Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác

  • Số trang: 68 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Báo cáo tốt nghiệp "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam " 1 Mục lục 1.1 Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị trường .......................... 5 1.1.1 Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt .. 5 1.1.2 Vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế thị trường.......... 6 1.2 Những quy định mang tính nguyên tắc trong TTKDTM........ 8 1.2.1 Mở và sử dụng tài khoản thanh toán .................... 8 1.2.2 Đảm bảo khả năng thanh toán ........................ 9 1.2.3 Thực hiện lệnh thanh toán .......................... 10 1.2.4 Phí dịch vụ thanh toán............................. 10 1.2.5 Chứng từ thanh toán .............................. 10 1.2.6 Trách nhiệm của Ngân hàng......................... 10 1.3 Sơ lược về quá trình phát triển TTKDTM ở Việt nam........ 11 1.4 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt............. 12 1.4.1 Thanh toán bằng séc .............................. 13 Có TK Tiền gửi của người thụ hưởng ...................... 17 Nợ TK Liên hàng đi .................................. 17 Nợ TK Tiền gửi đảm bảo thanh toán séc bảo chi............... 17 1.4.2 Thanh toán bằng UNC- chuyển tiền.................... 18 1.4.3 Uỷ nhiệm thu (UNT) .............................. 19 1.4.4 Thư tín dụng (TTD)............................... 20 BNNg ............................................ 21 1.4.5 Thẻ thanh toán .................................. 22 Chương 2.......................................... 25 2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn .......................... 28 Nguồn trích: Bảng cân đối kế toán 1999, 2000, 2001............. 29 2.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn ........................... 30 Nguồn trích: Bảng cân đối kế toán 1999, 2000, 2001............. 30 2.1.2.3 Công tác kế toán- thanh toán ....................... 31 2.1.2.4 Kết quả tài chính ............................... 32 2.2 Thực trạng công tác TTKDTM tại Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt nam.............................................. 33 2.2.1 Tình hình thanh toán chung ......................... 33 2.2.2 Tình hình vận dụng các hình thức thanh toán............. 35 2.3. Nhận xét về công tác TTKDTM tại Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt Nam .......................................... 44 2.3.1. Những kết quả đạt được ........................... 44 2 2.3.2. Những tồn tại cần khắc phục ........................ 45 2.3.3. Nguyên nhân ................................... 46 Chương 3.......................................... 49 3.1. Định hướng hoạt động của sở giao dịch NHNo&PTNT Việt Nam. 49 3.1.1. Một số chỉ tiêu của kế hoạch kinh doanh năm 2002 ........ 49 3.1.2. Phương hướng thực hiện........................... 49 3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác TTKDTM tại Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt Nam ..................... 52 3.2.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý ...................... 53 3.2.2. Không ngừng hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng .......... 54 3.2.3. Đối với thanh toán bằng tiền mặt và KDTM ............. 54 3.3. Kiến nghị về việc cải tiến các hình thức TTKDTM hiện có và đưa vào áp dụng các hình thức thanh toán hiện đại................ 56 3.3.1. Đối với hình thức thanh toán séc ..................... 56 3.3.2. Đối với hình thức thanh toán bằng UNC ................ 58 3.3.4. Đối với hình thức thanh toán TTD .................... 60 3.3.5. Đối với hình thức thẻ thanh toán ..................... 60 Kết luận........................................... 64 Danh mục tài liệu tham khảo ............................ 64 Mục lục ........................................... 66 Trang ............................................ 66 Chương 1.......................................... 66 1.1.1 Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt .. 3 66 Chương 2: .......................................... 66 2.1 Khái quát chung về hoạt động của sở giao dịch NHNo & PTNT Việt Nam 24 .... 67 2.2 Thực trạng công tác TTKDTM tại Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt nam 32 .... 67 2.2.2 Tình hình vận dụng các hình thức thanh toán ............ 34 67 2.3 Nhận xét về công tác TTKDTM tại Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt nam 43 ... 67 Chương 3: .......................................... 67 3 lời mở đầu Lịch sử và phát triển của hệ thống Ngân hàng cho thấy Ngân hàng luôn giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế. Trọng trách to lớn, riêng có mà lịch sử đã đặt lên vai hệ thống Ngân hàng đó là phải làm thật tốt trung tâm tiền tệ - tín dụng và thanh toán cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, vai trò trung gian thanh toán của Ngân hàng ngày càng tỏ rõ tính ưu việt và sự linh hoạt của nó. Ngày nay, khi nói tới thanh toán không dùng tiền mặt là nói đến một mật nghiệp vụ, hoạt động mạnh mẽ và quan trọng của Ngân hàng.Thanh toán không dùng tiền mặt có vai trò to lớn góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển từ đó góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế. Với tầm quan trọng như vậy, việc tìm các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt là một việc làm cần thiết đối với không riêng Ngân hàng nào. Trên cơ sở những luận điểm đã trình bày, qua quá trình thực tế tại Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, em lựa chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam " cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. Ngoài lời mở đầu,kết luận, nội dung của chuyên đề được kết cấu như sau: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) Chương 2: Thực trạng công tác TTKDTM tại Sở giao dịch NHNo và PTNT Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác TTKDTM. nội dung chương 1: những vấn đề cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt 4 1.1 Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế th ị trường 1.1.1 Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt Như chúng ta đã biết, sự ra đời và phát triển của lưu thông tiền tệ gắn liền với quá trình ra đời và phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Sở dĩ như vậy là do yêu cầu của quá trình trao đổi hàng hoá mà tiền tệ đã ra đời với vai trò làm trung gian trao đổi các loại hàng hoá được thực hiện dễ dàng, nhanh chóng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển. Quá trình tái sản xuất xã hội là một quá trình liên hoàn và không ngừng mở rộng, trong đó tồn tại các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá dịch vụ do đó không thể không có hoạt động thanh toán. Khi nền sản xuất còn ở trình độ thấp, thanh toán tiền tệ chỉ bó hẹp trong phạm vi và khối lượng nhỏ, việc thanh toán được thực hiện bằng việc chi trả tiền mặt, sự vận động của vật tư hàng hoá gắn liền với sự vận động của một khối lượng tiền mặt nhất định. Thanh toán bằng tiền mặt lúc này tỏ ra là phương thức thanh toán hữu hiệu nhất, nó được thực hiện rất linh hoạt tuỳ theo thoả thuận giữa hai bên mua bán mà ít gặp trở ngại. Tuy nhiên, khi sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao hơn, khối lượng sản phẩm sản xuất nhiều hơn thì trao đổi hàng hoá không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vùng mà mở rộng ra cả nước và quốc tế. Lúc này, thanh toán bằng tiền mặt đã bộc lộ những hạn chế nhất định như chi phí tốn kém trong việc in ấn, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm, không đáp ứng các nhu cầu thanh toán lớn, ở xa và nó trở nên không an toàn. Chính vì vậy, đòi hỏi phải có một hình thức thanh toán mới để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, thanh toán không dùng tiền mặt ra đời. Thanh toán không dùng tiền mặt ( TTKDTM ) là sự vận động của tiền tệ qua chức năng phương tiện thanh toán nhằm phục vụ các quan hệ thanh toán giữa các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội bằng cách trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản này sang tài khoản khác, bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác. 5 TTKDTM ra đời là kết quả tất yếu của quá trình phát triển ngày càng cao của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá, nó nhanh chóng chiếm ưu thế và trở thành một phần không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường. TTKDTM ra đời đã khắc phục được nhược điểm của thanh toán bằng tiền mặt. Có thể nói, TTKDTM mang lại hiệu quả cao, thể hiện một nền kinh tế đã và đang phát triển, các mối quan hệ về kinh tế, tài chính đã mở rộng, hoạt động của hệ thống Ngân hàng ngày càng đa dạng và phong phú. Việc phát triển các hình thức TTKDTM và hiện đại hoá các nghiệp vụ ngân hàng là minh chứng hiện thực cho sự tồn tại và phát triển hợp logic cũng như vai trò, vị trí của hệ thống Ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân. Như vậy, có thể nói TTKDTM là phương tiện thanh toán không thể thiếu được, nó là nấc thang phát triển tất yếu của các quan hệ thanh toán trong nền kinh tế thị trường và chính nó đã, đang và sẽ đáp ứng tối đa yêu cầu của nền kinh tế hiện đại. 1.1.2 Vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế thị trường Ngày nay, TTKDTM là một phần không thể tách rời các doanh nghiệp, các cá nhân và các tổ chức đoàn thể. Trong nền kinh tế thị trường, TTKDTM được thực hiện trôi trảy sẽ đem lại hiệu quả thiết thực cho tất cả các đối tác tham gia cũng như cho toàn xã hội. - TTKDTM góp phần tăng nhanh tốc độ vận động của vật tư, hàng hoá và tiền vốn, qua đó thúc đẩy quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Như chúng ta đã biết, bất kỳ một chu kỳ sản xuất nào cũng đều bắt đầu và kết thúc bằng khâu thanh toán- từ việc mua các yếu tố đầu vào đến việc tiêu thụ các yếu tố đầu ra. Việc đẩy nhanh tốc độ thanh toán qua Ngân hàng giúp khách hàng rút ngắn được thời gian trong khâu lưu thông do đó rút ngắn thời được thời gian qua một vòng chu chuyển vốn, tăng nhanh tốc độ của quá trình sản xuất. - Tăng tỷ trọng TTKDTM sẽ góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông từ đó tiết kiệm được chi phí của xã hội và của Ngân hàng. Cụ thể đó là những chi phí trong việc in ấn, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm tiền mặt… Nhờ vậy, có thể sử dụng các nguồn vốn tiết kiệm được để đầu tư mở rộng sản xuất, xây 6 dựng Cơ sở hạ tầng nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, TTKDTM còn góp phần hạn chế đến mức thấp nhất các tệ nạn xã hội như tham ô, hối lộ, trộm cắp…, ngăn chặn hoạt động "rửa tiền", làm tiền giả hay đầu cơ, tích trữ… -TTKDTM tạo điều kiện để Ngân hàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi mở rộng tín dụng và phát triển dịch vụ Ngân hàng. Như chúng ta đã biết, nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ thanh toán luôn có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ với nhau, chỉ khi thực hiện tốt mối quan hệ này thì Ngân hàng mới có điều kiện phát triển được. TTKDTM đòi hỏi các doanh nghiệp phải có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng và số dư trên tài khoản tiền gửi phải đảm bảo khả năng thanh toán khi cần thiết. Các tổ chức kinh tế và cá nhân mở tài khoản tiền gửi thanh toán ở Ngân hàng có quyền sử dụng toàn bộ số tiền đó vào bất cứ lúc nào và Ngân hàng phải có trách nhiệm thoả mãn nhu cầu đó. Tuy nhiên, có sự không ăn khớp giữa những người có nhu cầu rút tiền và gửi tiền vào, do đó hình thành một số dư tương đối lớn và ổn định về nguồn vốn ngắn hạn cho Ngân hàng. Mặt khác, Ngân hàng hoàn toàn có kế hoạch một cách tương đối chính xác nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng trong từng thời kỳ. Như vậy, ngoài phần dự trữ tiền mặt để đảm bảo khả năng chi trả, thanh toán kịp thời cho khách hàng, số còn lại, Ngân hàng có thể sử dụng để đầu tư, mở rộng tín dụng của mình. Thực tế, khối lượng tiền gửi thanh toán chiếm tỷ trọng khá cao trong toàn bộ nguồn vốn của Ngân hàng, tạo thuận lợi cho Ngân hàng trong việc giảm lãi suất cho vay. Bản chất của nguồn vốn này không phải gửi vào Ngân hàng để lấy lãi mà để sử dụng một cách chủ động, kịp thời trong thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ giữa các đơn vị và cá nhân . Làm tốt công tác thanh toán qua Ngân hàng, thu hút nhiều khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng để thanh toán là điều kiện tốt để mở rộng khối lượng tín dụng với lãi suất thấp. - Thông qua TTKDTM, tạo điều kiện để NHTW xây dựng và điều hành CSTT một cách thuận lợi. Sở dĩ như vậy là do yêu cầu bắt buộc chủ thể tham gia TTKDTM phải có tài khoản tại NH, vì thế thông qua tình hình biến động số dư trên tài khoản của các khách hàng, Ngân hàng sẽ thu thập những thông tin cần thiết về tình hình tài chính, tình hình thanh toán của khách hàng cũng như những thông tin về dòng lưu chuyển tiền tệ… Từ đó, Ngân hàng có thể thực hiện việc quản lý 7 và điều hành CSTT một cách thuận lợi bằng việc đưa ra những chính sách phù hợp trong từng thời kỳ. Như vậy, TTKDTM là rất cần thiết trong nền kinh tế thị trường khi mà Ngân hàng Thương mại và các doanh nghiệp thực sự kinh doanh tự chủ bởi khi đó tính năng động, sáng tạo và yếu tố hiệu qủa luôn đặt đúng vị trí của nó. 1.2 Những quy định mang tính nguyên tắc trong TTKDTM Muốn tổ chức và và thực hiện công tác TTKDTM trong nền kinh tế, ngoài tổ chức Cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ làm công tác thanh toán cần phải nghiên cứu sâu sắc lý luận xã hội, chế độ thể lệ thanh toán khoa học, thực tiễn đảm bảo công tác thanh toán được thực hiện thuận tiện, an toàn, chính xác và nhanh chóng. Hiện nay, TTKDTM được thực hiện trên cơ sở: Nghị định số 30/CP ngày 09.05.1996 của Chính phủ ban hành về quy chế phát hành và sử dụng séc; Thông tư số 07/TTNH1 ngày 27.12.1996 của Ngân hàng Nhà nước Việt nam hướng dẫn thực hiện Nghị định số 30/CP; Quyết định số 371/1999/QĐ- NHNN1 ngày 19.10.1999 của Thống đốc NHNN Việt nam về việc ban hành, sử dụng và thanh toán thẻ Ngân hàng và Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20.09.2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Nội dung của văn bản pháp quy được tóm tắt thành những quy định có tính nguyên tắc sau: 1.2.1 Mở và sử dụng tài khoản thanh toán - Mở tài khoản thanh toán: Tài khoản thanh toán là tài khoản do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để thực hiện giao dịch thanh toán theo quy định của NHNN. Người sử dụng dịch vụ thanh toán có quyền tự lựa chọn Ngân hàng hoặc các tổ chức khác được phép cung cấp dịch vụ thanh toán để mở tài khoản và thực hiện giao dịch thanh toán. - Sử dụng tài khoản và uỷ quyền + Chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản thanh toán phù hợp với quy định của NHNN và pháp luật khác có liên quan. 8 + Chủ tài khoản có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của Nghị định này và pháp luật khác có liên quan trong việc sử dụng tài khoản thanh toán. + Chủ tài khoản được uỷ quyền cho người khác bằng văn bản sử dụng tài khoản theo quy định của pháp luật. Người được uỷ quyền có quyền hạn và nghĩa vụ như chủ tài khoản trong phạm vi uỷ quyền và không được uỷ quyền lại cho người thứ ba. - Sử dụng và uỷ quyền sử dụng của đồng chủ tài khoản Ngoài các quy định về sử dụng tài khoản và uỷ quyền sử dụng tài khoản, việc sử dụng tài khoản của đồng chủ tài khoản còn phải tuân theo các quy định sau: + Mọi giao dịch thanh toán chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của tất cả những người là đồng chủ tài khoản. + Đồng chủ tài khoản được uỷ quyền cho người khác sử dụng tài khoản trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình. Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản theo quy định của pháp luật. - Điều kiện, thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán: Loại tài khoản, tính chất tài khoản, điều kiện, thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định phù hợp với quy định của NHNN và các quy định khác của Pháp luật. Ngoài những quy định trên, tài khoản thanh toán còn có thể bị phong toả hoặc đóng trong một số trường hợp đã được quy định rõ do có sự thoả thuận giữa hai bên hoặc do những nguyên nhân khách quan bên ngoài. Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được quyền quyết định việc đóng tài khoản khi chủ tài khoản vi phạm pháp luật trong thanh toán hoặc vi phạm thoả thuận với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc khi tài khoản có số dư thấp và không hoạt động trong một thời gian nhất định theo quy định của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. 1.2.2 Đảm bảo khả năng thanh toán Người sử dụng dịch vụ phải đảm bảo có đủ tiền trên tài khoản thanh toán mà mình đã lập trừ trường hợp có thoả thuận thấu chi với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. 9 1.2.3 Thực hiện lệnh thanh toán Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ, kịp thời lệnh thanh toán phù hợp với quy định hoặc thoả thuận của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đối với người sử dụng dịch vụ thanh toán nhưng không trái pháp luật. 1.2.4 Phí dịch vụ thanh toán Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được quyền thu phí của người sử dụng dịch vụ thanh toán. 1.2.5 Chứng từ thanh toán Tất cả các chứng từ thanh toán của chủ thể thanh toán đều phải lập trên mẫu in sẵn do Ngân hàng in và nhượng bán. Những chứng từ đó phải lập đủ liên, viết rõ ràng, không tẩy xoá và phải nộp vào Ngân hàng theo đúng quy định. Các Ngân hàng có quyền từ chối thanh toán hoặc không chấp nhận thanh toán trong trường hợp chủ thể thanh toán vi phạm một trong những quy định của chế độ thanh toán hiện hành. 1.2.6 Trách nhiệm của Ngân hàng Các Ngân hàng có trách nhiệm hướng dẫn cho khách hàng làm các thủ tục thanh toán, giám sát khả năng chi trả của khách hàng, cung ứng đầy đủ và kịp thời các loại giấy tờ cần thiết cho khách hàng theo chế độ quy định. Các Ngân hàng có trách nhiệm thông báo và đối chiếu thường xuyên với các chủ tài khoản về số dư tài khoản tiền gửi. Khi nhận được các chứng từ thanh toán của khách hàng gửi đến, các Ngân hàng phải kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản trước khi thực hiện thanh toán và có quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản không đủ tiền. Ngân hàng phải thanh toán kịp thời, nhanh chóng và đảm bảo an toàn tài sản cho khách hàng. Nếu do thiếu sót gây thiệt hại cho khách hàng thì Ngân hàng phải bồi thường vật chất cho bên bị hại và tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo luật định. Khi 10 thực hiện dịch vụ thanh toán cho khách hàng, Ngân hàng được thu phí theo quy định của Thống đốc NHNN . Trên đây là một số quy định có tính nguyên tắc cơ bản nhằm mục đích vừa đảm bảo cho quá trình thanh toán được thực hiện đúng đắn, vừa đảm bảo cho sự kiểm soát bằng đồng tiền của hệ thống Ngân hàng đối với các hoạt động của chủ thể thanh toán có hiệu qủa. 1.3 Sơ lược về quá trình phát triển TTKDTM ở Việt nam Xuất phát từ nhận thức sâu sắc về sự cần thiết khách quan cũng như vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế nên ở nước ta ngay từ khi hệ thống Ngân hàng mới ra đời, TTKDTM đã được tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, trong thời kỳ bao cấp, hệ thống Ngân hàng nước ta hoạt động hoàn toàn mang tính chất hành chính, không quan tâm đến hiệu quả kinh tế nên TTKDTM cũng được thực hiện bằng các biện pháp hành chính, áp đặt và quan liêu, thể hiện ở chỗ: - Buộc các đơn vị, tổ chức kinh tế phải mở tài khoản ở một Ngân hàng duy nhất, phải tập trung thanh toán qua Ngân hàng . - Kỹ thuật công nghệ thanh toán lạc hậu, hình thức đơn điệu, kém hiệu quả. Vì vậy, TTKDTM ở thời kỳ này không phát huy được tác dụng, tốc độ luân chuyển vốn chậm, tâm lý người dân không thích thanh toán chuyển khoản mà thích thanh toán bằng tiền mặt. Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, chính phủ, NHNN đã có nhiều biện pháp nhằm cải tiến cơ bản TTKDTM, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền…Sau mười năm thực hiện công cuộc đổi mới, hoạt động Ngân hàng nói chung và công tác thanh toán nói riêng đặc biệt là TTKDTM đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Đó là từng bước hiện đại hoá, quốc tế hoá hoạt động thanh toán theo chương trình đổi mới công nghệ Ngân hàng, bao gồm chương trình trước mắt và chương trình lâu dài. - Hiện đại hoá hoạt động thanh toán thông qua việc cải tiến đồng loạt các nghiệp vụ thanh toán của hệ thống Ngân hàng, áp dụng rộng rãi công nghệ tin học trong thanh toán ở tất cả các cấp Ngân hàng. 11 - Về hình thức thanh toán đã dần đa dạng hoá cho phù hợp với kinh tế thị trường như séc, UNC, UNT … - Hiện nay, đã thực hiện việc nối mạng thông tin thanh toán trong hệ thống Ngân hàng thương mại quốc doanh và một phần Ngân hàng thương mại cổ phần. Nối mạng thông tin giữa các Ngân hàng thương mại với Ngân hàng Nhà nước. Xây dựng dự án phát triển các hệ thống thanh toán bao gồm thanh toán bù trừ, thanh toán chuyển tiền liên ngân hàng … Tuy nhiên, công tác TTKDTM còn nhiều hạn chế và yếu kém đó là : - Thanh toán tiền mặt trong nền kinh tế còn chiếm tỷ trọng lớn. Sự buông lỏng trong tổ chức TTKDTM cùng với chế độ quản lý chứng từ chưa nghiêm đã là những sơ hở cho tệ tham nhũng và lãng phí trong chi tiêu, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tiềm lực phát triển kinh tế của đất nước. - Nhìn chung, các thể thức thanh toán hiện hành ở nước ta vẫn còn mang dáng dấp, nội dung của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, một số hình thức thanh toán còn phiền hà về thủ tục, chậm chễ trong luân chuyển hay sự an toàn chưa cao … - Những năm qua chúng ta đã hình thành một số thể thức thanh toán mới như thẻ thanh toán nhưng còn hạn chế nếu không muốn nói là hình thức. Việc đổi mới công nghệ thanh toán có sự chuyển biến mạnh mẽ về nội dung lẫn cơ sở vật chất thế nhưng tác dụng chưa tương xứng với chi phí bỏ ra, số liệu thông tin còn chậm chế, sai sót còn nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Từ những thực trạng trên, đòi hỏi ngành Ngân hàng không ngừng đổi mới hơn nữa theo hướng phát huy ưu thế sẵn có đồng thời đưa vào áp dụng những phương thức, hình thức, kỹ thuật thanh toán mới, hiện đại nhằm đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu về : an toàn, nhanh chóng, chính xác và đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia. Từ đó phát huy mạnh mẽ vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế thị trường và hoà nhập mau chóng vào công nghệ thông tin của thế giới. 1.4 Các hình thức thanh toán không dùng tiền m ặt Hiện nay, trên thế giới đã nghiên cứu và áp dụng nhiều hình thức TTKDTM rất đa dạng và phong phú. Nhưng ở mỗi nước tuỳ theo mô hình kinh tế, trình độ quản lý, tuỳ theo mức độ hoàn thiện và hiệu năng của hệ thống Ngân hàng người ta 12 lựa chọn một số hình thức và cụ thể hoá cho phù hợp với điều kiện, đặc thù của mỗi nước. Ơ nước ta hiện nay, nền kinh tế cơ bản đã chuyển sang nền kinh tế thị trường. Vị trí, vai trò và chức năng của doanh nghiệp, của Ngân hàng thương mại, của Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi theo mô hình kinh tế thị trường. Chính vì vậy, chế độ TTKDTM cũng được hoàn thiện hơn để phù hợp với thực tiễn. TTKDTM được quy định trong Nghị định số 64/ 2001/ NĐ - CP ngày 20.9.2001 của Chính phủ bao gồm những hình thức sau : 1. Hình thức thanh toán bằng séc 2. Hình thức thanh toán bằng UNC - chuyển tiền 3. Hình thức thanh toán bằng UNT 4. Hình thức thanh toán bằng thư tín dụng 5. Hình thức thanh toán bằng thẻ thanh toán 1.4.1 Thanh toán bằng séc Séc là một thể thức thanh toán quan trọng không thể thiếu được trong TTKDTM hiện nay. Mặc dù đã ra đời từ rất sớm và ngày càng có nhiều công cụ thanh toán hiện đại nhưng thanh toán bằng séc vẫn giữ vị trí quan trọng trong các thể thức TTKDTM . Theo Nghị định số 30/ CP : Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập trên mẫu do Ngân hàng Nhà nước quy địn yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích tiền từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên tờ séc hay người cầm tờ séc đó. Séc là loại chứng từ thanh toán được áp dụng rộng rãi ở tất cả các nước trên thế giới, quy định sử dụng séc đã được chuẩn hoá trên Luật thương mại quốc gia và Công ước quốc tế. Theo Nghị định số 30/ CP quy định rõ ở Việt nam được phép lưu hành các loại séc vô danh vá séc ký danh được phép chuyển nhượng thông qua thủ tục ký hậu chuyển nhượng. Nghị định số 30/ CP ra đời đã đánh dấu một bước chuyển biến có ý nghĩa kinh tế lớn trong việc sử dụng séc ở Việt nam. Theo quy định này, 13 séc không còn là một công cụ chuyển khoản đơn thuần mà còn phát huy được vai trò là một công cụ lưu thông. Séc được dụng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ, nộp thuế, trả nợ … hoặc được dùng để rút tiền mặt tại các chi nhánh Ngân hàng. Tất cả các khách hàng mở tài khoản tại Ngân hàng đều có quyền sử dụng séc để thanh toán. Thời hạn hiệu lực của séc là 15 ngày kể từ ngày chủ tài khoản phát hành séc đến ngày người thụ hưởng nộp séc vào Ngân hàng ( gồm cả ngày chủ nhật và ngày lễ ). Trường hợp nếu ngày kết thúc thời hạn hiệu lực của tờ séc là ngày nghỉ, ngày lễ thì thời hạn đó được lùi vào ngày làm việc kế tiếp. Ơ Việt Nam hiện nay có 2 loại séc thanh toán : Séc chuyển khoản và Séc bảo chi. <1>. Séc chuyển khoản Séc chuyển khoản là lệnh trả tiền của người phát hành séc đối với Ngân hàng phục vụ mình về việc trích một khoản tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người được hưởng có tên trong tờ séc. Séc chuyển khoản chỉ được áp dụng trong phạm vi thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản ở cùng một chi nhánh nhưng các chi nhánh này có tham gia giao nhận chứng từ trực tiếp cho nhau theo quy định hiện hành (thanh toán bù trừ ), thời gian hiệu lực của tờ séc tối đa là 10 ngày làm việc.Khác với séc lĩnh tiền mặt, khi phát hành séc thanh toán chuyển khoản, chủ tài khoản phải gạch hai đường song song chéo góc hoặc viết chữ "chuyển khoản " ở góc phía trên bên trái mặt trước tờ séc trước khi giao người thụ hưởng. Về nguyên tắc, séc chuyển khoản phải được phát hành trên cơ sở số dư tài khoản tiền gửi hiện có tại Ngân hàng. Nếu tài khoản tiền gửi không đủ để thanh toán, séc sẽ bị Ngân hàng từ chối thanh toán, chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm thanh toán tờ séc đó và những khoản tiền phạt chi phí phát sinh liên quan đến việc khiếu nại và khởi kiện. - Sơ đồ luân chuyển séc chuyển khoản: + Thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản ở cùng một Ngân hàng Người trả tiền 1 14 Người thụ hưởng 3 2 4 Ngân hàng phục vụ (1): Người trả tiền phát hành séc và giao cho người thụ hưởng. (2): Người thụ hưởng tiếp nhận séc, sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của tờ séc sẽ lập 3 liên bảng kê nộp séc cùng tờ séc nộp vào Ngân hàng xin thanh toán. (3): Ngân hàng kiểm tra tờ séc, nếu đủ điều kiện thì tiến hành trích tài khoản tiền gửi của người trả tiền và báo Nợ cho họ. (4): Ngân hàng ghi Có vào tài khoản của bên thụ hưởng và báo Có cho họ. + Thanh toán khác Ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn Người trả tiền 4 Ngân hàng phục vụ người trả tiền 1 Người thụ hưởng 2’ 5 2 6 Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng (1): Người trả tiền phát hành séc giao cho người thụ hưởng. (2): Người thụ hưởng sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của tờ séc sẽ lập 3 liên bảng kê nộp séc cùng tờ séc nộp vào Ngân hàng phục vụ mình xin thanh toán ( Người thụ hưởng cũng có thể nộp trực tiếp bảng kê nộp séc kèm theo tờ séc vào Ngân hàng phục vụ người trả tiền để đòi tiền). (3): Ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra ( Nếu lập bảng kê có gì sai sót hoặc có các tờ séc không hợp lệ, quá thời hạn hiệu lực thanh toán thì từ chối thanh toán) sau đó chuyển các tờ séc và bảng kê nộp séc cho Ngân hàng phục vụ người trả tiền. 15 (4): Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của tờ séc và số dư tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản sẽ tiến hành trích tài khoản của người trả tiền và báo Nợ cho họ. (5): Ngân hàng phục vụ người trả tiền dùng các liên bảng kê nộp séc lập chứng từ thanh toán bù trừ và chuyển cho Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để thanh toán cho người thụ hưởng. (6): Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng tiếp nhận các bảng kê nộp séc ( thông qua thanh toán bù trừ ) sẽ ghi Có vào tài khoản cho người thụhưởng và báo cho họ. <2>. Séc bảo chi Séc bảo chi là một loại séc thanh toán được Ngân hàng đảm bảo khả năng chi trả bằng cách trích trước số tiền trên tờ séc từ tài khoản tiền gửi của người trả tiền sang tài khoản " Đảm bảo thanh toán séc " nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của tờ séc đó. Séc bảo chi có phạm vi thanh toán rộng hơn séc chuyển khoản. Ngoài việc sử dụng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một chi nhánh Ngân hàng hoặc hai Ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên cùng địa bàn séc bảo chi còn được sử dụng để thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản tại các chi nhánh trong cùng hệ thống trong phạm vi cả nước. - Sơ đồ luân chuyển thanh toán toán séc bảo chi + Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại cùng một chi nhánh Ngân hàng Người trả tiền 5 2 Người thụ hưởng 1 3 Ngân hàng phục vụ 16 4 (1) : Người trả tiền làm thủ tục bảo chi séc ( lập hai liên giấy "Yêu cầu bảo chi séc" kèm tờ séc đã ghi đủ các yếu tố nộp vào Ngân hàng để xin bảo chi séc ). Ngân hàng đối chiếu giấy yêu cầu và tờ Séc, số dư tài khoản của người phát hành, nếu đủ điều kiện thì tiến hành trích tiền từ tài khoản tiền gửi chuyển vào tài khoản " Đảm bảo thanh toán Séc". Sau đó đóng dấu "Bảo chi" lên tờ séc và giao séc cho khách hàng. (2): Người trả tiền giao Séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hoá, dịch vụ. (3): Người thụ hưởng lập bảng kê nộp Séc kèm các tờ Séc nộp vào Ngân hàng xin thanh toán. (4): Ngân hàng kiểm tra ký hiệu mật trên tờ séc và các yếu tố cần thiết khác, tiến hành ghi Có vào tài khoản của người thụ hưởng và báo Có cho họ. (5): Ngân hàng tất toán tài khoản " Đảm bảo thanh toán Séc" + Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản khác Ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ Về cơ bản, quy trình luân chuyển chứng từ trong trường hợp này giống như Séc chuyển khoản, tuy nhiên có sự khác nhau về tài khoản hạch toán: Nếu hai đơn vị mở tài khoản ở khác Ngân hàng, khác hệ thống có tham gia thanh toán bù trừ thì tại Ngân hàng phục vụ, đơn vị thụ hưởng sau khi kiểm soát đủ điều kiện sẽ hạch toán: Nợ TK Thanh toán bù trừ Ngân hàng thành viên Có TK Tiền gửi của người thụ hưởng Trường hợp thanh toán khác Ngân hàng, cùng hệ thống và khác địa bàn hạch toán: Nợ TK Liên hàng đi Có TK Tiền gửi của người thụ hưởng Tại Ngân hàng phục vụ đơn vị phát hành séc ( đơn vị mua) khi nhận được các chứng từ kèm séc bảo chi từ Ngân hàng khác chuyển đến thì sẽ hạch toán Nợ TK Tiền gửi đảm bảo thanh toán séc bảo chi Có TK Liên hàng đến (hoặc TK thanh toán bù trừ) 17 1.4.2 Thanh toán bằng UNC- chuyển tiền UNC ra đời từ khá sớm, cùng với tiến bộ Khoa học kỹ thuật, nó được sử dụng ngày một rộng rãi với các ưu thế nổi bật: an toàn, hiệu quả và đặc biệt thuận tiện dưới sự trợ giúp của các thành tựu phát triển trong lĩnh vực Công nghệ tin học ( UNC có thể được xử lý dưới dạng các chứng từ điện tử). Đơn vị trả tiền sau khi nhận được hàng hoá, dịch vụ cung ứng, trong thời gian nhất định phải lập các UNC gửi đến Ngân hàng để trích tài khoản chuyển trả cho đơn vị thụ hưởng. Tuỳ theo phạm vi và tổ chức thanh toán, đơn vị phải lập từ 3-4 liên với đâỳ đủ nội dung và các yếu tố cần thiết. Khi lập và nộp UNC vào Ngân hàng, đơn vị trả tiền phải đảm bảo đủ số dư trên tài khoản để đảm bảo chi trả. Nếu chứng từ hợp lệ, tài khoản đủ tiền, trong phạm vi một ngày làm việc, Ngân hàng phải hoàn tất UNC đó. Nếu chứng từ không hợp lệ, hợp pháp, tài khoản không đủ số dư thì Ngân hàng không thanh toán. - Quy trình thanh toán: trường hợp hai chủ thể mở tài khoản ở hai Ngân hàng khác nhau. Người trả tiền 1 HH, DV Người thụ hưởng 2 Ngân hàng phục vụ người trả tiền 3 2’ Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng (1): Người trả tiền lập 4 liên UNC nộp vào Ngân hàng phục vụ mình để trích tài khoản của mình trả tiền cho người thụ hưởng. (2): Ngân hàng kiểm tra thủ tục lập UNC, số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng, nếu đủ điều kiện thanh toán thì tiến hành trích tài khoản tiền gửi của người trả tiền, báo Nợ cho họ và chuyển tiền sang Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để thanh toán cho người thụ hưởng. (3): Khi nhận được chứng từ thanh toán do Ngân hàng phục vụ người trả tiền chuyển đến, Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng dùng các liên UNC để ghi Có vào tài khoản tiền gửi của người thụ hưởng và báo Có cho họ. 18 Trường hợp bên thụ hưởng không có tài khoản tiền gửi thì Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng ghi Có TK "Chuyển tiền phải trả" và báo cho bên thụ hưởng đến nhận tiền. 1.4.3 Uỷ nhiệm thu (UNT) UNT là giấy uỷ nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng lập và gửi vào Ngân hàng phụcvụ mình nờ thu hộ tiền theo số lượng hàng hoá đã giao, dịch vụ đã cung ứng. UNT được sử dụng rộng rãi trong việc thanh toán các hoá đơn định kỳ cho người cung ứng dịch vụ công cộng như điện, nước, điện thoại … bởi nó thường được dùng cho các giao dịch thanh toán có giá trị nhỏ nên các UNT chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng các giao dịch TTKDTM. UNT được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản trong cùng một chi nhánh Ngân hàng hoặc các chi nhánh Ngân hàng cùng hệ thống hoặc khác hệ thống. Khách hàng mua và bán phải thống nhất thoả thuận dùng hình thức UNT đối với những điều kiện cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng biết làm căn cứ để thực hiện các UNT. Sau khi giao hàng hoặc hoàn tất dịch vụ cung ứng, bên thụ hưởng lập giấy UNT theo mẫu của Ngân hàng, kèm theo hoá đơn gửi tới Ngân hàng phục vụ mình hoặc gửi trực tiếp đến Ngân hàng phục vụ bên trả tiền yêu cầu thu hộ. Khi nhận được giấy UNT trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng bên trả tiền trích tài khoản của khách hàng mình trả ngay cho bên thụ hưởng để hoàn tất việc thanh toán. - Quy trình thanh toán UNT ( trường hợp các chủ thể thanh toán mở tài khoản tại 2 chi nhánh Ngân hàng cùng hoặc khác hệ thống ) Người trả tiền Người thụ hưởng 3 1 Ngân hàng phục vụ người trả tiền 5 Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng 19 (1): Sau khi giao hàng hoăc cung ứng dịch vụ, người thụ hưởng lập 4 liên UNT kèm chứng từ giao hàng nộp vào Ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền ( Bên thụ hưởng cũng có thể nộp trực tiếp UNT vào Ngân hàng phục vụ bên trả tiền để đòi tiền ). (2): Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng sau khi nhận được bộ chứng từ do người thụ hưởng gửi đến sẽ tiến hành ký tên, đóng dấu ghi vào sổ theo dõi UNT và gửi bộ chứng từ này cho Ngân hàng phục vụ người trả tiền. (3): Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi nhận được bộ chứng từ sẽ kiểm tra các yếu tố cần thiết và làm thủ tục trích tài khoản tiền gửi của bên trả tiền và báo Nợ cho họ. (4): Ngân hàng phục vụ người trả tiền chuyển tiền đến Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để thanh toán cho người thụ hưởng. (5): Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng ghi Có vào tài khoản của người thụ hưởng và báo Có cho họ. 1.4.4 Thư tín dụng (TTD) TTD là hình thức thanh toán theo sự thoả thuận giữa hai bên bán và mua trong điều kiện bên bán đòi hỏi bên mua phải có đủ tiền để chi trả phù hợp với giá trị hàng hoá mà bên bán đã giao theo hợp đồng hay đơn đặt hàng đã ký. TTD thường dùng để thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản ở hai Ngân hàng khác nhau, có thể cùng hoặc khác hệ thống ( trường hợp khác hệ thống thì nơi Ngân hàng bên bán đóng trụ sở phải có Ngân hàng cùng hệ thống với Ngân hàng mở TTD và tham gia thanh toán bù trừ với Ngân hàng bên bán). Mỗi TTD chỉ được dùng để thanh toán cho một người thụ hưởng. Thời hạn hiệu lực của một TTD là 3 tháng kể từ ngày Ngân hàng bên mua nhận mở TTD. Mức tiền tối thiểu cuả một TTD là 10 triệu đồng. - Sơ đồ luân chuyển chứng từ thanh toán TTD Người trả tiền Người thụ hưởng 4a 1 7 3 20 4b 5
- Xem thêm -