Một số giải pháp phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán ở công ty cổ phần chứng khoán quốc gia

  • Số trang: 34 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 10 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Đề án/2010 LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Mọi sự phát triển bền vững đều phải được đặt trên nền tảng của sự ổn định đây là nguyên lý cơ bản của mọi hoạt động trong lịch sử loài người và cũng là nguyên lý cơ bản của mọi sự phát triển nói chung. Không phải ngẫu nhiên mà các quốc gia đặt ra những quy định và những chính sách để điều tiết nền kinh tế. Mục đích chính của các chính sách này chính là ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững. Thời gian qua, thế giới đã phải đương đầu với nhiều biến động lớn trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội. Nhiều cuộc khủng hoảng với quy mô quốc tế liên tục diễn ra gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế thế giới. Thật vậy, những tác động của cuộc khủng hoảng tiền tệ còn chưa qua đi thì thế giới lại phải đương đầu với nguy cơ của một cuộc khủng hoảng mới. Lần này tâm điểm là Châu Âu với khủng hoảng công nợ của Hy Lạp là quốc gia điển hình đang lâm vào tình thế khó khăn. Châu Âu đã và đang rất nỗ lực để hỗ trợ nhằm cứu vãn nền kinh tế của châu lục nói riêng và của toàn thế giới nói chung trước nguy cơ khủng hoảng. Song có vẻ mọi nỗ lực cho đến thời điểm này đều có vướng mắc và chưa thật sự có giải pháp hữu hiệu nào được tìm ra. Là một quốc gia đang phát triển, nền kinh tế còn non trẻ và yếu ớt so với các cường quốc khác, Việt Nam rất quan tâm đến diễn biến của cuộc khủng hoảng đang manh nha tại Châu Âu. Vì rằng sau khủng hoảng tài chính 2008, dù nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc song vẫn chưa sẵn sàng để đối phó với một cuộc khủng hoảng mới. Hơn thế nữa, chúng ta cũng là một nước có tỷ lệ công nợ khá cao, vì thế rất nhiều câu hỏi được đặt ra cho chúng ta: Liệu Việt Nam có khả năng lâm vào một cuộc khủng hoảng công nợ trong tương lai gần hay không? Nguyên nhân nào dẫn tới Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 1 Đề án/2010 khủng hoảng công nợ? Làm thế nào để Việt Nam tránh được một cuộc khủng hoảng nợ trong tương lai? Vai trò của từng thành phần kinh tế trong công cuộc này?....Đây cũng là nguyên nhân để em triển khai nghiên cứu đề tài: “Khủng hoảng nợ tại Hy Lạp và bài học rút ra với Việt Nam” 2.Phạm vi, mục đích và đối tượng nghiên cứu Bài viết tập chung đi sâu vào diễn biến của cuộc khủng hoảng nợ tại Hy Lạp, nguyên nhân và tác động của nó đến nền kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, em cũng xin đưa ra một số đề xuất,giải pháp nhằm khắc phục tình trạng nợ công cao của Việt Nam hiện nay. Cuộc khủng hoảng về nợ công tại Hy Lạp đã có những biểu hiện từ lâu song trong phạm vi bài viết, em chỉ xin đề cập đến những nét điển hình của cuộc khủng hoảng này từ năm 2009 trở lại đây. Mục đích chính của bài viết là nghiên cứu nguyên nhân và thực trạng của cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp. Từ đó đánh giá về khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng nợ tại Việt Nam và đưa ra một số biện pháp mang tính ngắn và dài hạn 3. Ph¬ng ph¸p nghiªn cøu Trong ®Ò tµi nµy, ph¬ng ph¸p nghiªn cøu lµ sù kÕt hîp gi÷a ph¬ng ph¸p duy vËt biÖn chøng vµ duy vËt lÞch sö, dùa trªn c¬ së lý luËn vµ thùc tiÔn, thèng kª, so s¸nh, ph©n tÝch vµ tæng hîp dù b¸o, tõ ®ã ®a ra nh÷ng gi¶i ph¸p tèi u ®èi víi t×nh h×nh nî níc ngoµi cña ViÖt Nam trong thêi gian qua. 4.Nội dung đề án Ngoài lời mở đầu,kết luận và tài liệu tham khảo,đề án bao gồm 3 phần: I : Lý thuyết về khủng hoảng tài chính II : Nguyên nhân và diễn biến khủng hoảng nợ Hy Lạp Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 2 Đề án/2010 III : Bài học rút ra cho Việt Nam Do kinh nghiệm thực tế và lý luận còn hạn hẹp nên bài viết của em không tránh khỏi những sai sót.Em hy vọng rằng trong tương lai em sẽ có cơ hội tìm hiểu,nghiên cứu sâu hơn những vấn đề có liên quan đến đề tài nói trên. Trong qua trình nghiên cứu và thực hiện đề tài,em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn – PGS.TS Nguyễn Như Bình – nhờ đó em có thể hoàn thành tốt đề án này.Em xin chân thành cảm ơn thầy. I : LÝ THUYẾT VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 1.Khái niệm Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Khủng hoảng tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá so với nguồn cung. Nhu cầu tiền mặt của người dân hay của nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán có thể sụp đổ. Trong nền kinh tế thế giới hiện đại sự lây lan của khủng hoảng tài chính thường đi kèm với sự khủng hoảng kinh tế kéo dài. Các dấu hiệu của khủng hoảng tài chính là :  Các ngân hàng thương mại không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền  Các khách hàng vay vốn , gồm cả các khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn trả các khoản vay cho ngân hàng  Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 3 Đề án/2010 Khủng hoảng tài chính được chia thành nhiều dạng song những cuộc khủng hoảng do các ngân hàng thương mại không hoàn trả được tiền gửi cho người gửi tiền hoặc các khách hàng vay vốn không thể hoàn trả đầy đủ khoản vay cho ngân hàng được gọi là khủng hoảng nợ. →Như vậy ta có thể nói, khủng hoảng nợ là khủng hoảng tài chính phát sinh khi các chủ thể kinh tế không thể hoàn trả khoản vay của mình cho đối tác trong quan hệ tài chính. 2.Các hình thức khủng hoảng tài chính Khủng hoảng tài chính bao gồm: khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng nợ nần. Khủng hoảng tiền tệ : Theo nghĩa hẹp khủng hoảng tiền tệ gắn liền với chế độ tỷ giá hối đoái cố định, tức trong hoàn cảnh hết sức bị động như kinh tế đi xuống hoặc vấp phải làn sóng đầu cơ cực lớn. Một quốc gia đang áp dụng chế độ tỷ giá cố định sẽ phải tiến hành điều chỉnh chế độ này ở trong nước và phải chuyển sang áp dụng tỷ giá hối đoái thả nổi và mức độ tỷ giá mà thị trường quyết định thường cao hơn rất nhiều so với mức độ tỷ giá mà chính phủ cố gắng duy trì. Mức biến đổi của tỷ giá hối đoái thường rất khó kiểm soát. Hiện tượng này chính là khủng hoảng tiền tệ. Theo nghĩa rộng, khủng hoảng tiền tệ chỉ sự biến động của tỷ giá hối đoái vượt quá phạm vi mà một quốc gia có thể gánh chịu. Khủng hoảng ngân hàng: là hiện tượng ngân hàng can thiệp quá sâu hoặc cho vay vốn đối với các doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động kinh doanh có độ rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán. Tín dụng được đầu tư quá nhiều cho bất động sản và lĩnh vực phi sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng mất cân đối tài chính kinh tế. Tỷ lệ nợ xấu quá lớn khiến hoạt động kinh doanh trì trệ dẫn đến nguy cơ phá sản. Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 4 Đề án/2010 Khủng hoảng nợ nần : là cuộc khủng hoảng xảy ra ở các nước đang phát triển vào thập kỷ 80 thể kỷ XX. Có nhiều khả năng đánh giá khả năng thanh toán nguồn vay nước ngoài của một quốc gia, trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ lệ thanh toán nợ nước ngoài tức là tỷ lệ giữa nguồn vay nước ngoài cả gốc và lãi mà quốc gia đó trả trong một năm trên tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đó trong năm đó hoặc trong năm trước đó. Bình thường chỉ tiêu này nằm dưới 20%, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 20% chứng tỏ lượng vốn vay nước ngoài của quốc gia đó quá lớn. II : NGUYÊN NHÂN VÀ DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ HY LẠP 1.Vài nét sơ qua về nền kinh tế Hy Lạp trước khi khủng hoảng Hy Lạp có nền kinh tế công-nông nghiệp khá phát triển, là sự pha trộn giữa nền kinh tế tư bản và kinh tế nhà nước. Có nhiều khoáng sản như: Bốc-xít, quặng sắt, niken. Thế mạnh kinh tế Hy Lạp là vận tải đường biển và du lịch: có đội thương thuyền đứng thứ 3 thế giới, kiểm soát 25% kim ngạch vận tải biển thế giới; có hệ thống đường xá, khách sạn, hải cảng, sân bay hiện đại. Hàng năm Hy Lạp thu hút khoảng 17 triệu lượt khách du lịch, ngành này đóng góp 15% GDP của Hy Lạp. Công nghiệp du lịch đóng 15% GDP quốc dân. Hy Lạp là nước nhận viện trợ lớn nhất của EU, chiếm khoảng 3,3% tổng GDP. Bên cạnh đó, các ngành kinh tế khác như ngân hàng, tài chính, viễn thông, sản xuất các thiết bị công nghệ cao cũng phát triển mạnh tại Hy Lạp. Nước này cũng có lợi thế về kinh tế biển với rất nhiều cảng nước sâu và một ngành công nghiệp đóng tàu hùng mạnh. Các ngành công nghiệp quan trọng khác ở Hy Lạp là dệt, hóa chất, khai thác khoáng sản, chế biến thực phẩm. Nông nghiệp tuy chiếm tỉ trọng nhỏ song vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Các loại cây trồng chủ yếu ở Hy Lạp là lúa mì, lúa mạch, ôliu, hoa hướng dương, cà chua, Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 5 Đề án/2010 cam, chanh... Cơ cấu kinh tế của Hy Lạp như sau: dịch vụ chiếm 74,4%, công nghiệp 20,6% và nông nghiệp 5,1% Từ 19/6/2000, nhờ áp dụng các biện pháp kinh tế tài chính có hiệu quả, Hy Lạp đã đạt các tiêu chí và được gia nhập khu vực đồng euro. Trong giai đoạn 2001 - 2007 Hy Lạp là một trong những nước có tốc độ phát triển cao nhất ở EU với mức tăng trưởng trung bình 4%/năm. Năm 2008 tăng trưởng của Hy Lạp chỉ đạt 2,8%, đây là con số thấp hơn các năm trước nhưng vẫn cao hơn tăng trưởng trung bình của các nước thuộc khối EU. Tuy nhiên, Hy Lạp vẫn gặp nhiều thách thức như: việc giảm nợ nhà nước, lạm phát, thất nghiệp, cơ cấu lại nền kinh tế bao gồm cả việc tư nhân hóa một số công ty nhà nước, tăng lương và giảm thiểu tính quan liêu. Năm 2009, Hy Lạp lún sâu vào khủng hoảng với thâm hụt ngân sách trầm trọng (127% GDP, nợ công lên đến 113% GDP) và tỷ lệ thất nghiệp vào loại cao nhất EU (15%, 20% dân số sống dưới ngưỡng nghèo khổ). Dự kiến năm 2010, các tỷ lệ này sẽ còn cao hơn. Trước tình hình trên, Quốc hội đã thông qua dự luật tài chính với mục tiêu giảm thâm hụt ngân sách nhà nước xuống còn 9,4% GDP. 2.Nguyên nhân khủng hoảng nợ Hy Lạp 2.1.Ngyên nhân chủ quan  Hy Lạp đã không tuân thủ chặt chẽ các quy định trong liên minh tiền tệ Theo Hiệp ước Maastricht, để tham gia vào khu vực đồng tiền chung, các quốc gia thành viên phải đáp ứng nhiều chuẩn mực, trong đó có quy định mức bội chi của ngân sách phải nhỏ hơn hoặc bằng 3% GDP, có xem xét trường hợp mức thâm hụt đang trong xu hướng được cải thiện hoặc mức thâm hụt lớn hơn 3% nhưng mang tính tạm thời, không đáng kể, không là mức bội chi cơ cấu; nợ chính phủ nhỏ hơn hoặc bằng 60% GDP, có xem xét các trường hợp đang điều chỉnh.Theo quy định này, Hy Lạp chưa đủ điều kiện tham gia khu vực đồng tiền chung châu Âu vào tháng 5-1998. Nhưng hai năm sau, ngày 1-1-2001, mặc dù vẫn chưa đủ chuẩn, Hy Lạp cũng được Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 6 Đề án/2010 chấp thuận gia nhập vào khu vực đồng tiền chung với điều kiện phải nỗ lực cải thiện mức thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ. Tuy nhiên, đến nay, các ràng buộc trên vẫn chỉ là lời hứa của Hy Lạp. Bội chi ngân sách và nợ nước ngoài không những không được cải thiện mà có xu hướng ngày càng tăng. STT Quốc gia 1 2 Áo Bỉ Nợ nước ngoài 233,7 99 Nợ công 66,5 5,9 348,7 3 4 5 6 7 8 9 10 Phần Lan 11 12 13 14 15 16 Bồ Đào Nha Đức Hà Lan Hy Lạp Ireland Lucxembourg Pháp 144 188,6 185,2 62,3 153 960,9 4.973,7 227,4 46,6 75,2 77,2 62,2 108,1 63,7 14,5 79,7 2,8 Thâm hụt GDP/người ngân dân(USD) sách 4,3 26.730 25.5 20 8 3,4 4,7 12,7 12,5 2,2 8,3 24.4 18.150 25.350 27.190 17.440 32.410 53.780 23.990 30 Tây Ban Nha Ý Solevia Malta Cyprus Slovakia 150,7 58,2 71,9 2 126 33,2 50 11,2 20.150 115,2 5,3 24.670 31,4 6,3 4,5 52,4 3,5 34,6 6,3 11.960 Nguồn: The CIA Wrold Factbook Bảng 1: Số liệu về thực trạng nợ và thâm hụt ngân sách năm 2009 của EU. Đơn vị tính: tỷ lệ % GDP  Tiết kiệm trong nước thấp, vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công. Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 7 Đề án/2010 Kinh tế Hy Lạp tăng trưởng mạnh, bình quân ở mức 4.2%/năm trong giai đoạn 2002-2007. Lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việc gia nhập liên minh châu Âu (EU), tạo điều kiện cho chính phủ Hy Lạp tăng cường vay nợ tài trợ cho chi tiêu công. Thêm vào đó, tiết kiệm nội địa của nước này cũng sụt giảm nhanh chóng. Những năm cuối của của thập niên 90 tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân chỉ ở mức 11%, thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước như Bồ Đào Nha, Ý và Tây Ban Nha. Do vậy, đầu tư trong nước phụ thuộc khá nhiều vào các dòng vốn đến từ bên ngoài.  Chi tiêu kích thích kinh tế sau khủng hoảng năm 2008 làm trầm trọng thêm vấn đề. Năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn nổ ra đã ảnh hưởng khá m ạnh đến các ngành công nghiệp chủ chốt của nước này. Ngành du lịch và vận tải bi ển, doanh thu đều sụt giảm trên 15% trong năm 2009. Kinh tế Hy Lạp cũng lâm v ào tình trạng khó khăn, nguồn thu để tài trợ cho ngân sách nhà nước bị co h ẹp m ạnh. Trong khi đó Hy Lạp lại phải tăng cường chi tiêu công để kích thích kinh t ế. Tính đến tháng 01/2010, nợ công của Hy Lạp ước tính lên tới 216 tỷ Euro và mức nợ lũy kế được dự báo có thể vượt mức 120% GDP.Bên cạnh đó, trong suốt th ời gian dài Chính phủ Hy Lạp đã phải ngụy tạo các báo cáo về tình hình kinh t ế trong nước, sắp xếp lại các giao dịch nhằm che dấu mức vay thực tế, nhằm phù hợp với các quy định gia nhập, giám sát của EU và có thể chi tiêu cao hơn. Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 8 Đề án/2010 Nguồn: Wrold Bank Quốc gia Thâm hụt Nợ/GDP Nợ nước ngoài (% ngân sách 2010 tổng nợ) 2010 (%GDP) Hy Lạp -12,2 124,9 77,5 Bồ Đào -8,0 84,6 73,8 Nợ ngắn Tài khoản hạn vãng lai (% GDP) 2010 (% GDP) 20,8 -10,0 22,6 -9,9 Nha Ireland Italy Tây Ban 47,3 5,7 5,8 -14,7 -5,3 -10,1 82,6 116,7 66,3 57,2 49,0 37,0 -1,7 -2,5 -6,0 Nha Anh -12,9 80,3 22,1 3,3 -2,0 Mỹ -12,5 93,6 26,4 8,3 -2,6 Bảng 2 : Số liệu về thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài của các nước dự kiến năm 2010  Rủi ro lớn nhất của Hy Lạp là nợ vay nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn, có thể lên đến 80%. Bảng 3: Tỷ trọng nợ công của Hy Lạp theo kỳ hạn Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 9 Đề án/2010 Ước tính tỷ lệ trái phiếu do nước ngoài nắm giữ có thể lên tới 80% lượng trái phiếu chính phủ phát hành. Chủ nợ phần lớn là các ngân hàng châu Âu. Các nước Ý, Ireland cũng trong tình cảnh thâm hụt ngân sách và nợ công cao, nhưng không bị đánh giá nghiêm trọng bằng Hy Lạp. Sở dĩ như vậy vì các nước này có nền kinh tế tương đối lớn, ngân sách lớn và khả năng kiểm soát nợ trong nước cao hơn. Vào tháng 04/2010, các tổ chức định mức tín nhiệm như S&P, Moody’s và Fitch Rating đã hạ bậc trái phiếu chính phủ Hy Lạp xuống mức rủi ro cao, trước nguy cơ mất khả năng thanh khoản. S&P ước tính trong trường hợp Hy Lạp mất khả năng thanh toán, nhà đầu tư có thể mất 30-50% giá trị khoản đầu tư. Ngay lập tức sau đó lợi tức trái phiếu chính phủ Hy Lạp đã tăng mạnh. Điều này đã khiến cho chính phủ Hy Lạp gặp nhiều khó khăn hơn trong việc huy động vốn trên thị trường tài chính quốc tế để tái cấu trúc các khoản vay. 2.2 Nguyên nhân khách quan  Thứ nhất , đó là bệnh thành tích của khối thị trường chung Châu Âu Tham vọng tạo ra một khối kinh tế chung có sức ảnh hưởng đã khiến cho các thành viên sáng lập lúc bấy giờ muốn có càng nhiều thành viên càng tốt. Điều đó khiến các tham vọng chính trị va vấp với những thực trạng về nền kinh tế các quốc gia.Bất chấp tất cả, các quốc gia châu Âu “làm đẹp” sổ sách bằng mọi giá để kịp tiến độ gia nhập. Lúc đó, con số “sạch đẹp” thâm hụt 4% của Hy Lạp khiến một số người nghi ngờ.Thần kỳ hơn khi Hy Lạp giảm được mức thâm hụt xuống còn 2,5% vào năm 1998 và dự báo lúc bấy giờ nói thâm hụt chỉ còn 1,9% vào năm 1999. Cả châu Âu đã hoan hô thành tích này, tung hô Hy Lạp như một câu chuyện thần kỳ khiến một số nước phải ngưỡng mộ. Tây Ban Nha, Pháp, Bồ Đào Nha cũng cố gắng “đạt thành Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 10 Đề án/2010 tích” thâm hụt chỉ 3%.Nhưng đúng như người ta nghi ngờ. Tháng 3.2000, dưới một tiêu chuẩn kế toán mới, cho thấy thâm hụt thực sự của Hy Lạp vào năm 1998 là 3,2%. Đến năm 2004 một báo cáo khác lại chỉ ra con số thâm hụt của Hy Lạp vào năm 1998 là 4,3%, bởi Hy Lạp đã nhập nhằng tiền chi tiêu mua sắm công với viện trợ chính phủ đến 2 tỉ euro.Không chỉ thế, Hy Lạp còn cố ý không tính đến một số chi tiêu quân sự cũng như y tế trong tổng chi chính phủ. Ngược lại, quốc gia này còn xem một số viện trợ từ châu Âu là khoản thu vào của chính phủ.Với cách này, Hy Lạp đã “bùa” thâm hụt ngân sách năm 2003 một cách khó tin. Vào tháng 3/2004, Hy Lạp công bố thâm hụt ngân sách 2,6 tỉ euro tương đương 1,7%, tức thấp hơn nhiều so với mức trung bình của EU là 2,7%. Điều đó khiến nhiều người nghi ngờ và EU gây áp lực khiến Hy Lạp công bố lại. Dưới áp lực từ châu Âu, Hy Lạp công bố là 3,2% bởi trước đó đã tính các trợ cấp thuế ước tính của châu Âu vào nguồn thu chính phủ. Bốn tháng sau đó, Hy Lạp thừa nhận đã bỏ qua một số khoản chi tiêu quân sự, tính cao lên giá trị thặng dư an sinh xã hội cùng lãi suất thấp đi, nên con số thực phải là 4,6%. Đến tháng 3.2005, Hy Lạp “thành thật” thông báo thâm hụt của năm 2003 là 5,2%. Và trong lần “thành thật” cuối cùng vào cuối năm đó, con số tăng lên mức 5,7%. Sau 18 tháng, số liệu thâm hụt năm 2003 đã tăng từ 2,6 tỉ lên 8,8 tỉ euro. Nhưng trước những bất ổn của Hy Lạp, liên minh châu Âu đã nhiều lần làm ngơ. Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 11 Đề án/2010  Thứ hai, tác động tiêu cực của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực Quá trình hình thành đồng tiền chung được chia thành ba giai đoạn nhằm giúp các quốc gia điều chỉnh nền kinh tế theo hướng hội nhập toàn diện và sâu rộng - hàng hóa, vốn và sức lao động được tự do hóa hoàn toàn. Tuy nhiên, hội nhập cũng có mặt trái của nó. Đối với các quốc gia nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu thì đây thực sự là thách thức.Với một quốc gia có nguồn tài nguyên hạn hẹp, lợi thế thương mại thấp, năng lực cạnh tranh thấp thì họ không thể xây dựng rào cản để bảo hộ nền sản xuất trong nước. Hàng hóa thiếu cạnh tranh, sản xuất đình trệ, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, thu ngân sách giảm, chi an sinh xã hội cao. Ngoài ra, theo quy định của EU, các quốc gia được phép giữ lại 25% thuế xuất nhập khẩu hàng hóa vào EU để trang trải chi phí hoạt động và 75% còn lại được chuyển vào ngân sách chung của EU. Điều này có nghĩa, các quốc gia có vị trí thuận lợi về giao thông quốc tế: sân bay, bến cảng... sẽ nhận được một nguồn thu đặc biệt từ thuế nhập khẩu vào EU mà các quốc gia nhỏ hơn, ở vị trí bất lợi hơn như Hy Lạp không nhận được; thậm chí đó là khoản thuế đánh trên hàng hóa nhập khẩu đang tiêu thụ tại nước mình. Nguồn thu ngân sách của họ bị suy giảm. Ngoài ra, tại các nước kém phát triển hơn như Hy Lạp, để tránh làn sóng di dân Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 12 Đề án/2010 khi thực hiện tự do hóa lao động, chính phủ buộc phải gia tăng các khoản chi phúc lợi, chi an sinh xã hội cho công dân của mình. Điều này góp phần làm gia tăng thâm hụt ngân sách.  Thứ ba, mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài chính Đồng tiền chung hệ thống ngân hàng trung ương châu Âu bao gồm Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 16 ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên. ECB điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát. Quy định này tạo nền tảng cho việc hình thành và ổn định đồng euro. Nhưng nó cũng mang lại nhiều thách thức cho các chính phủ do họ không thể sử dụng chính sách tiền tệ làm công cụ hữu hiệu để hỗ trợ kinh tế phát triển. Các quốc gia thành viên khu vực đồng euro chấp thuận một ngân hàng trung ương chung, một chính sách tiền tệ chung nhưng không chấp thuận một chính sách thuế chung. Nguyên nhân sâu xa là mỗi quốc gia có một nhà nước riêng và nhà nước riêng thì cần có ngân sách riêng với hàng loạt nguyên tắc chi tiêu đính kèm. Điều này hợp lý nhưng lại là rào cản đối với khu vực đồng tiền chung bởi vì chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa luôn có mối quan hệ khắng khít với nhau. Cụ thể, lãi suất trên thị trường tiền tệ phụ thuộc vào chính sách lãi suất do ECB định đoạt. Lãi suất trái phiếu chính phủ lại do bộ tài chính của từng quốc gia quyết định. Quyết định của bộ tài chính phụ thuộc vào chính sách tài khóa của từng quốc gia. Đối với một số nước có năng lực cạnh tranh kém hơn, thâm hụt ngân sách lớn hơn các quốc gia khác trong khối, để bình ổn nền kinh tế, phát hành trái phiếu chính phủ với lãi suất cao hơn là giải pháp được ưa chuộng. Vì vậy, khủng hoảng nợ do mất khả năng chi trả chỉ còn là vấn đề thời gian.Ngoài ra, so với các quốc gia khác, khoản chi phúc lợi - an sinh xã hội và thu thuế của EU rất cao so với nhiều quốc gia khác trên thế giới. Thật vậy, Mỹ Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 13 Đề án/2010 có thu nhập bình quân đầu người là 34.320 đô la nhưng chỉ dành 19,4% GDP chi phúc lợi và an sinh xã hội. Con số tương tự ở Nhật là 25.130 đô la Mỹ/người và 18,6%. Trong khi đó, tại EU, tỷ lệ này dao động từ trên 20-38,2%.Để có tiền chi phúc lợi và an sinh xã hội, các nước buộc phải gia tăng các khoản thuế. Thực tế cho thấy, tỷ lệ thu thuế tính trên GDP của các nước trong khối EU cũng tăng vượt trội so với các quốc gia khác trên toàn cầu. Tỷ lệ này biến động từ trên 30-50% GDP. Trong khi đó, tỷ lệ này tại Mỹ, Nhật, Canada lần lượt là 28,2%; 27,4%; 33,4%. Để có nguồn thu lớn, EU đã xây dựng một biểu thuế suất cao hơn. Thuế giá trị gia tăng trung bình trên 20%, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ và Hàn Quốc khoảng 10%; tại Nhật và Canada là 5%. 3.Diễn biến của cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp Gia nhập khu vực đồng tiền chung euro năm 2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận với thị trường vốn quốc tế. Đáng buồn thay, đây lại là nguyên nhân khiến quốc gia này lâm vào cảnh “chúa chổm”.Dễ dàng hút vốn đầu tư nước ngoài, trong gần một thập kỷ qua, Chính phủ Hy Lạp liên tục bán trái phiếu để thu về hàng trăm tỷ đôla. Số tiền này lẽ ra có thể giúp kinh tế Hy Lạp tiến rất xa nếu chính phủ có kế hoạch chi tiêu hợp lý. Nhưng điều này không xảy ra, nhà chức trách dường như “ngủ quên” trên núi tiền có được nhờ vay nợ. Nói đúng hơn, Chính phủ Hy Lạp chỉ biết chi tiêu (phần lớn cho cơ sở hạ tầng) chứ hầu như không quan tâm đến các kế hoạch trả nợ. Một ví dụ dễ thấy nhất là công tác tổ chức Olympic 2004 - kỳ thế vận hội được hoành tráng nhất và cũng tốn kém nhất trong lịch sử. Chi 12 tỷ euro (cao hơn tới 10 tỷ so với dự kiến) nhưng không cho phép bất cứ một biển hiệu quảng cáo nào được xuất hiện trên đường phố, Chính phủ Hy Lạp đã khiến ngân sách quốc gia năm 2004 thâm hụt tới 6,1% (so với GDP) trong khi giới hạn mà khối EU cho phép là 3%. Không chỉ chi phí cho cơ sở hạ tầng, quỹ lương của khối dịch vụ công tại Hy Lạp đã tăng gấp đôi Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 14 Đề án/2010 trong vòng 10 năm qua. Trong khi đó, nguồn thu không được cải thiện sau hàng loạt biện pháp cắt giảm thuế để kích thích đầu tư. Những bất ổn nội tại của kinh tế Hy Lạp thực sự biến thành cơn bạo bệnh khi cơn bão khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 tràn qua quốc gia Nam Âu này. Cuối tháng 9/2009, chỉ vài tuần trước khi bị đánh bại trong cuộc tổng tuyển cử ngày 4/10/2009, chính quyền của Thủ tướng Costas Karamanlis cho biết thâm hụt ngân sách năm 2009 của nước này ở mức 6-8% so với GDP.Con số này nhanh chóng bị bác bỏ khi đảng Xã hội Hy Lạp lên nắm quyền. Ngày 20/10/2009, tân thủ tướng George Papandreou khẳng định thâm hụt ngân sách trong tài khóa 2009 phải ở mức 12,5%, gấp hơn 4 lần giới hạn cho phép của một quốc gia sử dụng đồng euro. Mức thâm hụt này cùng với khoản nợ trị giá 300 tỷ euro đã thực sự cho thấy tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tại Hy Lạp. Nguy hiểm hơn, nền kinh tế lớn thứ 27 thế giới này rất có thể chỉ là kíp nổ của toàn bộ hệ thống tài chính, tiền tệ châu Âu. Bảng 4:So sánh thâm hụt ngân sách (thanh màu đỏ) và nợ (thanh màu vàng) của Hy Lạp với một số quốc gia châu Âu trong năm 2009.Nguồn: EC Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 15 Đề án/2010 Ngày 3/11/2009, Ủy ban Châu Âu (EC) dự báo mức thâm hụt ngân sách của Hy Lạp là 12,7% trong năm 2009 và 12,2% trong 2010. 2 ngày sau, chính phủ nước này công bố dự thảo ngân sách tài khóa 2010, trong đó nhấn mạnh tới việc thắt chặt chi tiêu và dừng các chương trình miễn thuế nhằm giảm thâm hụt ngân sách xuống mức 9,4%.Cùng thời điểm này, nhiều dự báo được được đưa ra cho thấy nợ công c ủa Hy Lạp có thể tăng từ mức 113,4% GDP năm 2009 lên 121-125% GDP trong n ăm 2010. Hàng loạt tổ chức quốc tế tuyên bố hạ định mức tín nhiệm của Hy L ạp trên thị trương tài chính. Ngày 7/12/2009, S&P cho Hy Lạp điểm tín nhiệm A- với triển vọng kém lạc quan. Một ngày sau đó, Fitch đánh tụt điểm số của nền kinh tế này từ A- xuống còn BBB+.Trước những diễn biến xấu, ngày 14/12/2009, Thủ tướng Papandreou tuyên bố sẽ thẳng tay với nạn tham nhũng, thắt chặt chi tiêu hơn nữa, trong đó đánh thuế 90% lên các khoản thưởng của giới “cá mập” ngân hàng cũng như ra lệnh cấm toàn bộ việc thưởng tiền cho các quan ch ức đi ều hành trong khu vực công. 10 ngày sau, Quốc hội Hy Lạp thông qua dự thảo ngân sách và dự báo mức thâm hụt ngân sách của năm 2010 là 9,1%.Tuy nhiên, cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các quốc gia trong khối sử dụng đồng tiền chung euro vẫn tỏ ra chưa thật hài lòng với kế hoạch nói trên vì cho rằng tình tr ạng ngân sách thâm thủng và bất ổn của Hy Lạp có thể ảnh hưởng tới toàn khối. Định mức tín nhiệm của nước này tiếp tục đi xuống trong mắt các tổ chức quốc t ế. S&P tiếp tục hạ điểm của Hy Lạp xuống còn BBB- vào ngày 16/12. Trái phiếu Chính phủ Hy Lạp liên tục phải nâng lãi suất trên thị trường tài chính quốc tế. Bảng 5:Lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp từ tháng 9/2009 đến nay (đơn vị: %). Nguồn: Thomson Reuters Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 16 Đề án/2010 Bước sang năm 2010, Chính quyền của Thủ tướng Papandreou một lần nữa phải thay đổi kế hoạch vào ngày 14/1/2010 nhằm hạ mức thâm hụt xuống dưới 3% vào năm 2012 như yêu cầu của EU. Theo kế hoạch này, bội chi ngân sách trong năm 2010 của quốc gia nam Âu này sẽ phải ở mức 8,7%.Song song với cắt giảm ngân sách dành cho y tế, quốc phòng, tăng thuế, ngày 2/2, lãnh đạo Hy Lạp tuyên bố một chính sách lương thưởng hà khắc đối với khối dịch vụ công. Mục tiêu của chính sách này là nhằm cắt giảm quỹ lương khoảng 4%.Đến ngày 25/2, sau cuộc gặp với đại diện EU và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Chính phủ Hy Lạp cho biết sẽ xem xét một kế hoạch “thắt lưng buộc bụng” mới. Kế hoạch này, cuối cùng đã được công bố vào ngày 3/3 với quy mô tương đương 4,8 tỷ euro, bao gồm cắt giảm quỹ hưu trí, lương thưởng tại khu vực công, ban hành một số sắc thuế mới đối với các các sản phẩm nhập khẩu như thuốc lá, rượu, xăng dầu và các mặt hàng xa xỉ. Sau nhiều tháng tranh cãi, vào cuối tháng 3 các nước sử dụng chung đồng euro đã đồng ý về một giải pháp an toàn cho Hy Lạp. Theo đó Hy Lạp sẽ nhận được các khoản vay từ các quốc gia châu Âu và IMF. Tuy nhiên những cam kết thiếu cụ thể này chưa đủ sức thuyết phục để làm giảm sức ép lãi suất trên thị trường trái phiếu đối với chính phủ Hy Lạp. Lãi suất trái phiếu chính phủ Hy Lạp tiếp tục tăng mạnh do lo ngại của giới đầu tư về khả năng mất khả năng thanh toán của chính phủ nước này. Vào ngày 11/4 các nhà lãnh đạo châu Âu thông báo hứa sẽ cho chính phủ Hy Lạp vay 30 tỉ $, cùng với khoản vay 15 tỉ $ từ IMF, với mức lãi suất 5% - thấp hơn so với mức lãi suất 7,5% mà Hy Lạp đang phải trả, tuy nhiên nó cũng đủ lớn để các quan chức của Đức cho rằng đó không phải là một sự trợ cấp hay giải cứu đối với Hy lạp.Cũng trong tháng 4/2010, ông Papandreou đã chính thức thỉnh cầu gói cứu trợ trị giá 60 tỉ $ nhằm cứu con tàu kinh tế đang chìm dần. Giới đầu tư quốc tế tiếp tục hạ thấp mức tín nhiệm của trái phiếu chính phủ Hy Lạp, điều này khiến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các đối tác của Hy Lạp ở châu Âu buộc phải đứng ra cam kết một gói cứu trợ lớn hơn. Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 17 Đề án/2010 Theo kế hoạch này, công bố ngày 2/5 và được thông qua bởi quốc hội Hy Lạp ngày 6/5, Hy Lạp sẽ nhận được khoản vay trị giá 110 tỉ euro hay tương đương 140 tỉ $ trong vòng 3 năm tới nhằm tránh mất khả năng thanh toán. Đổi lại, chính phủ Hy Lạp phải đáp ứng những cam kết cắt giảm nợ trong vòng 3 năm tới. Chính phủ Hy Lạp đã đồng ý thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng và nhiều khả năng thâm hụt ngân sách sẽ giảm nhưng đồng thời cũng nhiều khả năng gây ra một chu kì khủng hoảng kinh tế mới cho nước này. Tuy nhiên, thị trường tiếp tục hoài nghi với các khoản vay được cam kết này, các nhà đầu từ tiếp tục đẩy lãi suất đối với trái phiếu chỉnh phủ Hy Lạp lên cao hơn cả trái phiếu chính phủ của các nước đang phát triển như Ấn Độ và Philippines. Điều đó khiến Hy Lạp lầm vào tình thế khó khăn hơn trên thị trường tài chính và buộc ông Papandreou phải kêu gọi giải ngân ngay các khoản vay này nhằm tránh sự lo ngại leo thang. Ngày 18/5 Hy Lạp đã nhận được khoản vay đầu tiên trong gói cứu trợ kéo dài 3 năm của 10 nước châu Âu, trong đó có Đức, và IMF nhằm tránh khả năng phá sản. Gói cứu trợ kéo dài 3 năm này được đưa ra nhằm giúp Hy Lạp không cần dựa vào thị trường tài chính cho tới cuối năm 2011 và quý đầu của năm 2012. Tuy nhiên bộ trưởng tài chính Hy Lạp Papaconstantinou cho rằng nước này có thể không cần phải đợi đến thời gian đó nếu kinh tế Hy Lạp hồi phục và niềm tin của các nhà đầu tư trên thị trường tài chính đối với trái phiếu chính phủ Hy Lạp quay trở lại. Khoản giải ngân ngày 18/5 đã giúp Hy Lạp trả món nợ trị giá 8,5 tỉ euro đáo hạn vào ngày hôm sau. Khoản nợ tiếp theo mà chính phủ Hy Lạp cần phải chi trả trị giá 8,6 tỉ euro sẽ đáo hạn vào tháng 3/2011. Như vậy, sau khi những lời hứa thất bại trong việc lấy lại niềm tin của thị trường tài chính vào Hy Lạp thì phần đầu tiên của gói cứu trợ đã thực sự được giải Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 18 Đề án/2010 ngân. Những lo ngại về khả năng tuyên bố phá sản và quỵt nợ của Hy Lạp hầu như không còn nữa. Giá trị đồng euro, thể hiện niềm tin của giới đầu tư vào khu vực châu Âu, đã tăng nhẹ trở lại. Cái mà thế giới đang quan tâm lúc này chính là khả năng phục hồi của kinh tế Hy Lạp cũng như tác động của nó đến kinh tế thế giới mà đầu tàu là kinh tế Mĩ. 4. Tác động của cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp đến nền kinh tế thế giới  Làm cho GDP của một số quốc gia giảm sút Cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp kéo theo một loạt hệ quả tất yếu: tốc độ phục hồi kinh tế thế giới chậm lại, có thể theo hình chữ W thay vì chữ V, đặc biệt khu vực châu Âu sẽ phải chứng kiến tình hình thất nghiệp và lạm phát tăng cao, đồng Euro mất giá, tăng trưởng GDP giảm sút, làm cho thu nhập thực tế người dân và cầu tiêu dùng với hàng nhập khẩu giảm mạnh.  Lãi suất cơ bản của ngân hàng cao, doanh nghiệp thiệt nặng Do lo ngại tác động tiêu cực từ khủng hoảng nợ công, nhiều ngân hàng trung ương các nước phát triển vẫn huy trì mức lãi suất sàn thấp lịch sử nhằm kích thích sự phục hồi kinh tế và chấp nhận lạm phát trong chừng mực nhất định. Lãi suất cơ bản tiệm cận 0% ở hầu hết các nước: FED (Mỹ): 0,25%; ECB (EU): 1%; BOE (Anh): 0,5%; Nhật Bản 0,1%. Ngược lại ở Việt Nam, lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay vẫn đứng ở mức cao. Các doanh nghiệp phải vay vốn với lãi suất khoảng 14-16%/năm với kỳ hạn ngắn và khoảng 14,5-17%/năm với kỳ hạn trung, dài hạn. Nếu tính đến lạm phát ước cho năm 2010 là dưới 10%, doanh nghiệp phải đạt mức tỷ suất lợi nhuận trên 24-27%, là mức cao so với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân của các ngành trong năm 2009 (khoảng 20%). Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 19 Đề án/2010  Luồng vốn FDI suy giảm Khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp có thể tạo ra hai tác động trái chiều hoàn toàn với luồng vốn FDI trên phạm vi toàn cầu. Trong những quốc gia có trình độ phát triển tương đương với các nước thuộc EU sẽ hưởng lợi do nguồn vốn FDI sẽ dịch chuyển từ châu Âu sang các quốc gia này khi nhà đầu tư muốn tránh thuế thu nhập doanh nghiệp đang có xu hướng tăng cao tại các quốc gia châu Âu.  Giá vàng bùng nổ hút vốn đầu tư Các nhà đầu tư trên thế giới đang tìm vàng như một nơi trú ẩn an toàn trước nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu ngày một lan rộng, làm cho giá vàng trong thời gian qua tăng mạnh, lên mức trên 1.300 USD/ounce. Điều này phản ánh nhu cầu về dự trữ an toàn hơn so với đồng tiền giấy, sau khi nhiều cá nhân và tổ chức ở châu Âu, châu Á đua nhau mua vàng, mua bạch kim và bạc. Việc giá vàng tăng cùng với xu hướng tăng mạnh của đồng USD là điều ít khi xảy ra. Rất có thể sẽ tăng tới một kỷ lục mới trong thời gian tới và tạo sự tách biệt hoàn toàn giữa giá tài sản vàng và các tài sản khác.  Bảo hiểu rủi ro tín dụng (CDS) xu hướng tăng lên Vấn đề Hy Lạp đang làm cho các nhà đầu tư trên thế giới càng trở nên thận trọng hơn với các quốc gia có vấn nạn tương tự: 3 số liệu cảnh báo bao gồm: nợ quá nhiều, thể hiện ở tỷ lệ nợ trên GDP cao; chi tiêu quá mức, thể hiện ở mức thâm hụt ngân sách lớn so với GDP; và tốc độ tăng trưởng GDP sụt giảm. Hệ quả là Việt Nam với tỷ lệ nợ cao, thâm hụt ngân sách triển miên đang bị các tổ chức tài chính quốc tế xếp vào mục rủi ro cao, với mức CDS là 263, xếp ngay trên Hy Lạp (321) và Iceland Sinh viên: Nguyễn Trung Dũng 20
- Xem thêm -