm các dịch vụ đầu vào ,đầu ra phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ thành viên, từng bước mở rộng ngành nghề sản xuất kinh doanh tổng hợp.MỞ rộng các hình thức liên doanh liên kết kinh tế giữa HTX với các doanh nghiệp thuộc mọi thảnh phàn kinh tế, nhất là doanh nghiệp Nhà nước. Khi HTX phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của HTX, các liên hiệp HTX. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề phát triển các HTX trong kinh tế nông thôn nói riêng và trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng ho á nói chung, em đã chọn đề tài nghiên cứu 1 à.”Một số giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tình Hà tây”. Đe tài được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình và chu đáo của Cô Giáo Vũ Thị Minh. Do thời gian và trình độ nghiên cứu có hạn nên đề tài của em còn nhiều thiếu sót và hạn chế, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! 1 Phần I Cơ sở lí luận và thực tiễn về Kinh tế họp tác và hợp tác xã I. khái niệm, bản chất và các loại hình Kinh tế họp tác và họp tác xã. l. Kinh tế họp tác . 1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của kinh tế hợp tác (KTHT). Sự hợp tác trong lao động sản xuất của con người diễn ra từ rất sớm vì sự hợp tác trong lao động sản xuất là bản tính xã hội của con người ( Các Mác) thực tiễn cho thấy trong quá trình sản xuất con người buộc phải liên kết với nhau để thực hiện những hoạt động mà từng người tách riêng ra không thể thực hiện được hay thực hiện kém hiệu quả. Nông nghiệp là hoạt động sản xuất vật chất đầu tiên mà con người tiến hành, sản xuất nông nghiệp diễn ra trên không gian rộng và chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các điều kiện khách quan, trong đó có nhiều tác động tự nhiên tiêu cực như hạn hán, bão lụt chỉ có thể được hạn chế và khắc phục khi có sự chung sức của nhiều người sản xuất. Sản xuất nông nghiệp còn mang tính thời vụ nên trong nhiều trường hợp đòi hỏi sự tập trung sức lao động và công cụ lao động để hoàn thảnh một số công việc trong khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, những người sản xuất nông nghiệp lại chủ yếu là các hộ nông dân với nguồn lực rất có hạn. Do vậy khác với các ngành sản xuất khác, sản xuất nông nghiệp luôn đòi hỏi sự liên kết, sự chung sức tự nguyện giữa những người sản xuất để hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất. Tuy nhiên trong nông nghiệp do điều kiện sản xuất cũng như nội dung, tính chất của các hoạt động sản xuất kinh doanh rất đa dạng mà sự liên kết giữa những người sản xuất cũng đa dạng và được thực hiện với những hình thức, quy mô và nội dung khác nhau. Trong các lĩnh vục kinh tế khác nhau, do các hoạt động kinh tế có những đặc điểm riêng mà kinh tế hợp tác có đặc điểm khác. Trong công nghiệp họp tác giữa những người lao động sản xuất có thể thực hiện trong mọi khâu của quá trình sản xuất, từ đảm bảo các yếu tố đầu vào đến khâu trực tiếp sản xuất và tiêu thụ sản 2 phẩm. Ngược lại trong nông nghiệp, đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống chịu ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên và rất mẫn cảm với các tác động của tự nhiên và của con người, chúng luôn đòi hỏi sự chăm sóc tỉ mỉ và thường xuyên của những người chủ thực sự và trực tiếp của đồng ruộng và chuồng trại. Vì vậy trong nông nghiệp họp tác giữa những người lao động sản xuất thường là hợp tác trong các khâu cung ứng các yếu tố đầu vào cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, còn khâu sản xuất trực tiếp thì do các hộ nông dân đảm nhiệm. Traianôp cho rằng: Hợp tác xã nông nghiệp là bổ sung cho các hộ nông dân xã viên, phục vụ nó và nếu không có nó thì kinh tế họp tác không có ý nghĩa. Nhà lý luận người Mỹ Êmiliannôp quan niệm rằng: Hợp tác xã không phải là một xí nghiệp tập thể mà là tập họp xí nghiệp các hộ thành viên vẫn giữ được tính độc lập của mình, khác với các bộ phận của một xí nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào xí nghiệp. Lênin cho rằng “Nếu chúng ta tổ chức được toàn thể nông dân vào họp tác xã thì chúng ta đã đứng được hai chân trên miếng đất xã hội chủ nghĩa”. 1.2. Những nguyên tắc cơ bản của kinh tế hợp tác. Có thể nêu ra nhiều nguyên tắc cơ bản của kinh tế hợp tác, dưới đây chỉ xin nêu ra một số nguyên tắc cơ bản nhất: - Nguyên tắc tự nguyện: Người nông dân trên cơ sở lợi ích của mình mà hoàn toàn tự nguyện, tự quyết định việc gia nhập và ra khỏi các tổ chức kinh tế hợp tác. nguyên tắc tự nguyện có vị trí hết sức quan họng đối với kinh tế hợp tác vì chỉ có dựa trên sự tự nguyện của những người tham gia thì sự liên kết giữa những người tham gia với nhau mới là thực chất và do đó kinh tế họp tác mới có cơ sở vững chắc để hình thành và tồn tại. Lênin luôn nhấn mạnh nguyên tắc tự nguyện và ngưòi coi tự nguyện là nguyên tắc tiên quyết của kinh tế hợp tác. - Nguyên tắc cùng có lợi: Theo nguyên tắc này lợi ích của các thành viên tham gia kinh tế hợp tác đều được đảm bảo. Lợi ích kinh tế thiết thân là động lực, là căn cứ thúc đẩy các hộ nông dân tham gia các tổ chức kinh tế hợp tác. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất có ý nghĩa quyết định nhất đối với kinh tế hợp tác. - Nguyên tắc quản lý dân chủ: Theo nguyên tắc này tổ chức và hoạt động 3 của các đơn vị kinh tế hợp tác phải thực sự dân chủ. Tập thể thành viên của các tổ chức hợp tác phải là người quyết định mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của đơn vị hợp tác mà họ tham gia. - Nguyên tắc giúp đỡ của Nhà nước: Để hình thành và phát triển kinh tế hợp tác thì không thể thiếu sự giúp đỡ của Nhà nước về tài chính, kỹ thuật... Tuy vậy do bản chất của kinh tế hợp tác mà sự giúp đỡ của Nhà nước phải tôn trọng các nguyên tắc trên thì sự giúp đỡ của Nhà nước mới phát huy hết tác dụng. 1.3. Các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp rất đa dạng nên nhu cầu họp tác trong sản xuất kinh doanh cũng đa dạng, từ đó dẫn tới tính đa dạng của các hình thức hợp tác trong nông nghiệp. Các hình thức hợp tác này phân biệt với nhau bởi tính chất, nội dung hoạt động, quy mô hoạt động, quy mô và trình độ tổ chức. Có thể nêu ra một số hình thức chủ yếu của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp. - Tổ hợp tác: Tổ hợp tác thường có quy mô nhỏ, có nội dung hoạt động hẹp, đơn mục tiêu, hình thảnh và hoạt động trên cơ sở hợp tác giản đơn, chưa có tổ chức chặt chẽ, thường có vốn quỹ chung, hoạt động chưa có điều lệ, không phải đăng ký kinh doanh nên chưa phải là pháp nhân kinh tế. Các tổ hợp tác trong nông nghiệp thường không cố định. - Họp tác xã: Họp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có vốn quỹ chung, được cấp đãng ký kinh doanh và có tư cách pháp nhân. Luật HTX nước ta quy định “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật”, ở nước ta HTX được xem là hình thức cơ bản của KTHT. - Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp: Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp là một hình thức họp tác có phạm vi hoạt động linh hoạt, thường gắn với một loại sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi hay một lĩnh vực hoạt động nào đó (nhu hội sinh vật cảnh, hội làm vướn, hội nuôi ong), song không phải là một tổ chức sản xuất kinh doanh, không có tư cách pháp nhân. Các thành viên tham gia chủ yếu là để trao đổi, giúp đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, kỹ thuật sản xuất và tiêu thụ sản phẩm - Hiệp hội theo sản phẩm hay nhóm sản phẩm: Đây là hình thức họp tác có phạm vi hoạt động rộng, có thể là phạm vi một vùng, một miền hay cả nước. 4 Thành viên của hiệp hội là những chủ thể kinh tế (có thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau) tham gia hiệp hội nhằm phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất kinh doanh. Hiệp hội có điều lệ hoạt động song không phải là đơn vị sản xuất kinh doanh. Mỗi hình thức KTHT nêu trên đều có vị trí, vai trò quan họng thích hợp trong những điều kiện nhất định mà khi hình thức hợp tác nào có thể thay thế. Bât kỳ một sự áp đặt hình thức hợp tác không phù họp nào cũng đều dẫn đến làm giảm hiệu quả hoạt động và làm suy yếu kinh tế hợp tác. 2. Họp tác xã: 2.1. Khải niệm. - Theo liên minh HTX quốc tế (International cooperative alliance- ICA): “HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ”. - Tổ chức lao động quốc(TLO) định nghĩa HTX là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù họp với các nhu cầu chung và giải quyết khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu ừách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích và tinh thần chung. - Ngày 20/3/1996 Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật HTX. Tại Điều 1 Luật khẳng dịnh:” HTX là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra để phát huy sức mạnh tập thể, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh - HTX kiểu mới là tổ chức kinh tế tự chủ của những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện 2.2. Những đặc điểm cơ bản của HTX kiểu mới ở Việt Nam. góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúy nhau thực hiện có hiệu quả hơn các 5 hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, có tổ chức chặt chẽ, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình và được đối xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác. - Nguyên tắc tổ chức hoạt động của hợp tác xã: Khi xây dụng HTX kiểu mới phải đảm bảo 5 nguyên tắc cơ bản: Tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTX theo quy định của điều lệ HTX; quản lý dân chủ và bình đẳng, mỗi xã viên đều có quyền ngang nhau trong biểu quyết; tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; chia lãi bảo đảm kết họp lợi ích của xã viên với sự phát triển của HTX. - Quan hệ sở hữu và phân phối trong HTX: Khi ra nhập HTX mỗi xã viên bắt buộc phải góp vốn theo quy định của điều lệ. Phần vốn góp của xã viên thuộc sở hữu của từng thành viên, các nguồn khác thuộc sở hữu chung của HTX. Sau khi làm xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được phân phối như sau: Thanh toán các khoản bù lỗ; trích lập các quỹ của HTX; chia lãi theo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên có tính đến mức độ sử dụng dịch vụ của HTX. - Xã viên HTX: Có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình, mỗi xã viên có thể đồng thời là thành viên cuả nhiều HTX, không phân biệt ngành, nghề, địa giới hành chính. Mỗi xã viên đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. - Quan hệ giữa HTX và xã viên: HTX tôn trọng quyền độc lập tự chủ kinh tế của xã viên. Sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp không phá vỡ tính độc lập tự chủ của kinh tế hộ, trang trại gia đình. Nó có tác đụng tạo điều kiện phát triển tăng thu nhập cho kinh tế của các hộ xã viên. Trên cơ sở đó mà thúc đẩy sự phát triển của kinh tế HTX. - Điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể HTX: Khi thành lập HTX càn phải có điều lệ, phương án sản xuất kinh doanh cụ thể có tính khả thi, được đại hội xã viên thông qua và cơ quan có trách nhiệm phê duyệt. Trong trường hợp giải thể theo nghị quyết của đại hội xã viên, hoặc bị buộc phải giải thể theo quyết định của pháp luật, HTX phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với cơ quan có thẩm quyền. Đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên có thẩm quyền quyết định cao nhất đối với mọi hoạt động của HTX. - HTX là một tổ chức kinh tế do các thành viên tự nguyện lập ra, nó không 6 phải là một tổ chức xã hội. HTX hoạt động theo luật pháp quy định trước hết về mục tiêu kinh tế. HTX chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ xã hội đối với các xã viên của chính HTX, không thể biến HTX thành một tổ chức xã hội, hoặc bắt buộc HTX làm nhiệm vụ như một tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị của địa phương. 2.3. Các loại hình HTX Căn cứ vào điệu kiện cụ thể của Việt Nam việc phan loại HTX thường được dựa vào: Chức năng hoạt động, tính chất trình độ xã hội hoá, quy mô và đặc điểm hình thành HTX. - HTX dịch vụ: Bao gồm 3 loại: HTX dịch vụ từng khâu, HTX dịch vụ tổng hợp đa chức năng và HTX dịch vụ “đơn mục đích” hay HTX “chuyên ngành”. HTX dịch vụ từng khâu có nội dung hoạt động tập chung vào từng lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu công việc trong qua trình sản xuất. HTX dịch vụ tổng hợp - đa chức năng có nội dung hoạt động đa dạng, gồm nhiều khâu dịch vụ cho sản xuất cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm .. .HTX dịch vụ “đơn mục đích” hay HTX “chuyên ngành” thường được hình thành từ nhu cầu của các hộ thành viên cùng sản xuất - kinh doanh một loại hàng hoá tập trung, hoặc cùng làm một nghề giống nhau. - HTX sản xuất kết hợp dịch vụ: HTX loại này có đặc điểm nội dung hoạt động sản xuất là chủ yếu, dịch vụ là kết hợp. Thường phù hợp trong các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, nghề đánh cá, nghề làm muối. - HTX sản xuất - kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện: Đặc điểm cơ bản của mô hình HTX này là: cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, bộ máy quản lý theo nguyên tắc của HTX kiểu mới; sở hữu tài sản trong HTX gồm hai phần sở hữu tập thể và sở hữu cổ phần; HTX hoạt động sản xuất - kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm phát triển kinh tế HTX và đem lại lợi ích cho xã viên; HTX loại này thích hợp với lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, khai thác Il.kháỉ niệm và đặc điểm Họp tác xã nông nghiệp. 1. Khái niệm. Từ khái niệm về họp tác và kinh tế hợp tác xã ta có thể hiểu hợp tác xã 7 trong Nông nghiệp như sau: HTX nông nghiệp trước hết là một tổ chức của kinh tế hợp tác của những người sản xuất nông nghiệp. Được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ nhằm đáp ứng những yêu cầu về dịch vụ đa dạng trong sản xuất nông - lâm - ngư và đời sống của chính các xã viên tham gia. HTX nông nghiệp có thể là các tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân, ít nhất trên 3 lĩnh vực: thứ nhất đó là lĩnh vực cung ứng các yếu tố đầu vào của sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu... họp tác trong khâu làm đất, thuỷ lợi, thứ hai trong lĩnh vực giải quyết đầu ra của sản xuất nông nghiệp bao gồm hoạt động thu mua chế biến đóng gói và tiêu thụ nông sản ở thị trường trong và ngoài nước, thứ ba trong lĩnh vực trực tiếp tổ chức sản xuất tập trung trong trồng trọt, chăn nuôi, kể cả nuôi thuỷ sản. 2. Đặc điểm của họp tác xã nông nghiệp. 2.1. Quyền hạn và nghĩa vụ của hợp HTX nông nghiệp. - HTX nông nghiệp có quyền về lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực, quy mô sản xuất kinh doanh, địa bàn hoạt động, quyết định cơ cấu tổ chức, thuê lao động, xuất nhập khẩu, phân phối thu nhập, huy động vốn, được bảo hộ bí quyết về công nghệ và quyền từ chối những can thiệp từ bên ngoài trái với quy định của pháp luật. Cụ thể hơn chi tiết hơn một số nội dung đặc thù của HTX nông nghiệp: thứ nhất chủ động tổ chức các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp theo khả năng, lợi thế và tập quán sản xuất. Thứ hai, chủ động tìm kiếm các khả năng phát triển các ngành nghề khác nhau để đa dạng hoá kinh tế HTX, thoát dần khỏi tình trạng thuần nông và độc canh, hiệu quả thấp. - về nghĩa vụ: Giống như các loại hình doanh nghiệp khác HTX phải tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ ngành nghề đã đăng ký, thực hiện các nghĩa vụ về việc bảo đảm các quyền của xã viên, thực hiện nghĩa vụ đối với xã viên trực tiếp lao động cho HTX và người lao động làm thuê. Ngoài ra phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước và toàn xã hội. 2.2. Điều kiện xã viên, quyền lợi, nghĩa vụ của xã của HTXnông nghiệp. - Điều kiện để trở thành xã viên HTX nông nghiệp: Là công dân lao động 8 nông nghiệp hoặc lao động trong một số hoạt động gắn bó mật thiết với lĩnh vực nông nghiệp từ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, là người dân sống trong cùng cộng đồng nông thôn. - Quyền lợi của xã viên HTX nông nghiệp: Được làm việc cho HTX và hưởng thù lao theo lao động, được hưởng phần lãi chia theo vốn góp, theo công sức đóng góp và mức độ sử dụng dịch vụ HTX, được HTX cung cấp các thông tin cần thiết, được bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, được hưởng các phúc lợi chung của HTX, được khen thưởng khi có nhiều đóng góp xây dựng và phát triển HTX. - Nghĩa vụ của xã viên HTX nông nghiệp: Gồm hai mặt nghĩa vụ vật chất và nghĩa vụ chính trị. Cụ thể, chấp hành điều lệ, góp vốn theo quy định, cùng chịu rủi ro, thiệt hại và các khoản lỗ của HTX trong phạm vi vốn góp của mình, bồi thường thiệt hại cho mình gây ra cho HTX theo quy định của điều lệ. 2.3. Quan hệ tài sản và tài chính của HTXnông nghiệp. - Quan hệ tài sản trong HTX nông nghiệp: Tài sản của HTX nông nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, đó là nguồn vốn góp của xã viên dưới dạng tiền tệ hoặc hiện vật quy ra giá trị; nguồn vốn vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế; nguồn quà biếu theo tính chất kinh tế và pháp lý của nhuồn gốc hình thành tài sản của HTX phân thành: nhóm tài sản từ nguồn nội tại và nhóm tài sản từ bên ngoài. Quan hệ tài sản ừong HTX nông nghiệp rất đa dạng, những tài sản mang tính cộng đồng là những tài sản có giá trị lớn thường là tài sản thuộc về các công trình công cộng. Quan hệ tài chính trong HTX nông nghiệp: Quan hệ tài chính trong HTX nông nghiệp phản ánh sự vận động của các dòng tiền tệ diễn ra trong HTX trong quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Cụ thể là những nguyên tắc trong việc huy động vốn góp của xã viên các nguồn vốn khác để phát triển sản xuất kinh doanh và phân phối lãi trong HTX nông nghiệp 2.4. Cơ sở khoa học về tỏ chức quản lý HTX nông nghiệp Các HTX nông nghiệp thực hiện quản lý dựa trên việc hình thành ba định chế cơ bản đi từ dân chủ đến tập trung đó là: Đại hội xã viên, ban quản trị, ban kiểm soát. Trong đó đại hội xã viên là cơ quan quyền lực cao nhất và thực hiện 9 quyền lực của mình dựa trên nguyên tắc dân chủ tổng hợp quyền lực của các xã viên, thể hiện ở chỗ có quyền quyết định mọi vấn đề về tổ chức, hoạt động của HTX, có quyền lập ra ban quản trị, ban kiểm soát, chủ nhiệm HTX cũng như các chức danh quan trọng khác. Ban quản trị HTX nông nghiệp có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh dịch vụ huy động vốn trong HTX nông nghiệp. Ban quản trị có quyền lựa chọn kế toán trưởng, cơ cấu tổ chức và các bộ phận nghiệp vụ, chuyên môn HTX Ban kiểm soát thực hiện quyền giám sát, kiểm tra ban quản trị và xã viên trong việc thực hiện nghị quyết của đại hội xã viên. Chủ nhiệm HTX đại diện trước pháp luật để quan hệ đối ngoại, chủ động điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, được quyền triệu tập các cuộc họp ban quản trị để thảo luận và quyết định các vấn đề phát sinh. 2.5. Cơ sở khoa học cửa mối quan hệ giữa nhà nước với HTX nông nghiệp. Nhà nước được xem như một nhân tố cơ bản trong việc nuôi dưỡng phát triển những nhu cầu họp tác, hỗ trợ sự hình thành và trưởng thành của từng HTX cũng như toàn bộ phong trào HTX. Mối quan hệ nhà nước - HTX thường được thể hiện trên hai mặt: Thứ nhất, quan hệ trực tiếp: quan hệ này thường bắt đầu từ chức năng của nhà nước trong lĩnh vực tổ chức các hoạt động kinh tế của xã hội, đó là tạo khung pháp lý cần thiết cho các lực lượng thị trường hoạt động có hiệu quả. Ngoài ra Nhà nước còn tổ chức các cơ quan hỗ trợ phát triển HTX với chức năng theo dõi giám sát việc thi hành luật pháp của HTX. Thứ hai, quan hệ gián tiếp: mối quan hệ này rất đa dạng nhiều cấp độ khác nhau tuỳ thuộc rất nhiều vào quan điểm, cách nhìn của từng chính phủ đối với khu vực kinh tế HTX. Chẳng hạn, chính phủ có thể coi HTX là phương tiện để thực hiện các chính sách kinh tế của mình, khi đó chính phủ sẽ có nhiều hỗ trợ vật chất cụ thể để tác động lên hệ thống này, hoặc nếu chính phủ chỉ nhìn nhận HTX là một trong nhiều tổ chức kinh tế của lực lượng thị trường khi đó chính phủ sẽ không sử dụng các yếu tố tác động riêng hoặc ưu đãi nào đối với HTX. 10 III. tính tất yếu khách quan của kỉnh tế họp tác và họp tác xã ở Viêt Nam. • Lịch sử phát triển kinh tế xã hội thế giới đã chứng minh rằng: sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường đã ừải qua nhiều giai đoạn khác nhau, song về mặt cơ cấu và tổ chức kinh tế thì trong mỗi giai đoạn đều tồn tại rõ nét ba khu vực khác nhau với vai trò vị trí và quy mô của mỗi khu vực được biến đổi theo sự phát triển ở mỗi giai đoạn. Khu vực kinh tế cá thể tư nhân là khu vực có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế TBCN phát triển với nhịp độ tăng trưởng cao, khu vực kinh tế nhà nước, nhìn chung hoạt động kinh doanh trì trệ kém năng động, hiệu quả kinh tế thấp kém hơn khu vục tư nhân, song lại có vai trò tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân và các khu vục khác phát triển. Song song với hai khu vực kinh tế trên, hình thức tổ chức HTX ngày càng phát triển, tuy không phải là khu vực chính để tạo ra tăng trưởng kinh tế mà là khu vực phụ trợ, song khu vực này có vai trò, vị trí qan trọng trong giải quyết việc làm đảm bảo đời sống cho đông đảo người lao động( nhất là ở các nước đang phát triển) tạo sự ổn định xã hội và môi trường thuận lợi cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Quá trình phát triển kinh tế Việt Nam cũng cho thấy vai trò, vị trí của các khu vực kinh tế ở từng thời kỳ là khác nhau, ở giai đoạn thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung và phân chia nền kinh tế thành hai khu vực: Khu vực kinh tế XHCN và khu vực kinh tế phi XHCN thì khu vực kinh tế XHCN đóng góp 58.8% thu nhập quốc dân, khu vực kinh tế phi XHCN đóng góp 41,19% thu nhập quốc dân. Bước sang giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, so sánh giữa vốn nắm giữ của các doanh nghiệp với kết quả đóng góp thấy khá rõ: Doanh nghiệp nhà nước nắm giữ tỷ trọng vốn lớn hơn 68% tổng vốn doannh nghiệp nhưng đóng góp trong tổng sản phẩm xã hội GDP là 40,29%, ngược lại khu vực ngoài quốc doanh chỉ nắm dưới 10% tổng số vốn các doanh nghiệp nhưng đóng góp đến 41,4% tổng GDP, HTX góp 8,9%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 9,8% tổng GDP. Chúng ta thấy rõ KTHT và HTX không phải là khu vực đem lại lợi nhuận 11 cao và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế vì mục tiêu hoạt động của khu vực này không đơn thuần chạy theo lợi nhuận nhưng lại có vai trò to lớn trong việc mang lại lợi ích cho người lao động cá lẻ đảm bảo sự ổn định xã hội, thông qua sự giúp đỡ hỗ trợ với mọi người lao động có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, bản thân họ và cộng đồng mà nếu để họ tự làm sẽ gặp không ít khó khăn. Mặt khác, hình thức hợp tác này họ có thể tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức kinh tế xã hội đối với họ. Với đặc điểm kinh tế nước ta còn chưa phát triển và kinh tế nông thôn, nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao (cả về lực lượng lao động và giá tĩị đóng góp cho xã hội) bộ phận dân cư nghèo và yếu về kinh tế còn khá lớn. Do đó đồng thời với quá trình tăng trưởng , thúc đẩy tăng trưởng vầ phát triển kinh tế phải hết sức coi trọng xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với từng gia đình của lực lượng sản xuất. KTHT và HTX đặc biệt đối với nông nghiệp , nông thôn có ý nghĩa vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế nước nhà theo định hướng XHCN. Song cùng với sự phát triển của toàn nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá tất yếu đòi hỏi KTHT và HTX không chỉ dừng lại ở các hình thức thô sơ mà phải tự đổi mới luôn coi trọng việc trang bị và sử dụng các công nghệ kỹ thuật hiện đại, nâng cao năng suất chất lượng mẫu mã chủng loại của sản phẩm làm ra, đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đó là con đường đi lên mang tính quy luật khách quan mà kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới đã chỉ ra. IV. khái quát tình hình phát triển Họp tác xã Nông nghiệp ở việt nam Tình hình phát triển của HTXNN Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn với các bước phát triển và hạn chế như sau: 1. Giai đoạn 1955- 1958: Thí điểm xây dựng các HTX nông nghiệp . Trong nông nghiệp, sau cải cách ruộng đất chế độ bóc lột ruộng đất phong kiến bị xoá bỏ, nông dân giành quyền làm chủ, hai triệu hộ nông dân nghèo chia 8 vạn ha ruộng hãng hái làm ăn theo con đường hợp tác mà Đảng đã vạch ra. 12 Khởi đầu là các tổ vần đổi công. Đổi công tự nguyện của nông dân. Ngay từ đầu 1955 đã thảnh lập 153.000 tổ đổi công với 1.094.000 hộ tham gia, chiếm 40,5% số hộ nông dân trong đó 12400 là các tổ đổi công thường xuyên với số hộ nông dân bằng 8,1% số hộ tham gia các tổ đổi công. Đến 1958 tổng số tổ đổi công tăng lên 244.000 thu hút 65.7% tổng số hộ nông dân, trong đó tổ thường xuyên là 74.500 thu hút 32% số hộ tham gia hợp tác. Hình thức họp tác lao động giản đơn dưới dạng tổ đổi công tự nguyện trong giai đoạn này rất có hiệu quả, phù họp với tâm lí và nguyện vọng của đông đảo nhân dân, nên đã có tác dụng tích cực đến sản xuất nông nghiệp và quan hệ sản xuất mới trong nông thôn . Trên cơ sở xác định các tổ đổi công, Đảng ta đã hình thành chủ trương về đẩy mạnh họp tác hoá trong nông nghiệp . Thực hiện chủ trương đó trong nông nghiệp tính đến cuối 1957 đã thí điểm xây dựng 42 HTX ở các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên và Thanh Hoá. Các HTX thí điểm chủ yếu được hình thành từ các tổ đổi công có quy mô xóm hoặc thôn bình quân 20-30 hộ xã viên, có ban quản trị rất gọn nhẹ từ 2-3 người và 1 kiểm soát viên, hình thức hợp tác chủ yếu là cùng làm chung và phân phối theo công điểm. Các tư liệu sản xuất chung vẫn của riêng hộ xã viên, quyền sở hữu ruộng đất của từng hộ vẫn được đảm bảo, nhưng được HTX sử dụng để sản xuất chung và chia hoa lợi hàng năm cho hộ xã viên. Đất khai hoang, tăng vụ được giảm và miễn thuế, được tự do thuê nhân công. Với chủ trương đúng đắn đó đã tạo ra sự hăng hái phấn khởi trong nông dân, sản xuất phát triển, đời sống nông dân và bộ mặt nông thôn có sự thay đổi rõ rệt, bình quân lương thực đầu người tăng từ 257(1957) lên 304 kg (1958) và 334 kg (1959). 2. Giai đoạn 1959-1960: Giai đoạn thực hiện và hoàn thành cơ bản phong trào hợp tác hoá trong nông nghiệp ở miền Bắc. Sau 3 năm tiến hành thí điểm thành lập HTX nông nghiệp đến tháng 4 năm 1959 Đảng và Nhà nước đã tổng kết và đánh giá: Xuất hiện mâu thuẫn giữa phương thức tập thể với cá nhân, mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng năng suất và kỹ thuật lạc hậu. Nghị quyết số 16 TW tháng 4/1959 nhận định” Còn chế độ tư hữu tư nhân về TLSX và lối làm ăn cá thể thì vẫn còn cơ sở vật chất và điều kiện cho khuynh hưóng TBCN phát triển”. Từ quan điểm này NQ 16 TW qưuyết định cần 13 phải cải tạo sản xuất cá thể thành nền sản xuất tập thể, chặn đứng con đường TBCN ở nông thôn, cứu nông dân thoát khỏi nanh vuốt của CNTB góp phần củng cố liên minh công nông. Nguyên tắc xây dựng HTX là” Dân chủ, tự nguyện, cùng có lợi. Ưu tiên kết nạp xã viên là bàn cố nông, trung nông lớp dưới, sau đó mới kết nạp trung nông, không bố trí trung nông vào vị tríchủ chốt”. về hình thức tổ chức: HTX bậc thấp trả hoa lợi mộng đất, HTX bậc cao tập thể hoá TLSX, xoá trả hoa lợi mộng đất. về quản lý: HTX thốngnhất quản lý điều hành đến từng lao động theo công việc chung. về phân phối: Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động bằng phưomg pháp “trừ lùi”, thuế quỹ, chi phí sản xuất, các khoản điều hoà. Còn lại chia theo ngày công theo chế dộ kinh tế hiện vật. Sau NQ 16 TW đã xuất hiện một cao trào vận động nông dân vào HTX nông nghiệp bằng nhiều biện pháp, nhằm mục tiêu hoàn thànhnhiệm vụ họp tác hoá nông nghiệp vào năm 1960. Chỉ trong 1 năm từ mùa hè 1959 đến mùa thu 1960 đã đưa 2,4 triệu hộ vào HTX bằng 84,8% số hộ nông dân và 70% diện tích ruộng đất vào làm ăn tập thể trong 41000 HTX nông nghiệp , ở miền biển thu hút 75% thuyền lưới vào HTX. Quy mô HTX lúc này khoảng 40-50 hộ xã viên trong đó có 10% HTX bậc cao. về lao động: Các HTX nông nghiệp đã thu hút được 4,93 triệu người trong tổng số 5,75 triệu lao động hiện có ở nông thôn ( khoảng 85%).Đồng thời với quá trình xây dựng và phát triển HTX nông nghiệp trong nông thôn cũng tiến hành xây dựng và phát triển các HTX tín dụng , đến năm 1956 đã xây dựng được 5294 cơ sở với 2082000 xã viên tham gia chiếm 71% tổng số hộ nông dân miền Bắc. Mỗi HTX tín dụng hoạt động trên quy mô một xã, đóng vai trò cho kinh tế phụ gia đình vay vốn để mua lương thực, thuốc men, sửa chữa nhà cửa của xã viên HTX nông nghiệp. 3. Giai đoạn 1961-1980: Giai đoạn củng cố hoàn thiện đưa HTX nông nghiệp bậc thấp lên bậc cao, mở rộng quy mô HTX theo mô hình tập thể hóa. Xây dựng các HTX cấp huyện ở miền Bắc và thực hiện mô hình HTX tập thể hoá ở miền Nam sau giải phóng với 14 mong muốn thúc đẩy nhanh quá trình cải tạo XHCN trên phạm vi cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH. ơ giai đoạn đầu 1961-1975 phong trào hợp tác hoá bộc lộ nhiều nhược điểm biểu hiện là sự không phù họp của mô hình HTX bậc cao. Quá trình củng cố và mở rộng quy mô HTX luôn luôn trái ngược với kết quả trong sản xuất nông nghiệp. Nền kinh tế lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, sản xuất nông nghiệp ngày càng sa sút, kinh tế HTX ngày càng biểu hiện tiêu cực: mất dân chủ, tham ô , lãng phí thu nhập của xã viên HTX đã thấp lại càng giảm. Thời kỳl966-1972, tốc độ tăng thu nhập bình quân hàng năm là 13,6% thì tốc độ tăng chi phí là 15,1%. Tương tự thời kỳ 1973-1975 là 23,75% và 75%. Năm 1972, giá trị tài sản cố định HTX thất thoát tới 35,4%, quỹ tích luỹ khấu hao tính khống 40,7%. Mức lương thực bình quân đầu người giảm từ 17kg/người/tháng 1965 xuống còn 10,4 kg năm 1980 Xã viên HTX chán nản, ruộng đất bỏ hoang hoá, số lượng ngưòi xin ra khỏi HTX ngày càng tăng, đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn, bao trùm đời sống ở nông thôn miền núi là tinh thần đoàn kết đùm bọc, chia sẻ khó khăn, tất cả giành cho tiền tuyến. Giai đọan này khối lượng lương thực nhập khẩu tăng liên tục qua các năm( Năm 1966 nhập khẩu 388,1 ngàn tấn, năm 1975: 1055 ngàn tấn). Giai đoạn 1976-1980: ở miền Nam, số HTX tổ đổi công tăng lên nhanh chóng, thậm chí dùng cả biện pháp hành chính đưa nông dân vào HTX. Giai đoạn này nền kinh tế đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, trước hết là tình trạng khủng hoảng kinh tế tập thể trong nông nghiệp trên phạm vi cả nước. 4. Giai đoạn 1981-1988: Giai đoạn thực hiện chỉ thị 100 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp”. Mục đích của chủ trương mở rộng khgoán sản phẩm là đảm bảo phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế củng cố và tăng cường QHSX mới ở nông thôn không ngừng nâng cao thu nhập và đời sống của xã viên , tăng tích luỹ của HTX, làm tròn nghiã vụ và không ngừng tăng khối lượng nông sản cung ứng cho Nhà nước . Cơ chế khoán với 3 khâu (gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch) đã phá vỡ một mảng trong mô hình HTX tập thể hoá, tạo điều kiện gắn người lao động 15 với kết quả cuối cùng của sản xuất. Nhờ đó cơ chế khoán đã tạo động lực kích thích tính chủ động, hăng hái sản xuất trong nông dân. Chỉ thị 100 đã mang lại một sinh khí mới cho nông nghiệp giai đoạn 1981-1985,được coi là thời kỳ thảnh công của quá trình thực hiện chỉ thị 100. Sau đó những hạn chế của khoán 100 bộc lộ rõ: hoạt động quản lý yếu kém, phân phối bình quân bao cấp, chi phí bất hợp lý., đã dẫn đến tình trạng vi phạm lợi ích của người lao động, tỷ lệ vượt khoán ngày càng giảm, nông dân chán nản, trả ruộng khoán ngày càng nhiều. 5. HTX nông nghiệp giai đoạn 1986-1996. Dưới tác động của cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng tới người lao động theo chỉ thị 100, cơ chế quản lý đã tháo gỡ được một bước, tạo điều kiện cho xã viên chủ động trong sản xuất sau khi nhận khoán với HTX do đó đã tạo ra động lực và trong HTX nông nghiệp tình hình sản xuất nông nghiệp những năm đầu thập kỷ 80 có sự khởi sắc sau thời sa sút vào cuối thập kỷ 70. Tuy nhiên, cơ chế khoán theo chỉ thị 100 chủ yếu mới giải phóng lao động và một phần quan hệ phân phôi, quan hệ sở hữ vẫn như tình trạng bao cấp, phân phối theo công điểm, quản lý tập trung, mệnh lệnh, thu nhập từ kinh tế tập thể thấp, mức khoản không ổn định, tình trạng tham ô, lãng phí trong HTX vẫn tiếp diễn nông dân xã viên vẫn phải chịu nhiều khoản đóng góp, điều bất hợp lý, làm cho mức thu nhập giảm dàn, động lực tạo ra nhanh chóng bị suy giảm, người sản xuất không yên tâm, tình trạng chán nản tăng lên, hộ xã viên trả lại ruộng khoán ngày một tăng. Năm 1993, Luật HTX được ban hành , hộ xã viên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài và được hưởng 5 quyền. HTX rút dần khỏi các hoạt động trực tiếp tiến hành sản xuất để chuyển giao quyền tự chủ cho hộ xã viên. Quan hệ HTX - hộ xã viên chuyển dần sang quan hệ hợp đồng kinh tế giữa hai chủ thể bình đẳng theo các nguyên tắc thoả thuận, xoá bỏ chế độ phân phối công điểm trong HTX . Bộ máy quản lý HTX giảm nhẹ, phổ biến tới40-50%, các khoản chi phí bất hợp lý trong HTX cũng giảm, dần xoá bỏ tệ rong công, phóng điểm và tham ô công quỹ. Trước sự thay đổi của cơ chế mới, các HTX nông nghiệp kiểu cũ gặp 16 nhiều khó khăn, lúng túng, lâm vào tình trạng trì trệ, suy giảm tác dụng đối với hộ xã viên tự chủ, thậm chí một bộ phận HTX , đặc biệt các tập đoàn sản xuất tan rã: Theo báo cáo của Bộ nông nghiệp &PTNT từ 1988 đến 1995 giải thẻ 2958 HTX và 33804 TĐsản xuất nông nghiệp , đồng thời số hộ xã viên tham gia HTX và TĐsản xuất cũng giảm mạnh từ 86%xuống còn 10% ở các tỉnh Nam bộ, mỉền núi phía Bắc giảm từ 91% xuống 45%. số HTX còn lại buộc phải tiến hành đổi mới mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý nội bộ theo hướng tinh, gọn, hiệu quả, nhiều chức danh được lồng ghép để giảm bớt chi phí quản lý. Nhiều HTX phải chia nhỏ cho phù hợp với trình độ quản lý, đến năm 1995 cả nước còn 16.243 HTX và 2548 TĐ sản xuất với 64% số hộ nông dân cả nước. Các HTX đang tồn tại có thể chia thành ba nhóm theo mức độ dịch vụ cho hộ xã viên và hiệu quả hoạt động: Loại hoạt động tốt: 2528 đơn vị chiếm 15,5% tổng số, là những HTX còn vốn, có đội ngũ cán bộ giỏi, có hướng hoạt động tốt, làm tốt công tác dịch vụ tưới tiêu, BVTV, giống, kỹ thuật, vật tư, vốn cho xã viên, HTX có vốn và tài sản. Bình quân tài sản cố định một HTX thuộc nhóm này khoảng 742 triệu đồng. Loại hoạt động cầm chừng ở một vài khâu công việc nhưng kết quả thấp 6562 đơn vị, chiếm 40,4% tổng số. HTX còn ít vốn, nợ đọng nhiều và ban quản lý kém năng động hoặc trì trệ. Loại không hoạt động, tồn tại hình thức:7152 đơn vị chiếm 43,3%. Đây là những HTX đã hoàn toàn mất vai trò của KTHT, xã viên không an tâm và tin tưởng vào bộ máy quản lý cũng như bộ phận kinh tế tập thể của HTX . 6. Giai đoạn từ khi có Luật HTX ra đòi và có hiệu lực (1/1/1997) đến nay. 6.1. Một sỗ thành công bước đầu. Thứ nhất: việc ban hành Luật HTX cùng một loạt các nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện chỉ thị của Đảng và nghị định của Chính phủ về HTX đã thể hiện rố quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước trong việc tiếp tục đổi mới và phát triển các HTX ở Việt Nam. Lần đầu tiên HTX có một khung pháp lý tương đối đầy đủ, bảo vệ và điều chỉnh các hoạt động, với tư cách là một tổ chức kinh tế bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong cơ chế thị trường đó là một thành 17 tựu rất đáng kể trong đổi mới từ nhận thức tư duy đến chỉ đạo hành động của Đảng ta. Thứ hai: đổi mới HTXsau khi Luật HTXra đời diễn ra toàn diện trên cơ sở những quy định về tiêu chuẩn và nguyên tắc HTX mà pháp luật quy định. HTX được thành lập trên cơ sở phải xác định rõ về: tư cách xã viên, vốn góp tối thiểu, phương án sản xuất kinh doanh, điều lệ HTX và hàng loạt các quy định khác. Những điều kiện này trở thành tiêu chuẩn cụ thể mang tính định lượng mà từ trước đến nay chưa từng được quy định. Với những quy định và ràng buộc như vậy rõ ràng là việc chuyển đổi các HTX cũ cũng như việc thành lập HTX mới theo Luật HTX đã thể hiện rõ tính chất tích cực và toàn diện, đề cao chất lượng và các nguyên tắc hợp tác cũng như nhu cầu khách quan là điều kiện tiên quyết. Thứ ba: kết quả chuyển đổi các HTX cũ thu được một sổ kết quả như sau: nhìn chung, mô hình HTX sau chuyển đổi thường gồm hai loại, thứ nhất HTX có đông xã viên, thứ hai HTX có ít xã viên, số HTX sau chuyển đổi loại có đông xã viên chiếm tỷ lệ cao hơn số HTX có ít xã viên, tuy nhiên hiệu quả hoạt động thì loại HTX có ít xã viên hoạt động tốt hơn. (xem bảng 1.) 18 Bảng 1: Quy mô HTX tính theo sổ liệu xã viên của HTX đã chuyển đồi. Chỉ tiêu chung Miền bắc Miền Nam Miền Trung, Số HTX có báo cáo % 2127 1795 10 10,1 212 100 313 11,8 1 6,1 6,8 Số HTX có từ 7-50 xã215 Tổng số % Tây Nguyên Tổng % số Tổng số Tổng số % 100 0,3 19 2 100 10,5 0,3 8 42,1 99,3 9 47,3 viên Số HTX có từ 51- 100 131 122 1 xã viên Số HTX có trên 100 1781 83,7 1461 81,3 311 xã viên Nguồn: số liệu điều tra xã hội học năm 1999. Cụ thể các HTX sau chuyển đổi đạt đuợc một số kết quả như sau: Làm rõ tài chính của các HTX cũ và mới,tỷ lệ xã góp vốn của xã viên bình quân tăng 2,5 lần so với trước khi chuyển đổi, cổ phần của xã viên trong HTX được xác định rõ hơn. Từ bảng 2 cho thấy các chỉ số về tổng số vốn bình quân một HTX cũng như tài sản lưu động so với tổng số vốn của HTX ở các vùng rất khác nhau: ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, các số liệu nói trên đều thấp hơn so với mức trung bình của các HTX ở miền Bắc. So với các HTX ở miền Nam thì tỉ lệ này còn thấp hơn nhiều. Bảng 2: Tài sản, vốn của HTX nông nghiệp chuyển đỗi Tên địa Số Tổng số Trong đó HT Số lượng Bình Tài sản cố định Tài sản lưu động phươn g X (Triệu quân/HT Số Số Bình Bình theo đồng) X lượng lượng quân/HT quân/HT báo (Triệu (Triệu (Triệu X X cáo đồng) đồng) đồng) (Triệu (Triệu đồng) đồng) 1948 1092.025 556 862.281 439 229.744 177 Chung cả nước Miền 1954 722.160 453 595.771 373,7 12.869 79,3 19 bắc 354 369.865 1.044 266.510 Miền Nam 553 116.766 211,5 99.772 Miền núi phía bắc ĐBSH 439 228.922 521,5 174.594 376.472 625,4 321.405 Khu IV 602 cũ DHMT 312 354.007 1134 254.987 14 3279 233 2583 Tây nguyên 24 9416 392 6479 đong nam bộ ĐBSC 4 3163 790 2461 L Nguồn: số liệu điều tra xã hội học năm 1999. 752 103.355 292 180,4 16.994 30,7 397,7 533,7 54.326 55.067 123,7 91,5 817 184 99.020 696 317 49 269 2937 123 615 702 175 Đối với khoản nợ HTX phải thu : tính bình quân một HTX có số nợ phải thu khoảng 50 triệu đồng, ừong đó xã viên nợ HTX chiếm khoảng 70- 90%. Đa số các HTX đã thực hiện việc giảm, xoá một số khoản nợ như: giảm các khoản xã viên nợ từ trước năm 1998, giảm nợ của các hộ gia đình thưcmg binh, liệt sĩ, gia đình nghèo neo đơn, xoá nợ đối với những người đã chết, các hộ gia đình chuyển đi nơi khác sinh sống. Đối với các khoản nợ phải trả :hầu hết các HTX chuyển đổi đã làm rõ về cơ sở pháp lý các khoản nợ HTX phải trả và đã loại trừ khỏi phần vốn khi phân bổ vốn góp cho xã viên tham gia HTX mới. Nhìn chung sau khi đã cố gắng thu nợ,các HTX đã bàn giao cho HTX mới hoặc UBND về các khoản công nợ củaHTX cũ. Xác định nội dung và phạm vi hoạt động của HTX,xã viên được biết, tham gia và có quyền kiểm ữa hoạt động của HTX thông qua bộ máy quản lý do đại hội xã viên lựa chọn.Nhiều HTX đã xây dựng được phương hướng sản xuất kinh doanh có tính khả thi, phù hợp với nhu cầu của thị trường, HTX và khả năng của cơ sở. Quan hệ giữa xã viên với ban quản trị được quy đinh rõ trên cơ sở xác định chức năng, quyền hạn của các bên. 20
- Xem thêm -