Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty lương thực cấp i lương yên

  • Số trang: 89 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Luận văn Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Lương Thực cấp I Lương Yên 1 LỜI MỞ ĐẦU Lương thực và an ninh lương thực là vấn đề tối quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với Việt Nam – một nước đang phát triển và đang lấy việc kinh doanh lương thực và nông sản phẩm làm điểm mạnh để gia tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân. Cùng với đó các công ty lương thực cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình bình ổn và kinh doanh lương thực ở nước ta. Các công ty lương thực hiện nay tồn tại dưới nhiều hình thức khá đa dạng và phong phú, như doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước, các hợp tác xã, xí nghiệp sản xuất…với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Công ty Lương Thực cấp I Lương Yên là một doanh nghiệp Nhà nước với chức năng chủ yếu sản xuất kinh doanh các loại lương thực. Đây là một doanh nghiệp có tuổi đời gần 45 năm, trải qua những năm chiến tranh ác liệt luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cung cấp lương thực thực phẩm cho bộ đội, cán bộ công nhân viên trên địa bàn Hà nội cũng như các địa bàn khác trên toàn đất nước. Chuyển sang cơ chế thị trường, Công ty này đã bị chững lại và có phần giảm sút hiệu quả trên một số lĩnh vực kinh doanh, thậm chí có một số đơn vị có nguy cơ giải thế hoặc sáp nhập do không trụ nổi,... vì vậy mà Công ty đã phải vật lộn để vượt qua trụ vững và ổn định để phát triển thành công ty đa chức năng Tuy nhiên sự phát triển đó chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của một Công ty có bề dày gần nửa thế kỷ hoạt động trên lĩnh vực lương thực thực phẩm, với lợi thế kinh doanh tại một thành phố lớn ở phía Bắc và các điều kiện để có thể vươn lên phát triển thành một doanh nghiệp mạnh. Vì vậy việc nghiên cứu và tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tìm hướng đi đúng đắn, ổn định và bền vững cho Công ty là một yêu cầu tất yếu và bức thiết. 2 Là một sinh viên chuyên ngành kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, được thực tập tại Công ty Lương Thực cấp I Lương Yên, trước tình hình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh hiện tại của Công ty, cùng với những kiến thức đã được học tại trường và sự hướng dẫn chỉ bảo của cô giáo TS. Vũ Thị Minh, cùng các cô chú trong Công ty đặc biệt là các cô chú phòng Kinh doanh - Thị trường, em đã có được cái nhìn tổng quát nhất về các mặt Kinh doanh - Thương mại trong Công ty. Đồng thời, em cũng rất quan tâm và nghiên cứu sâu về đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Lương Thực cấp I Lương Yên”. Đây là một đề tài khá sâu phân tích tình hình kinh doanh của Công ty đồng thời đánh giá những nguyên nhân dấn đến tình hình đó để đề ra các giải pháp nhằm khắc phục những điều còn tồn tại và phát huy những thế mạnh của Công ty. Để nghiên cứu đề tài trên, em sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp so sánh tuyệt đối và phương pháp so sánh tương đối. Phương pháp so sánh tuyệt đối cho biết khối lượng, quy mô tăng giảm của chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác hoặc giữa các thời kỳ của doanh nghiệp. Phương pháp so sánh tương đối cho biết kết cấu, quan hệ, tốc độ phát triển và mức độ phổ biến của chỉ tiêu. 3 NỘI DUNG PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH I. KHÁI NIỆM HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Khái niệm Ngày nay khi đề cập đến hiệu quả người ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất. Bởi vì, ở mỗi lĩnh vực, mỗi giác độ khác nhau người ta có những cách nhìn khác nhau về hiệu quả. Và thông thường khi nói đến hiệu quả kinh doanh nào đó thì người ta gắn ngay tên của lĩnh vực đó sau tên của hiệu quả, ví dụ như: hiệu quả thương mại, hiệu quả đầu tư tài sản cố định, hiệu quả sử dụng vốn.... Do đó để hiểu rõ thêm về vấn đề hiệu quả thì chúng ta phải xem xét ở hai góc độ: vĩ mô và vi mô. - Nhìn ở góc độ vĩ mô, phạm trù hiệu quả được hiểu tương ứng với ba lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội là: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị, hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế. Nếu theo mục tiêu cuối cùng thì hiệu quả kinh tế phản ánh kết quả thu về của chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Trong đó kết quả thu về là kết quả phản ánh mục tiêu tổng hợp như: doanh thu, lợi nhuận... Nếu theo từng yếu tố riêng lẻ thì hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố, nguồn lực kinh tế. Nó là kết quả kinh tế thể hiện trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố tham gia vào nền kinh tế. Lúc này hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu chất lượng phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố, nguồn lực của nền kinh tế. Từ đó thông qua hiệu quả kinh tế ta có thể xác định được sự phát triển của nền kinh tế đạt được là cao hay thấp. Hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trị. Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân thì hiệu quả 4 xã hội và hiệu quả chính trị là những chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh đối với việc giải quyết các yêu cầu và mục tiêu chung của nền kinh tế và xã hội. Đây là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế ở các mặt: trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản lý, mức sống bình quân...Thực tế ở các nước tư bản cho thấy, do hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hội đi kèm dẫn đến hậu quả là thất nghiệp, khủng hoảng có tính chất chu kỳ, khoảng cách giàu nghèo là quá lớn...Tuy nhiên chúng ta không nên chú trọng tới hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trị một cách quá thái vì chúng ta có bài học để lại từ thời bao cấp. Chung quy lại ở góc độ vĩ mô của nền kinh tế thì chỉ tiêu hiệu quả phản ánh đồng thời cả hai mặt: Định lượng và định tính, hai mặt này có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu trong những biểu hiện về định tính nhằm đạt được các mục tiêu về xã hội- chính trị thì trong những biểu hiện của định lượng lại nhằm đạt được những mục tiêu về kinh tế. - Nhìn ở góc độ vi mô, từng doanh nghiệp riêng lẻ thì hiệu quả kinh tế đạt được biểu hiện qua phạm trù hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu phản ánh đầy đủ các mặt của một quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp. Cụ thể là: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh đầy đủ những lợi ích đạt đựơc từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dưới góc độ này thì chúng ta có thể xác định được một cách cụ thể và từ đó có thể tính toán so sánh được. Một cách hiểu khác dưới góc độ này là phạm trù hiệu quả kinh doanh là một phạm trù cụ thể, nó đồng nhất và là biểu hiện trực tiếp của lợi nhuận, doanh thu,... thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ngoài ra nó còn biểu hiện mức độ phát triển của doanh nghiệp theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Đến lúc này phạm trù kinh doanh là một phạm trù trừu tượng. 5 Nói một cách khác ta có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu phản ánh trình độ và khả năng quản lý của doanh nghiệp. Tuy nhiên khi xem xét bản chất của hiệu quả kinh doanh phải xem xét chúng trong mối quan hệ với kết quả kinh doanh. Dựa trên kết quả của hoạt động kinh doanh mới có thể xác định được hiệu quả kinh doanh. Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh là một việc phức tạp vì bản thân kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh nhiều khi không được phản ánh chính xác. Chi phí và kết quả không được tính toán một cách chính xác là do không được tính toán bằng các đơn vị thông thường (như uy tín, chi phí vô hình, ...). Và một đặc điểm rất quan trọng của hiệu quả kinh doanh là khái niệm phức tạp và khó khăn vì ngay ở khái niệm đã cho thấy hiệu quả kinh doanh được xác định bởi mối tương quan giữa hai đại lượng là kết quả hoạt động kinh doanh và chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt động kinh doanh đó. Trong khi đó cả hai đại lượng này đều khó xác định chính xác. Hiệu quả kinh doanh có thể bao gồm hiệu quả sản xuất và hiệu quả thương mại. Việc đánh giá và xác định hiệu quả kinh doanh thương mại cũng tương tự như việc xác định và đánh giá hiệu quả kinh doanh nhưng nó chỉ tính toán những chi phí và kết quả liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Về kết quả hoạt động kinh doanh: Hầu như rất ít khi gặp doanh nghiệp xác định chính xác hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp đạt được ở bất kỳ thời điểm nào. Nguyên nhân là do quá trình kinh doanh không trùng hợp nhau. Việc xác định kết quả hoạt động kinh doanh ở một thời điểm nào đó là rất khó khăn, tốn kém. Hàng hoá của doanh nghiệp đang lưu thông trên thương trường như đang vận chuyển trên đường, lưu kho hoặc gửi bán ở đơn vị bạn,... Khó có thể biết đã diễn ra hoạt động mua bán hay chưa. Bên cạnh đó trong kinh doanh nhiều khi hàng hoá được mua ở chu kỳ kinh doanh này lại được bán ở chu kỳ kinh doanh khác và ngược lại. Điều đó gây khó khăn cho 6 việc xác định kết quả một cách chính xác. Ngoài ra việc ảnh hưởng của thước đo giá trị ngày càng là nguyên nhân gây ra khó khăn trong việc đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh. Việc xác định chi phí trong kinh doanh cũng không dễ dàng. Về nguyên tắc chi phí kinh doanh được xác định từ chi phí vô hình và chi phí hữu hình. Nhưng việc xác định chi phí nhất là chi phí vô hình là rất khó khăn, nhiều khi chỉ mang tính ước đoán. Rất khó xác định được chi phí của một thương vụ kinh doanh. Trong kinh doanh tài sản vô hình nhiều khi rất quan trọng, chẳng hạn địa hình thuận lợi của cửa hàng, mạng lưới kho tàng nằm trong địa bàn dân cư có nhu cầu lớn,...tạo nên lợi thế so sánh của các công ty. Chi phí tạo lập uy tín cho doanh nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí kinh doanh của doanh nghiệp ở cả ngắn hạn và dài hạn. Chính vì những lý do trên mà việc xác định hiệu quả kinh doanh nói chung và chi phí kinh doanh nói riêng đòi hỏi phải tính tới cả chi phí vô hình, như vậy mới đảm bảo được tính chính xác của việc tính toán kết quả kinh doanh. Cũng chính việc xác định hiệu quả kinh doanh và chi phí kinh doanh khó khăn như vậy nên dẫn tới một đặc điểm của hiệu quả kinh doanh là hiệu quả ngắn hạn và hiệu qủa dài hạn chưa chắc đã phù hợp với nhau, nhiều khi mâu thuẫn nhau. Hiệu quả ngắn hạn tốt nhưng hiệu quả dài hạn chưa chắc đã tốt và ngược lại. Chẳng hạn doanh nghiệp chú trọng hiệu quả ngắn hạn chạy theo phi vụ làm ăn mà bỏ qua thị trường, mất bạn hàng, khách hàng nên đem lại hiệu quả xấu cho doanh nghiệp trong dài hạn. Nói tóm lại ở tầm vi mô, hiệu quả kinh doanh phản ánh đồng thời các mặt của quá trình kinh doanh: kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào... Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện các mức độ có chiều sâu. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng tạo đà cho việc tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản đánh giá việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. 7 2. Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh 2.1. Nhân tố bên trong doanh nghiệp Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp là tập hợp các nhân tố mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được cũng như có thể điều chỉnh được ảnh hưởng của chúng. Tập hợp các nhân tố này bao gồm: lực lượng lao động, trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật, nhân tố quản trị doanh nghiệp, hệ thống trao đổi xử lý thông tin.... Tuỳ theo mỗi doanh nghiệp và loại hình kinh doanh của doanh nghiệp mà mỗi nhân tố có ảnh hưởng khác nhau. * Lực lượng lao động Lực lượng lao động đóng vai trò then chốt trong kinh doanh. Trình độ, năng lực của người lao động là nhân tố tác động trực tiếp tới kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó việc tổ chức phân công lao động hiệp tác hợp lý giữa các bộ phận cá nhân trong doanh nghiệp, sử dụng đúng người đúng việc phải xuất phát từ yêu cầu mới tìm người. Tận dụng một cách tốt nhất năng lực sở trường của từng lao động là một yêu cầu không thể thiếu được trong tổ chức nhân lực của công ty. Có thể coi con người phù hợp trong kinh doanh là điều kiện cần để kinh doanh đạt hiệu quả. Việc bố trí nhân lực phụ thuộc vào chiến lược, đặc điểm kinh doanh của từng công ty. Tổ chức nhân lực quá chặt chẽ (chuyên môn hoá cao) sẽ giảm tính độc lập, sáng tạo của người lao động. Nhưng tổ chức lỏng lẻo quá sẽ gây lộn xộn, khó quản lý, khó tập trung sức mạnh vào mục tiêu chung. Tuy nhiên tổ chức nhân lực phải đảm bảo mục tiêu chung là đúng người đúng việc, quyền lợi trách nhiệm rõ ràng sao cho có thể thực hiện nhanh nhất, đồng bộ mệnh lệnh của cấp trên đồng thời khuyến kích được tính độc lập sáng tạo của công nhân viên. Trong kinh doanh, xuất phát từ chức năng chính là mua bán hàng hoá nên việc tổ chức nhân lực hợp lý, chặt chẽ là yêu cầu không thể thiếu được, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do kinh doanh có chu kỳ kinh doanh ngắn, chịu sự biến động mạnh mẽ của thị trường 8 nên đòi hỏi bộ máy nhân lực phải gọn nhẹ, linh hoạt. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu kinh doanh, mang lại hiệu quả cao. * Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật trong kinh doanh là yếu tố vật chất hữu hình quan trọng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Cơ sơ vật chất của doanh nghiệp sẽ đem lại sức mạnh kinh doanh cho doanh nghiệp trên cơ sở sức sinh lời của tài sản. Nhân tố này đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp thương mại. Là đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông, cơ sở vật chất của doanh nghiệp tuy không chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tài sản nhưng nó lại có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (nhà cửa, cửa hàng, kho tàng, bến bãi...). Cơ sở vật chất của doanh nghiệp càng được bố trí hợp lý bao nhiêu thì càng đem lại hiệu quả cao bấy nhiêu. Điều này có thể thấy khá rõ nếu một doanh nghiệp có hệ thống kho tàng, cửa hàng nằm trong khu vực dân cư có nhu cầu lớn, thuận tiện giao thông... sẽ đem lại cho doanh nghiệp tài sản vô hình lớn. Đó là lợi thế kinh doanh khó có thể có được từ các doanh nghiệp khác. Hệ thống cơ sở vật chất của doanh nghiệp bố trí thành mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp. Mạng lưới kinh doanh có vai trò rất lớn giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường, mở rộng thị trường tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp, nâng cao tính ổn định trong kinh doanh. Mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp cần phù hợp với mỗi doanh nghiệp, trên mỗi thị trường. Mạng lưới kinh doanh phải đảm bảo tính hợp lý, tiết kiệm cũng như kiểm soát được giữa các mắt xích trong mạng lưới. Trong thương mại mạng lưới kinh doanh phải đảm bảo bám sát thị trường phục vụ khách hàng nhanh, kịp thời, tiết kiệm chi phí. Mạng lưới phải dễ quản lý nhưng vẫn đảm bảo tính bao quát thị trường. 9 * Nhân tố quản trị doanh nghiệp Quản trị trong doanh nghiệp đóng vai trò thành công hay thất bại trong kinh doanh. Chính vì vậy mà nó ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh. Trước hết để quản trị doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ lưỡng các yếu tố ngoại lai có ảnh hưởng. Sự phân tích đầy đủ các yếu tố trả lời cho chúng ta câu hỏi: Doanh nghiệp đang ở trong môi trường nào? Các doanh nghiệp suy cho cùng thường bị trói buộc bởi sự hạn hẹp về khả năng tài chính. Điều đó trả lời cho câu hỏi doanh nghiệp đang ở trong hoàn cảnh nào? Tất cả các hoạt động quản trị nếu thiếu ý tưởng mới thì chỉ là sự chấp nhận sơ cứng một quá trình cũ. Mọi thắng lợi chỉ có thể có nếu hoạt động quản trị bắt đầu từ các ý tưởng mới. Một doanh nghiệp nếu yếu tố quản trị non kém sẽ ảnh hưởng tiêu cực rất lớn tới kết quả cũng như hiệu quả kinh doanh, là điều tệ hại đối với doanh nghiệp trên thương trường. Kết quả là doanh nghiệp sẽ kinh doanh không hiệu quả được. Nhưng bằng cách nào có thể xác định được yếu tố quản trị là mạnh hay yếu? Yếu tố quản trị như thế nào là mạnh? Cơ cấu tổ chức của ban lãnh đạo như thế nào là hợp lý? Điều này phụ thuộc vào mỗi doanh nghiệp, mỗi loại hình kinh doanh. Nhưng một yêu cầu chung của nhân tố quản trị là phải đảm bảo các nguyên tắc gọn nhẹ, thống nhất, linh hoạt vì chỉ có như vậy mới hạ thấp chi phí hành chính, tránh chồng chéo trách nhiệm tạo nên sức ỳ trong quản trị. * Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đang làm thay đổi lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong đó công nghệ tin học đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Thông tin được coi là hàng hoá, là đối tượng kinh doanh và nền kinh tế thị trường hiện nay là nền kinh tế thông tin hoá. Để đạt được thành công khi kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, các doanh nghiệp rất cần nhiều thông tin chính xác về cung cầu thị trường hàng hoá, về công nghệ kỹ thuật, về người mua, về các đối thủ cạnh tranh,… Ngoài ra, các doanh nghiệp 10 còn rất cần đến các thông tin về kinh nghiệm thành công hay thất bại của các doanh nghiệp khác ở trong nước và quốc tế, cần biết các thông tin về các thay đổi trong các chính sách kinh tế của Nhà nước và các nước khác có liên quan… Trong kinh doanh nếu biết mình, biết người và nhất là hiểu rõ được các đối thủ cạnh tranh thì mới có đối sách giành thắng lợi trong cạnh tranh, có chính sách phát triển mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp cho thấy nắm được các thông tin cần thiết, biết xử lý và sử dụng các thông tin đó kịp thời là một điều kiện quan trọng để ra các quyết định kinh doanh có hiêụ quả cao, đem lại thắng lợi trong cạnh tranh. Những thông tin chính xác được cung cấp kịp thời sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn cũng như hoạch định các chương trình sản xuất ngắn hạn. Nếu doanh nghiệp không được cung cấp thông tin một cách kịp thời doanh nghiệp không có cơ sở để ban hành các quyết định kinh doanh dài và ngắn hạn và do đó dễ dẫn đến thất bại. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là của công nghệ thông tin đã thúc đẩy và đòi hỏi mỗi nước bắt tay xây dựng nền kinh tế tri thức. Một trong các đòi hỏi của việc xây dựng nền kinh tế tri thức là các hoạt động kinh doanh phải dựa trên cơ sở sự phát triển của công nghệ tin học. Nhu cầu về thông tin của các Doanh nghiệp đòi hỏi phải phát triển mạnh mẽ hệ thống thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau trong đó đặc biệt là hệ thống thông tin nối mạng trong nước và quốc tế. Tổ chức khoa học hệ thống thông tin nội bộ vừa đáp ứng nhu cầu thông tin kinh doanh lại vừa đảm bảo giảm thiểu chi phí kinh doanh cho quá trình thu thập, xử lý và sử dụng thông tin. Do nhu cầu thông tin ngày càng lớn nên nhiệm vụ này cũng là nhiệm vụ rất quan trọng của công tác quản trị doanh nghiệp hiện nay. Phù hợp với xu thế phát triển hệ thống thông tin nội bộ phải là hệ thống thông tin nối mạng cục bộ và cao hơn nữa là nối mạng trong nước và quốc tế. 11 2.2. Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Nhân tố ngoài doanh nghiệp là nhóm nhân tố không nằm trong sự kiểm soát của doanh nghiệp. Nhóm nhân tố này bao gồm: Môi trường kinh doanh, môi trường cạnh tranh, môi trường pháp luật- chính trị, môi trường tự nhiên, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế, các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước...Các nhân tố này doanh nghiệp không kiểm soát được mà phải tìm biện pháp thích ứng với nó. * Môi trường pháp lý Luật pháp là những quy tắc của kinh doanh mà các đối tượng vi phạm sẽ bị xử lý. Môi trường pháp luật là cơ sở để doanh nghiệp đề ra các chiến lược, kế hoạch kinh doanh. Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh phải dựa trên cơ sở kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm. Luật pháp càng hoàn hảo càng đảm bảo tính công bằng cho các doanh nghiệp tham gia. Tóm lại môi trường luật pháp có ảnh hưởng rất nhiều đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, bằng cách tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp thông qua các công cụ luật pháp và công cụ vĩ mô... * Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế ảnh hưởng to lớn đến khả năng thanh toán của khách hàng qua đó ảnh hưởng tới nhu cầu của khách hàng. Do đó môi trường kinh tế là căn cứ để doanh nghiệp lựa chọn có nên tham gia kinh doanh hay không? Kinh doanh loại mặt hàng gì? Kinh doanh như thế nào? Phục vụ nhóm khách hàng nào?... Môi trường kinh tế là cơ sở tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Môi trường kinh tế bao gồm các nhân tố: đối thủ cạnh tranh, thị trường, cơ cấu ngành, tập quán và mức độ thu nhập bình quân của dân cư. + Đối thủ cạnh tranh: Tính cạnh tranh trên thị trường có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Môi trường cạnh tranh hoàn hảo thì sự gia nhập cũng như rút khỏi thị 12 trường là tự do. Các doanh nghiệp tham gia vào thị trường và chấp nhận giá cả thị trường kinh doanh không thu được siêu lợi nhuận mà chỉ thu được lợi nhuận thông thường tương ứng với chi phí cơ hội của vốn. Thị trường càng độc quyền thì các doanh nghiệp càng có sức mạnh kiểm soát giá (nâng giá bán hoặc hạ giá mua để thu siêu lợi nhuận), ở thị trường này sự ra nhập thị trường là rất khó khăn. Kinh doanh trong thị trường độc quyền hoặc thiểu số độc quyền sẽ đem lại lợi nhuận cao, hiệu quả kinh doanh lớn cho doanh nghiệp (hiệu quả kinh doanh cá biệt). Nhưng thị trường này sẽ gây tổn thất cho kinh tế- xã hội. Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu quả thương mại là việc khó khăn hơn rất nhiều. Vì giờ đây doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng để đẩy mạnh tiêu thụ, giảm giá thành, tổ chức lại bộ máy hoạt động kinh doanh phù hợp, hợp lý hơn, tối ưu hơn để bù lại những mất mát của doanh nghiệp do cạnh tranh về giá, cạnh tranh về chất lượng, mẫu mã...Như vậy đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn tới việc nâng cao hiệu quả thương mại của doanh nghiệp. Nó vừa là đối thủ mang lại trở ngại vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường khi xuất hiện đối thủ cạnh tranh thì hiệu quả thương mại sẽ bị giảm đi một cách tương đối. + Thị trường: ở đây thị trường bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của doanh nghiệp. Thị trường ảnh hưởng rất lớn tới giá thành sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của sản xuất. Thị trường đầu ra quyết định tới doanh thu của doanh nghiệp trên cơ sở chấp nhận hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp ở mức độ nào đó thì doanh nghiệp có thể bố trí quá trình sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh. + Tập quán dân cư và mức thu nhập bình quân của dân cư: Đây là một nhân tố quan trọng trong nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nó quyết định mức độ, chất lượng, số lượng, chủng loại, gam hàng...mà doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, nắm bắt để làm sao phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng ở mức giá có thể chấp nhận được. Bởi vì yếu tố này tác động gián tiếp tới quá 13 trình sản xuất cũng như công tác Marketing và cuối cùng là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. + Mối quan hệ và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường: Đây là tài sản vô hình của doanh nghiệp, nó có quyết định tới sự thành hay bại, là nhân tố tác động trực tiếp tới việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Sự tác động đó là phi lượng hoá mà chúng ta không thể tính toán hay đo đạc nó bằng phương pháp định lượng thông thường. Bởi vì, mối quan hệ rộng sẽ tạo ra cơ hội lựa chọn những gì có lợi nhất cho doanh nghiệp. Mặt khác quan hệ và uy tín của doanh nghiệp sẽ tạo cho doanh nghiệp một uy thế lớn trong tiêu thụ, vay vốn hay mua chịu hàng hoá... Ngoài ra môi trường kinh doanh còn có các nhân tố khác như: hàng hoá thay thế, hàng hoá phụ thuộc với hàng hoá của doanh nghiệp cũng có tác động tới việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp coi như không đáng kế nhưng doanh nghiệp cũng cần phải xem xét, quan tâm một cách thích đáng để có những ứng xử với thị trường trong từng giai đoạn, từng thời điểm cụ thể. * Các yếu tố khác + Nhân tố thời tiết, khí hậu mùa vụ: Nhân tố này ảnh hưởng rất lớn tới quy trình, tiến độ thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm nhất là đối với các doanh nghiệp kinh doanh các loại mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản... Với những điều kiện thời tiết, khí hậu hay mùa vụ thì doanh nghiệp phải có chính sách cụ thể phù hợp với điều kiện đó. Như vậy khi các nhân tố này không ổn định sẽ làm cho chính sách hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không ổn định và chính là nhân tố đầu tiên làm mất ổn định hoạt động kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. + Nhân tố tài nguyên thiên nhiên: Nhân tố này chỉ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên. Một khu vực có nhiều tài nguyên với trữ lượng lớn và chất lượng tốt sẽ ảnh hưởng 14 và tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khai thác. + Nhân tố vị trí địa lý: Đây là nhân tố không chỉ tác động đến công tác nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mà còn tác động tới các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: giao dịch, vận tải, sản xuất... các mặt hàng này cũng tác động đến hiệu quả kinh doanh bởi sự tác động lên các chi phí. + Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế. Có thể nói cơ sở hạ tầng là tiêu đề căn bản thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh. Như đã biết kinh doanh muốn thu được hiệu quả cao phải giảm thiểu chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Nhất là đối với doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực lưu thông thì hệ thống đường, hệ thống thông tin liên lạc ảnh hưởng lớn tới chi phí vận chuyển, bảo quản cũng như khả năng nắm bắt nhu cầu, giá cả thị trường. Cơ sở hạ tầng tốt sẽ thúc đẩy đầu tư, ảnh hưởng gián tiếp tới nhu cầu tiêu dùng khách hàng của doanh nghiệp. Ngoài những nhân tố trên, nhóm nhân tố ngoài môi trường doanh nghiệp còn bao gồm các nhân tố khác như nhân tố thời vụ, nhân tố văn hoá xã hội tuỳ thuộc vào mỗi doanh nghiệp các loại hình kinh doanh mà chúng ảnh hưởng ít nhiều tới tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. II. PHÂN LOẠI HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Xét theo phạm vi hoạt động * Hiệu quả tổng hợp : Phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh doanh của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ xác định * Hiệu quả bộ phận: Là hiệu quả kinh doanh chỉ xét ở từng lĩnh vực hoạt động (sử dụng vốn, lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu... ) cụ thể của doanh nghiệp. Hiệu 15 quả kinh doanh bộ phận chỉ phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp chứ không phản ánh hiệu quả của toàn doanh nghiệp. Giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận có mối quan hệ biện chứng với nhau. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp cấp doanh nghiệp phản ánh hiệu quả hoạt động của tất cả các lĩnh vực hoạt động cụ thể của doanh nghiệp và các đơn vị bộ phận trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp có thể xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận, khi đó chỉ có chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp là phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận chỉ có thể phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động, từng bộ phận của doanh nghiệp mà thôi. 2. Xét theo thời gian hoạt động * Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn Là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian ngắn. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn chỉ đề cập đến từng khoảng thời gian ngắn như tuần, tháng ,quý, năm, vài năm... * Hiệu quả kinh doanh dài hạn Là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá trong khoảng thời gian dài, gắn với các chiến lược, các kế hoạch dài hạn hoặc thậm chí, nói đến hiệu quả kinh doanh dài hạn người ta hay nhắc đến hiệu quả lâu dài, gắn với quãng đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Cần chú ý rằng, giữa hiệu quả kinh doanh dài hạn và ngắn hạn vừa có mối quan hệ biện chứng với nhau và trong nhiều trường hợp có thể mâu thuẫn nhau. Về nguyên tắc, chỉ có thể xem xét và đánh giá hiệu quả kinh doanh ngắn hạn trên cơ sở vẫn đảm bảo đạt được hiệu quả kinh doanh dài hạn trong tương lai. Trong thực tế, nếu xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn, chỉ có thể lấy hiệu quả kinh doanh dài hạn làm thước đo 16 chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì nó phản ánh xuyên suốt quá trình lợi dụng các nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp. 3. Tiêu chuẩn hiệu quả Từ công thức xác định hiệu quả kinh doanh chung sẽ luôn xác lập được một dãy các giá trị có thể của kết quả/ chi phí kinh doanh. Nếu xét các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh cụ thể thì với mỗi chỉ tiêu cũng đều xác lập được một dãy các giá trị có thể. Vấn đề đặt ra là liệu mọi giá trị đó đều phản ánh có hiệu quả ở các mức độ khác nhau hay trong dãy các giá trị đó thì giá trị nào là có hiệu quả, giá trị nào là không có hiệu quả? Rõ ràng, trong dãy các giá trị có thể của mỗi chỉ tiêu không phải giá trị nào cũng phản ánh sự có hiệu quả. Trường hợp doanh nghiệp lỗ vốn, chỉ tiêu lợi nhuận / vốn kinh doanh âm thì rõ ràng doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả. Còn các giá trị khác, khi nào có và khi nào không có hiệu quả? Chính vì vậy phải nghiên cứu phạm trù tiêu chuẩn hiệu quả. Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là “ mốc” xác định ranh giới có hay không có hiệu quả. Như thế, trước hết cần xác định được tiêu chuẩn hiệu quả cho mỗi chỉ tiêu để phân biệt mức có hay không có hiệu quả. Sẽ không có tiêu chuẩn chung cho các chỉ tiêu hiệu quả khác nhau. Nếu theo phương pháp so sánh toàn ngành có thể lấy giá trị bình quân đạt được của ngành làm tiêu chuẩn hiệu quả. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp chỉ đạt được hiệu quả nếu giá trị đạt được ứng với một chỉ tiêu cụ thể xác định không thấp hơn giá trị bình quân của ngành. III. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Chỉ tiêu tổng hợp - Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh (  R + TL W ) x 100 D VKD (%) = 17 V KD Trong đó: DVKD(%): Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh của một thời kỳ R : Lãi ròng thu được của thời kỳ tính toán TLW :Lãi trả vốn vay của thời kỳ đó V KD : Vốn kinh doanh của thời kỳ đó Chỉ tiêu này gọi là khả năng sinh lời của vốn đầu tư. Nó cho biết một đồng vốn bỏ ra kinh doanh tạo ra bao nhiêu lợi nhuận. - Doanh lợi của vốn chủ sở hữu R x 100 DVCSH (%) = VCSH Trong đó: DVCSH : Doanh lợi vốn tự có của một thời ký tình toán. VCT : Tổng vốn tự có của thời kỳ đó. Đây là chỉ số mà doanh nghiệp quan tâm nhất bởi vì nó là mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp theo đuổi. Một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ số này phải đạt mức sao cho doanh lợi trên vốn chủ sở hữu đạt được cao hơn tỷ lệ lạm phát, giá vốn. - Doanh lợi của doanh thu bán hàng  R x 100 DTR(%) = TR Trong đó: DTR : Doanh lợi của doanh thu bán hàng của một thời kỳ TR : Doanh thu bán hàng của thời kỳ tính toán đó - Hiệu quả kinh doanh theo chi phí kinh doanh của một thời kỳ 18 TR x 100 H CPKD (%) = TCKD Trong đó: HCPKD : Hiệu quả kinh doanh tính theo chi phí kinh doanh TR : Doanh thu bán hàng của kỳ tính toán TCKD : Chi phí kinh doanh của kỳ tính toán 2. Chỉ tiêu bộ phận - Số vòng quay của toàn bộ vốn kinh doanh TR SVVKD = VKD Trong đó: SVVKD : số vòng quay của toàn bộ vốn kinh doanh TR : tổng doanh thu V KD : tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Số vòng quay càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao. - Hiệu quả sử dụng vốn cố định Được đánh giá bằng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định. R H TSCĐ = TSCĐG Trong đó: HTSCĐ : hiệu suất sử dụng tài sản cố định R : lãi ròng của thời kỳ tính toán TSCĐG : tổng giá trị tài sản cố định bình quân trong kỳ TSCĐG = Nguyên giá tài sản cố định - Giá trị đã hao mòn 19 Chỉ tiêu này cho biết một đồng giá trị tài sản cố định trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận, thể hiện trình độ sử dụng tài sản cố định, khả năng sinh lợi của tài sản cố định trong sản xuất kinh doanh. - Hiệu quả sử dụng vốn lưu động Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của thời kỳ tính toán được xác định theo công thức: R HVLĐ = VLĐ Trong đó: HVLĐ : hiệu quả sử dụng vốn lưu động. V LĐ : vốn lưu động bình quân của kỳ tính toán Vốn lưu động bình quân của kỳ tính toán chính là giá trị bình quân của vốn lưu động có ở đầu kỳ và cuối kỳ. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. - Mức sinh lời bình quân của lao động Mức sinh lời bình quân của một lao động cho biết mỗi lao động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ tính toán xác định. 20
- Xem thêm -