Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 10 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TIỂU LUẬN: Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam Lời nói đầu Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá là một quá trình tất yếu đối với bất kỳ một quốc gia nào muốn đạt được sự phát triển về kinh tế xã hội. Đảng và nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân trong thời gian tới là công nghiệp hoá hiện đại hoá. Tiền đề để thực hiện được điều đó là chúng ta phải có nguồn vốn trung dài hạn lớn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, trang bị kỹ thuật tiên tiến...tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế theo cả chiều rộng và chiều sâu. Nguồn vốn trung dài hạn là tiền đề, là cơ sở đầu tiên để các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ... các doanh nghiệp có nhiều cách tài trợ dài hạn khác nhau như: tích luỹ từ sản xuất kinh doanh, liên doanh, liên kết, góp vốn, phát hành chứng khoán....nhưng nguồn vốn ổn định và có lợi thế nhất giúp các doanh nghiệp tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới công nghệ là vốn vay trung dài hạn từ các ngân hàng thương mại. Hiện nay các doanh nghiệp đang thiếu vốn nghiêm trọng nhất là vốn trung dài hạn trong khi đó nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và lượng vốn tồn đọng ở các ngân hàng thương mại là rất lớn. Như vậy vấn đề không phải là chúng ta thiếu vốn mà là chúng ta chưa sử dụng được vốn có hiệu quả, chưa giải ngân được hết vốn. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương cũng không nằm ngoài tình trạng đó, tỷ trọng dư nợ trung dài hạn của ngân hàng còn thấp chỉ đạt 15-20% trong tổng dư nợ, chưa xứng đáng với quy mô, khả năng của ngân hàng và chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế. Do vậy ngân hàng cần phải mở rộng tín dụng trung dài hạn. Nhưng nếu chỉ mở rộng không thôi thì không đủ cần phải nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn thì mới phát huy được vai trò tích cực của nó và không gây ra lãng phí. Nếu mở rộng và nâng cao được tín dụng trung dài hạn thì điều đó vừa đem lại hiệu quả, an toàn cho ngân hàng vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, trước sự biến động không ngừng của nền kinh tế và sự cạnh tranh cao độ từ nhiều phía nên ngân hàng gặp không ít khó khăn và vướng mắc. Do vậy trong thời gian thực tập, nghiên cứu và tìm hiểu thực tế em đã chọn đề tài “ Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam” làm báo cáo thực tập tốt nghiệp. I - giới thiệu về ngân hàng 1.1. Sơ lược quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của Techcombank. Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam với tên giao dịch quốc tế TECHCOMBANK (Technological and Commercial Joint Stock Bank) được thành lập từ ngày 27 tháng 9 năm 1993 theo giấy phép hoạt động số 0040/NHCP ngày 06/08/1993 do thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp, giấp phép thành lập số 1543/QĐ của UBND Hà Nội cấp ngày 04/09/1993 và giấy phép kinh doanh số 055679 cấp ngày 07/09/1993 của hội KTVN. Techcombank có Hội sở chính tại Hà Nội và chi nhánh tại các thành phố lớn trong nước. Với số vốn điều lệ gần 100 tỷ đồng và tổng tài sản hàng ngàn tỷ đồng, Techcombank ngày nay đã trở thành một trong những Ngân hàng cổ phần hàng đầu tại Việt Nam, trở nên thân quen với công chúng, với hầu hết các khách hàng hoạt động trên các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, thương mại, dịch vụ và đặc biệt là với các tổ chức tài chính tín dụng trong và ngoài nước. Khách hàng của Techcombank có đủ các thành phần kinh tế như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã và cá nhân. Hoạt động của Techcombank tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn trong nước và một số địa phương lân cận. Là một Ngân hàng thương mại đô thị đa năng, Techcombank cung ứng đầy đủ và phong phú, đa dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống cũng như các dịch vụ mới với công nghệ ngân hàng thuộc loại hiện đại nhất. Hội sở của Techcombank được đặt tại 15 Đào Duy Từ, Quận Hoàn kiếm, Thành phố Hà nội. Nó được xem là trung tâm trong toàn bộ hoạt động của hệ thống Techcombank. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua sơ đồ tổ chức sau: Sơ đồ tổ chức Đại hội cổ đông BAn kiểm soát Hội đồng quản trị văN PHòNG hđqt tổNG GIáM ĐốC pHó TổNG GIáM ĐốC pHó TổNG GIáM ĐốC hộI sở hà nội chi nhánh thăng long VĂn phòng phòng giao dịch số 1 Phòng điện toán phòng giao dịch số 3 phòng thông tin-Đào tạo phòng giao dịch thái hà kiểm soát nội bộ phòng tài chính kế toán chi nhánh hồ chí minh phòng kế hoạch tổng hợp phòng giao dịch thắng lợi phòng dịch vụ khách hàng phòng quan hệ đối ngoại phòng kinh doanh ngoại tệ phòng tiền tệ kho quỹ Phòng giao dịch số 2 chi nhánh đà nẵng Từ sơ đồ trên, ta có thể thấy Techcombank có cơ cấu tổ chức rất chặt chẽ, trong đó, Hội sở là đầu mối trung tâm. Hội sở vừa chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, vừa có mối liên hệ rất mật thiết với các chi nhánh và các Phòng giao dịch khác của toàn hệ thống. Bản thân trong Hội sở Techcombank, các Phòng ban cũng được tổ chức rất linh hoạt và có hiệu quả. Mỗi phòng ban tuy có những chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng đều được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với các phòng ban khác để đảm bảo sự thống nhất từ trên xuống dưới. 1.2. phạm vi và đối tượng hoạt động của Techcombank. Techcombank là một ngân hàng kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng đối với các thành phần kinh tế chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ giao thông vận tải và bưu điện nhằm phát triển sản xuất lưu thông và ổn định tiền tệ. Hội sở Techcombank thuộc quận Hoàn Kiếm nằm ở thủ đô Hà Nội, một trong những trung tâm thương mại lớn nhất của cả nước. Quận Hoàn Kiếm có 18 phường với gần 23 vạn dân diện tích là 4.5 km2 Nằm tại một quận trung tâm và là khu vực dân cư buôn bán nhộn nhịp của thành phố Hà Nội Techcombank cũng có phần nào thuận lợi trong các nghiệp vụ kinh doanh của mình. Tuy nhiên do đặc điểm dân cư trong địa bàn chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại và có một số cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ do đó khách hàng của Techcombank chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cá nhân. Vì lẽ đó, nên nguồn vốn tín dụng của Techcombank chủ yếu được sử dụng để đáp ứng nhu cầu tín dụng ngắn hạn. Nhìn chung, thị trường tín dụng của Techcombank hiện nay chủ yếu là tư nhân và cá thể. Mặt khác, quận Hoàn Kiếm là nơi tập trung hoạt động của các ngân hàng như ngân hàng Đầu tư và phát triển, ngân hàng Ngoại thương, ngân hàng Công thương, ngân hàng Nhà nước và một số ngân hàng liên doanh nên hoạt động của Techcombank đòi hỏi có tính cạnh tranh cao. Đây là một bất lợi cho ngân hàng do đó Techcombank đang cố gắng nâng cao hiệu quả hoạt động, khắc phục và vượt qua những khó khăn trước mắt, không ngừng tăng trưởng nguồn vốn, mở rộng hoạt động, sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả. Thiết lập mối quan hệ rộng rãi với khách hàng, tạo uy tín đối với khách hàng trong và ngoài nước. Ngoài ra việc tìm kiếm thị trường mới và mở rộng thị trường hiện có cũng là công việc trọng điểm của một ngân hàng mới ra đời. Techcombank cũng tập trung vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng (nhà máy điện, nhà máy nước bến cảng, xa lộ khu công ngiệp và khu đô thị mới). Các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cần có số vốn lớn và thời gian thu hồi dài nên Techcombank luôn tìm kiếm sự hỗ trợ và hợp tác của các ngân hàng bạn và các tổ chức tàI chính, tín dụng khác. Với đội ngũ nhân viên trẻ năng động, nhiệt tình Techcombank đã bước đầu tạo được lòng tin nơi khách hàng đặc biệt là các tổng công ty lớn và Techcombank tin tưỏng rằng họ sẽ là các khách hàng truyền thống của mình trong tương lai. Tuy nhiên đIểm yếu nhất của Techcombank đó chính là kinh nghiệm của các cán bộ tín dụng nhưng điều này đã và đang được khắc phục bằng nhiều cách khác nhau. 1.3. Các hoạt động chính của Techcombank. 1.3.1 Hoạt động huy động vốn. Đối với riêng nguồn tiền gửi thì đến nay, Techcombank không những luôn được biết đến là một trong những ngân hàng có lãi suất tiền gửi hợp lý mà còn là một ngân hàng có hoạt động nhận tiền gửi phát triển với nhiều hình thức đa dạng, phong phú như: - Tiền gửi có kỳ hạn cố định. - Tiền gửi không có kỳ hạn. - Tiền gửi theo thời gian thực gửi. - Tiền gửi thanh toán. Những loại tiền gửi trên đã góp phần tạo điều kiện cho khách hàng chủ động trong việc sử dụng vốn mà vẫn được hưởng mức lãi suất hấp dẫn, đặc biệt là hình thức Tiền gửi tiết kiệm theo thời gian thực gửi. Khách hàng có thể chủ động sử dụng tiền bất cứ lúc nào mình cần mà vẫn được hưởng mức lãi suất cao gần tương đương với loại tiền gửi có kỳ hạn tương ứng. 1.3.2. Hoạt động tín dụng. Cung ứng tín dụng được coi là trọng điểm trong hoạt động kinh doanh của Techcombank. Mặc dù bối cảnh kinh tế nói chung vẫn gặp nhiều khó khăn nhưng bằng những biện pháp và những chính sách hữu hiệu Techcombank đã đạt được những kết quả rất khả quan. Cùng với việc phát triển tín dụng, với mục tiêu năm 2000 là năm đổi mới công tác quản lý chất lượng tín dụng, Techcombank đã thực thi một loại các biện pháp hữu hiện, vì vậy hầu hết các khoản cho vay mới trong năm đều không phát sinh quá hạn, các khoản nợ cũ đang được xử lý từng bước. Bên cạnh đó, Techcombank luôn chú trọng mở rộng hoạt động tín dụng với nhiều loại hình đa dạng trên cơ sở vận dụng các quy định của NHNN nhằm hỗ trợ ngày một tốt hơn đối với các doanh nghiệp trong quá trình đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Các lĩnh vực kinh tế được ưu tiên là: - Các doanh nghiệp hoạt động có liên quan đến xuất khẩu, đặc biệt là sản xuất, khai thác và chế biến hàng xuất khẩu. - Các doanh nghiệp sản xuất nói chung. - Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và cung cấp các dịch vụ. - Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng. Để đáp ứng một cách linh hoạt nhu cầu vốn của khách hàng, Techcombank tiếp tục duy trì và hoàn thiện các sản phẩm tín dụng hiện có: - Thẩm định, tài trợ các dự án trung và dài hạn. - Cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động. - Cho vay tiêu dùng như trả góp các vật dụng và phương tiện đi lại, cho vay mua nhà, sửa chữa và xây dựng nhà. - Các hình thức bảo lãnh vay vốn, dự thầu, thực hiện hợp đồng. Và phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới: - Cho vay luân chuyển. - Cho vay với đảm bảo hàng hoá thông qua Tổng công ty kho vận,... Bên cạnh việc phát triển các sản phẩm mới, trong thời gian tới, Techcombank sẽ áp dụng cài đặt các chương trình truyền tin và thanh toán điện tử tại trụ sở khách hàng nhằm tạo điều kiện cho khách hàng trong công tác thanh toán, tăng cường trao đổi thông tin giữa ngân hàng với khách hàng nhằm thúc đẩy tiến trình đi đến giải ngân các khoản tín dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp. 1.3.3. Hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư của Techcombank được thể hiện chủ yếu thông qua hoạt động mua bán chứng khoán và góp vốn mua cổ phần. Đến cuối năm 2000, ngân hàng đã sở hữu 13,900 tỷ đồng tín phiếu kho bạc nhà nước và 212 triệu đồng công trái. Bên cạnh đó, ngân hàng còn sở hữu nhiều cổ phần của các công ty khác. 1.3.4. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Techcombank trở thành thành viên của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng từ năm 1998 và đến nay, ngân hàng đã có riêng một phòng kinh doanh ngoại tệ với đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp và làm việc rất có hiệu quả. Kể từ khi ra đời cho đến nay, phòng kinh doanh ngoại tệ không chỉ đáp ứng kịp thời nhu cầu ngoại tệ phục vụ cho công tác thanh toán, duy trì tốt trạng thái ngoại hối của Techcombank một cách linh hoạt, tuân thủ quy định của NHNN mà còn tổ chức tốt hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng. Bên cạnh đó, phòng kinh doanh ngoại tệ còn phối hợp chặt chẽ với phòng kinh tế đối ngoại trong việc thu hút những nguồn kiều hối từ các nước Châu Âu, Bắc Mỹ, các nước thuộc khối ASEAN, chuyển về Việt Nam qua Techcombank. 1.3.5. Các dịch vụ ngân hàng. 1.3.5.1. Dịch vụ thanh toán. Bên cạnh sự tăng trưởng đáng kể của dịch vụ thanh toán trong nước, hoạt động thanh toán quốc tế của Techcombank ngày càng được củng cố và phát triển. Cùng với kinh doanh ngoại hối, dịch vụ thanh toán quốc tế cũng được coi là một thế mạnh của Techcombank với doanh số thanh toán đạt tới hàng trăm triệu đôla Mỹ mỗi năm. Ngoài các Ngân hàng đại lý hiện có, trong năm 2000, Techcombank đã thiết lập thêm quan hệ đại lý với 4 ngân hàng lớn là Bank of NewYork, Citibank, Pusan Bank và Bank of Ukraina. Mạng lưới các ngân hàng đại lý được mở rộng khắp toàn cầu đã giúp cho các hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế của khách hàng được thực hiện một cách nhanh chóng và thuận lợi. Các sản phẩm dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế cho phép Techcombank đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng trong giao dịch ngoại thương như: - Mở, thông báo, xác nhận, thanh toán, L/C trả ngay và trả chậm. - Các hình thức thanh toán D/A, D/P, T/Tr. Với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại, Techcombank còn thực hiện dịch vụ chuyển tiền rất nhanh chóng và chính xác. Dù khách hàng có hay không có tài khoản tại ngân hàng, muốn chuyển tiền cho bất cứ ai, cá nhân hay tổ chức tại bất cứ nơi đâu trên toàn quốc, Techcombank đều có thể đáp ứng với thời gian nhanh nhất, đảm bảo sự chính xác, an toàn và mức phí dịch vụ hợp lý. Bên cạnh đó, Techcombank còn áp dụng mức phí ưu đãi đối với những khách hàng chuyển tiền thanh toán từ số dư tài khoản hiện có tại ngân hàng. Đặc biệt, với dịch vụ chuyển tiền nhanh toàn cầu Western Union mà Techcombank làm đại lý, khách hàng có thể nhận được tiền của người thân hoặc đối tác từ nước ngoài chuyển về chỉ trong vòng một ngày và người nhận có thể nhận bằng tiền mặt ngoại tệ khi có yêu cầu. Ngoài ra, Techcombank còn là đại lý chấp nhận và thanh toán các loại thẻ tín dụng quốc tế thông dụng trên thế giới như Master Card, Visa Card, American Express, JCB, Khách hàng có thể nhận bằng tiền Việt Nam hay ngoại tệ với mức phí hợp lý. 1.3.5.2. Dịch vụ ngân quỹ. Với đội ngũ nhân viên lành nghề được đào tạo chu đáo và hệ thống kho tàng đáp ứng được các quy định về an toàn chặt chẽ nhất, Techcombank còn cung ứng các dịch vụ về ngân quỹ như: - Dịch vụ kiểm đếm, phân loại, đóng gói các loại tiền mặt VND, tiền mặt ngoại tệ, ngân phiếu thanh toán, công trái. - Kiểm định ngoại tệ và cấp giấy chứng nhận ngoại tệ. - Thu đổi các loại ngoại tệ mạnh, séc du lịch. - Bảo quản, cất giữ các tài sản quý, giấy tờ quan trọng của khách hàng theo niêm phong với chi phí thấp. 1.3.5.3. Dịch vụ tư vấn đầu tư và môi giới chứng khoán. Trong những năm qua, với vai trò là thủ quỹ của các doanh nghiệp, nhà tư vấn và thu xếp tài chính, Techcombank đã giành được sự tín nhiệm của các doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ thẩm định và phân tích các dự án đầu tư, xây dựng các chương trình huy động vốn và gọi vốn đầu tư cũng như cung cấp các dịch vụ quản lý và điều hành tài chính cho các dự án, góp phần mang lại sự thành công cho các dự án nói riêng và sự phát triển của các doanh nghiệp nói chung. Với đội ngũ cán bộ có trình độ và giầu kinh nghiệm, trong thời gian tới, Techcombank đang nghiên cứu để có thể phát triển và mở ra nhiều dịch vụ tư vấn mới, đặc biệt là dịch vụ tư vấn chứng khoán, môi giới mua bán và lưu ký chứng khoán khi điều kiện cho phép nhằm thực hiện mục tiêu là người bạn đồng hành của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trên mọi lĩnh vực tài chính - tiền tệ. 1.3.5.4. Dịch vụ trả lương. Bên cạnh các dịch vụ chính, Techcombank còn đảm nhận giúp khách hàng trong việc trả lương, thưởng, thù lao cho nhân viên hay các đại lý khác với mức phí thoả thuận với các hình thức sau: - Uỷ nhiệm trích tài khoản của đơn vị tại Techcombank để trả tiền cho người hưởng bằng tiền mặt hoặc vào tài khoản cá nhân theo danh sách được cung cấp. - Nhận tiền mặt của đơn vị (trường hợp không mở tài khoản) để trả trực tiếp hoặc chuyển vào tài khoản cho người hưởng. 1. 3.5.5. Các dịch vụ khác. Ngoài các dịch vụ kể trên, Techcombank còn sẵn sàng đáp ứng các dịch vụ ngân hàng khác theo yêu cầu của khách hàng. II - thực trạng hoạt động tín dụng trung dàI hạn tại Techcombank. Hoạt động kinh doanh của Techcombank đã liên tục phát triển trong những năm qua. Điều này được thể hiện rõ thông qua các chỉ tiêu về huy động vốn, sử dụng vốn và lợi nhuận. 2.1. tình hình huy động vốn. Mặc dù trong những năm gần đây nền kinh tế có nhiều biến động: Ngân hàng nhà nước liên tục giảm lãi suất đầu ra và đến tháng 8/2000 lại đưa ra một cơ chế điều hành lãi suất mới, điều hành theo lãi suất cơ bản. Mặt khác bộ tài chính, kho bạc nhà nước, các ngân hàng thương mại quốc doanh lại phát hành các loại trái phiếu với lãi suất khá hấp dẫn, cùng với sự ra đời của hình thức tiết kiệm bưu điện đã gây ra không ít khó khăn cho các ngân hàng thương mại cổ phần nói chung và Techcombank nói riêng. Tuy nhiên bằng nhiều biện pháp, nghiệp vụ linh hoạt uyển chuyển Techcombank đã tạo mọi điều kiện để giúp các doanh nghiệp và cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng với thời gian ngắn nhất, đồng thời đưa ra các hình thức huy động mới thích hợp hiệu quả nên nguồn vốn huy động được của Techcombank đã liên tục tăng trong những năm qua. Trong cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn ta thấy tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng rất lớn 80-90%, rõ ràng là người dân gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi còn việc gửi tiền để sử dụng các dịch vụ của ngân hàng thì chiếm tỷ trọng rất nhỏ, thêm vào đó tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn có xu hướng giảm qua các năm do đó việc quản lý tính thanh khoản của Techcombank trở nên dễ dàng hơn ngân hàng có thể chủ động hơn trong việc cho vay trung dài hạn nhưng ngược lại nguồn vốn huy động của ngân hàng lại có chi phí cao. Bảng 1: Cơ cấu huy động vốn của Techcombank (Đơn vị tỷ đồng) 1997 1998 1999 2000 Chỉ tiêu Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ tiền trọng tiền trọng tiền trọng tiền trọng (%) Tổng 488 (%) 100 769 100 (%) 988 100 1274 100 Theo đối tượng -Dân cư 269 55.1 412 53.6 405 41 518 41.5 -Tổ chức kinh tế 60 12.3 78 10.1 146 14.8 272 21.4 -Tổ chức tín dụng 147 30.1 242 31.5 417 42.2 440 35.3 -Khác 2.5 37 4.8 20 2 43 3.4 12 Theo kỳ hạn -Không kỳ hạn 71 14.5 71 9.2 72 7.2 90 7.2 -Có kỳ hạn 395 80.9 638 83 896 90.7 1023 82 -Khác 22 4.6 60 7.8 20 2.1 134 10.8 Theo cơ cấu nguyên tệ - VND 363 74.4 499.9 65 592.8 60 760.7 61 -Ngoại tệ quy đổi 125 25.6 269.1 35 395.2 40 486.3 39 (Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp Techcombank) Từ cuối năm 97 đến cuối năm 98 bất chấp ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực nổ ra từ giữa năm 97 số dư tổng tiền gửi vẫn tăng gần 60% (281 tỷ đồng) đó là kết quả của việc vận dụng linh hoạt các mức lãi suất hợp lý phù hợp với lợi ích của khách hàng và các hình thức huy động. Tuy nhiên tốc độ tăng của năm 99, 2000 lại nhỏ hơn so với năm 98 đó là do nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng giảm phát và ngân hàng nhà nước liên tục hạ thấp lãi suất trần cho vay và cuối cùng là thay đổi cơ chế điều hành lãi suất theo lãi suất cơ bản nên ngân hàng cũng phải giảm lãi suất huy động do đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động huy động vốn của Techcombank tuy nhiên tổng nguồn vốn huy động vẫn tăng 28% (219 tỷ đồng) trong năm 99 và tăng 29% (259 tỷ đồng) trong năm 2000.Đây là các mức tăng khá cao so với các ngân hàng thương mại k Còn về cơ cấu tiền gửi theo đối tượng huy động ta thấy tiền gửi tại Techcombank cũng đều tăng qua các năm. Đặc biệt là tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng lên với tốc độ tăng trưởng khá cao năm 99 tăng 87 % so với năn 98 và năm 2000 tăng 86.3% (126 tỷ đồng) so với năm 99 tuy nhiên tiền gửi của dân cư năm 99 lại giảm đi chút ít so với năm 98 và năm 2000 thì tăng không đáng kể so với năm 99 đó là do tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng mạnh. Nhìn chung số lượt khách hàng đến mở tài khoản tại Techcombank ngày càng tăng. Điều đó đã khẳng định lòng tin của dân chúng và uy tín của Techcombank ngày càng tăng. 2.2. tình hình sử dụng vốn. Hoạt động sử dụng vốn của Techcombank được thể hiện một cách cô đọng qua báo cáo thu nhập chi phí (Bảng 3). Có thể nhận thấy rõ là kết quả kinh doanh năm 2000 của Techcombank khả quan. Hầu hết các hoạt động đều có mức tăng trưởng tốt so với năm 1999. Có được điều này một phần rất lớn là do Techcombank rất chú trọng đến công tác thông tin, đào tạo. Trong những năm qua, công tác thông tin và ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng luôn đóng vai trò nòng cốt trong sự phát triển của Techcombank. Từ những định hướng đúng đắn, với đội ngũ cán bộ tin học trẻ, năng động và sáng tạo, Techcombank đã thành công trong nhiều dự án áp dụng công nghệ hiện đại vào các lĩnh vực: thanh toán quốc tế, chuyển tiền và thanh toán nhanh trong nước, áp dụng tin học trong công tác quản lý, tạo điều kiện phát triển các loại hình dịch vụ của ngân hàng, tiết kiệm các chi phí và từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh chung cho Techcombank. Bảng 2 : Báo cáo thu nhập và chi phí Kết thúc năm 2000 (với số liệu so sánh của năm 1999) Đơn vị tính: Triệu VND Năm 1999 Năm 2000 Thu từ hoạt động tín dụng 35.720 41.425 Thu lãi tiền gửi 39.581 42.768 Thu từ dịch vụ ngân hàng 4.485 4.972 Thu lãi góp vốn, mua cổ phần 164 216 Thu về mua bán chứng khoán 1.291 875 Thu về kinh doanh ngoại tệ 3.686 3.803 Các khoản thu bất thường 56 28 Tổng thu nhập 80.483 94.087 Chi phí về huy động vốn 57.190 64.438 Chi về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ 1.804 1.209 Chi về kinh doanh ngoại tệ 791 1.376 Chi nộp thuế và lệ phí 432 2.122 Chi phí nhân viên 4.807 5.967 Chi về hoạt động quản lý và công cụ 5.313 7.918 Chi về tài sản 4.344 2.239 Các khoản chi phí bất thường 337 201 Tổng chi phí 75.018 85.470 Lợi nhuận trước thuế 5.465 8.617 THU nhập Chi phí (Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp Techcombank) 2.3. thực trạng tín dụng trung dài hạn tại Techcombank. 2.3.1 Thực trạng hoạt động tín dụng trung dài hạn. 2.3.1.1 Thực trạng giữa tín dụng ngắn và trung dài hạn. Nhìn vào bảng số liệu ta thấy tỷ trọng dư nợ trung dài hạn trong 4 năm qua là thấp trung bình trong 4 năm là 14.5%. Thực ra, chúng ta không thể chỉ nhìn vào tỷ trọng dư nợ mà có thể khẳng định được ngay ngân hàng có mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn được hay không mà còn phải căn cứ vào doanh số cho vay và doanh số thu nợ mới có thể xác định được. cơ cấu dư nợ tín dụng trung dài hạn theo thời hạn Đơn vị: tỷ đồng 700 636.6 600 500 439.2 400 300 345.7 200 100 NH T-DH 289.5 39.5 55.3 86.8 119.4 0 1997 1998 1999 2000 Trong 4 năm qua Techcombank cũng không nằm ngoài thực tế chung của toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay là có tỷ trọng cho vay trung dài hạn rất thấp trong tổng số doanh số cho vay, ở Techcombank tỷ lệ này chỉ có khoảng 8.5%. Techcombank chủ yếu cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp để bổ sung vốn lưu động, mua nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất... trong thời hạn ngắn dưới 1 năm. Vốn ngắn hạn là vốn thường xuyên phải bổ sung đối với bất kỳ doanh nghiệp nào còn vốn trung dài hạn rất thiết đối với các doanh nghiệp muốn thay đổi trang thiết bị mới, hiện đại, mở rộng sản xuất...nhưng tỷ trọng doanh số và thu nợ trung dài hạn đều thấp chỉ khoảng 8-9%. Sau khi thực hiện thu nợ, do thời gian cho vay dài nên cho vay trung dài hạn chiếm khoảng 15% tổng dư nợ, một con số quá thấpBảng 3: Cơ cấu tín dụng theo thời hạn của Techcombank Đơn vị : Tỷ đồng Năm 97 Chỉ tiêu Tổng Tỷ Năm 98 Tổng trọng Tỷ Năm 99 Tổng trọng (%) Tỷ Năm2000 Tổng Tỷ trọng trọng (%) (%) 1.Cho vay 533 100 529 100 946 100 1207 100 -Ngắn hạn 490.9 90.6 477.9 89..5 917.6 93.6 1106 91.8 -Trung dài hạn 46.08 9.4 50.12 10.5 68.16 7.4 101.3 9.2 2. Thu nợ 427 100 457 100 821 100 1156 100 -Ngắn hạn 398.8 93.4 419.8 92.2 763.1 93.0 1072 92.7 -Trung dài hạn 28.16 6.6 37.2 8.8 57.86 7.0 84.04 7.3 3.Dư nợ 329 100 401 100 526 100 756 100 -Ngắn hạn 289.5 88 345.7 86.2 439.2 83.5 636.6 84.2 -Trung dài hạn 39.5 12 55.3 13.8 86.8 16.5 119.4 15.8 (Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp Techcombank) Trong những năm vừa qua doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư nợ trung dài hạn đều tăng về số tuyệt đối, doanh số cho vay tăng từ 46.08 tỷ năm 97 lên 50.12 tỷ năm 98, 68.2 tỷ vào năm 99 và năm 2000 là 101.3 tỷ, tỷ lệ trưởng bình quân là 30%/năm. Còn doanh số thu nợ các năm lần lượt là: 28.16 tỷ ; 37.18 tỷ; 57.86 tỷ và 84.04 tỷ, tăng bình quân 45% mỗi năm. Dư nợ cũng tăng bình quân tới 50%/năm từ 39.5 tỷ năm 97 lên 55.3 tỷ năm 98, 86.8 tỷ năm 99 và 119.4 tỷ vào năm 2000 điều đó thể hiện rằng ngân hàng đã cố gắng trong việc mở rộng tín dụng trung dài hạn. Tuy nhiên nếu xét về tỷ trọng thì lại là rất thấp và hầu như không tăng doanh số cho vay trung dài hạn năm 99 chỉ đạt 7.4% trong tổng số doanh số cho vay, năm 2000 tăng lên 9.2% tuy nhiên so với năm 98 (10.5%) thì lại là giảm, những con số quá thấp này không phản ánh được khả năng và quy mô của Techcombank. 2.3.1.2 Cơ cấu tín dụng trung dài hạn xét theo thành phần kinh tế. Biểu đồ dư nợ tín dụng trung dài hạn theo thành phần kinh tế Đơn vị: tỷ đồng 120 99.1 100 72.9 80 60 40 20 KTQD KTNQD 44.2 29.2 10.3 11.1 13.9 20.3 0 1997 1998 1999 2000 Trong cơ cấu dư nợ trung dài hạn ta thấy tỷ trọng dư nợ ở khối quốc doanh chiếm đa số, khoảng 80%. Từ năm 97 đến nay dư nợ đối với khu vực quốc doanh đều tăng lên qua các năm với tốc độ 40-50%/năm và tỷ trọng.Thay đổi không đáng kể năm 98 là 80%, năm 99 84% và năm 2000 là 83%. Dư nợ đối với khu vực ngoài quốc doanh cũng tăng lên với tốc độ ngày càng tăng nhưng tỷ trọng thì lại không tăng mà vẫn duy trì ở mức thấp khoảng 19%. Trong khi đó doanh số cho vay cũng tăng lên một cách đáng kể cả về doanh số và tỷ trọng trong năm 2000 và tăng nhanh hơn rất nhiều so với doanh số thu nợ điều đó cò nghĩa là Techcombank đang có vấn đề đối với công tác thu nợ. Điều đó được thể hiện ở việc tăng lên của dư nợ (như phân tích ở phần trên) và ở tình hình nợ quá hạn sau. Bảng 5: Tình hình nợ quá hạn trung dài hạn tại Techcombank theo thành phần kinh tế Đơn vị : tỷ đồng Năm 97 Năm 98 Năm 99 Năm 2000 Thành phần NQH Tỷ lệ NQH Tỷ lệ NQH Tỷ lệ NQH Tỷ lệ kinh tế TDH (%) TDH (%) TDH (%) TDH (%) Tổng 3.397 8.6 2.544 4.6 3.299 3.8 5.373 4.5 -Quốc doanh 2.365 8.1 1.856 4.2 2.552 3.5 4.063 4.1 -Ngoài quốc 1.032 10.0 0.688 6.2 0.748 5.4 1.710 8.4 doanh (Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp Techcombank) Xét một cách tổng thể, tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn của Techcombank khá cao, trung bình khoảng 4.5 % trong khi đó tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn của toàn bộ các ngân hàng là khoảng 3%. Điều này thể hiện các khoản vay trung dài hạn của Techcombank đang có vấn đề, ngân hàng cần phải giảm tỷ lệ này xuống thấp hơn nữa để tránh thiệt hại về tài chính có thể xảy ra. Trong cơ cấu nợ quá hạn trung dài hạn theo thành phần kinh tế ta thấy, nợ quá hạn ở khu vực ngoài quốc doanh vẫn lớn hơn và đáng lưu tâm hơn cả. Trong 4 năm 1997 - 2000 tỷ lệ dư nợ trung dài hạn của khu vực kinh tế quốc doanh là : 74%, 80%, 84% và 83% trên tổng mức dư nợ trung dài hạn, và tỷ lệ nợ quá hạn tương ứng là 8.1%, 4.2%, 3.5% và 4.1% trong khi đó tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là: 10%, 6.2%, 5.4% và 8.4%: như vậy có thể kết luận rằng, cho vay trung dài hạn xét trên phương diện nợ quá hạn thì khu vực kinh tế quốc doanh là chủ đạo và có hiệu quả hơn. Khu vực ngoài quốc doanh cho vay được ít hơn và hiệu quả lại không cao. Điều đó ta có thể thấy rõ hơn qua biểu đồ sau. nợ quá hạn trung dài hạn theo thành phần kinh tế Đơn vị: tỷ đồng 6.0 5.4 5.0 4.1 4.0 3.0 3.4 3.3 2.6 2.5 2.4 NQH KTQD KTNQD 1.9 2.0 1.7 1.0 0.7 1.0 0.7 0.0 1997 1998 1999 2000 2.3.1.3 Tín dụng trung dài hạn xét theo cơ cấu ngành kinh tế. dư nợ tín dụng trung dài hạn theo ngành kinh tế Đơn vị: tỷ đồng
- Xem thêm -