Một số giải pháp nhằm cắt giảm chi phí sản xuất tại công ty tnhh sews- components việt nam

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU A. Tính cấp thiết của đề tài Sản xuất là hoạt động nhằm biến đổi những yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu, sức lao động, công nghệ...) thành đầu ra dưới dạng sản phẩm đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Hiện nay, khi mà giá nguyên vật liệu và chi phí nhân công cũng như các loại chi phí khác ngày càng tăng giá thành sản phẩm sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp. Trong khi đó tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều có mục tiêu là nâng cao năng lực cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận của mình. Để làm được điều này, giảm chi phí trong quá trình sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là công ty sản xuất. Công ty TNHH SEWS-Components Việt Nam (SEWS-CV) là một doanh nghiệp mới thành lập và bắt đầu đi vào sản xuất được 1 năm. Công ty chuyên sản xuất khớp nối cho hệ thống dây điện trong ô tô. Đối với một công ty sản xuất như SEWS-CV, chi phí sản xuất là chi phí chủ yếu trong tổng chi phí của doanh nghiệp. Trong giai đoạn đầu bắt đầu xây dựng và hoạt động, để tạo được một chu trình sản xuất giảm thiểu tối đa chi phí, tạo nên phương pháp quản lý sản xuất tốt là một vấn đề hết sức quan trọng. Điều đó góp phần giảm giá thành sản phẩm và tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm cắt giảm chi phí sản xuất tại Công ty TNHH SEWS-COMPONENTS VIỆT NAM” làm luận văn thạc sỹ của mình. B. Đánh giá tổng quan các nghiên cứu về giảm chi phí sản xuất Sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường giữa các doanh nghiệp trên toàn cầu nhằm chiếm được những thị phần lớn, mang lại doanh thu cao, kiếm được mức lợi 1 nhuận tối đa, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của khách hàng như: chất lượng, tính năng sử dụng, dịch vụ hoàn hảo và quan trọng hơn cả là giá cả phải hợp lý, cạnh tranh. Vì vậy, các doanh nghiệp phải đưa ra các giải pháp quản lý tốt nhất để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm chi phí, giảm giá thành đồng thời tăng lợi nhuận, phát triển bền vững doanh nghiệp. Chính vì thế, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý chi phí sản xuất cho các doanh nghiệp của các nhà nghiên cứu. Với những tài liệu của một số năm gần đây, ta có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu về quản lý chi phí sản xuất, hạch toán chi phí sản xuất nhằm đua ra các giải pháp giảm chi phí sản xuất như sau: 1. Luận văn thạc sỹ trường Đại học KTQD của Nguyễn Giang Thanh năm 2004 với đề tài: “Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các đơn vị sản xuất công nghiệp thuộc Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam”. Mục đích nghiên cứu của luận văn này là khái quát hoá một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế thị trường. Thông qua việc nghiên cứu khảo sát, phân tích thực tế công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các đơn vị sản xuất công nghiệp thuộc Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, luận văn đưa ra những nhận xét, đánh giá những ưu nhược điểm của công tác hạch toán, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các đơn vị này. Luận văn đi sâu vào công tác hạch toán, tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình quản lý chi phí sản xuất để định hướng cho quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, luận văn không nghiên cứu cụ thể về quá trình, nguyên nhân phát sinh chi phí sản xuất để có hướng đưa ra các biện pháp giải quyết giảm chi phí. 2. Luận văn thạc sỹ trường Đại học KTQD của Hoàng Văn Tưởng năm 2005 2 với đề tài: “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam”. Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm xây dựng mô hình hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trên cơ sở phân tích, so sánh với lý luận để đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tổng công ty Xây dựng công nghiệp Việt Nam. Nội dung chủ yếu của luận văn này cũng chỉ tập trung vào góc độ kế toán quản trị nhằm mục đích quản trị doanh nghiệp mà không đi sâu vào phân tích nguyên nhân phát sinh những chi phí trong sản xuất, những điểm gây lãng phí trong quá trình sản xuất, luận văn cũng không có nội dung nào về việc đưa các giải pháp giảm chi phí sản xuất. 3. Luận văn thạc sỹ trường Đại học KTQD của Phí Văn Trọng năm 2006 với đề tài: “Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xe máy Việt Nam” Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất trên góc độ kế toán tài chính, kế toán quản trị chi phí. Nêu và phân tích thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xe máy Việt Nam. Luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Mặt được của đề tài này là đã phân tích và tìm ra những hạn chế của tổ chức kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp. Người viết đã đưa ra được phương hướng hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mặt chưa được của đề tài này là chưa đưa ra các giải pháp quản lý trong sản xuất nhằm giảm chi phí sản xuất cho doanh nghiệp. 3 4. Luận văn thạc sỹ trường Đại học KTQD của Đỗ Thị Bạch Yến năm 2008 với đề tài “Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với tăng cường quản trị nội bộ tại công ty cổ phần Đầu tư và bê tông Thịnh Liệt”. Mục đích nghiên cứu của đề tài: Về lý luận: Hệ thống hoá lý luận chung về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phục vụ công tác quản trị nội bộ doanh nghiệp. Về thực tế: Mô tả, phân tích thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Đầu tư và bê tông Thinh liệt. Luận văn đã phân tích, đánh giá rất sát với thực trạng của công ty, đưa ra được những cơ sở lý luận rất khoa học để phân tích những mặt hạn chế của công tác quản trị chi phí, hệ thống kế toán. Tuy nhiên với các giải pháp về tiết kiệm chi phí sản xuất tác giả chỉ nêu ra một cách định tính, chung nhất về các giải pháp, mà không nêu cụ thể được cách thức thực hiện và định lượng được kết quả của các giải pháp. Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác liên quan đến chi phí sản xuất nhưng không có luận văn nào đưa ra các giải pháp cụ thể ở góc độ quản trị để nhằm giảm chi phí trong quá trình sản xuất của các doanh nghiệp. Vì vậy trong luận văn của mình, tác giả đề tài sẽ tập trung đi sâu vào phân tích những điểm, khâu trong quá trình sản xuất phát sinh chi phí để đưa ra giải pháp cụ thể nhằm giảm chi phí sản xuất một cách hiệu quả nhất tại Công ty TNHH SEWS-Components Việt Nam. Đối với Công ty TNHH SEWS-Components Việt Nam một doanh nghiệp sản xuất thuộc tập đoàn Sumitomo Wirring System nổi tiếng của Nhật, khách hàng là các tập đoàn xe ô tô nổi tiếng như Toyota, Honda, Nissan. Vì vậy, chiến lược về sản phẩm, chiến lược về khách hàng của công ty rất ổn định, công ty chủ yếu tập trung vào các hoạt động khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý công nhân viên nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. C. Mục tiêu nghiên cứu 4 Luận văn này tập trung luận giải cơ sở khoa học và phân tích, đánh giá thực trạng tại Công ty TNHH SEWS-Components Việt Nam. Qua đó làm rõ sự cần thiết phải cắt giảm các loại chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Thấy được những nguyên nhân gây ra thiếu sót trong vấn đề cắt giảm chi phí sản xuất, từ đó, đề ra một số giải pháp giúp công ty khắc phục những hạn chế và yếu kém đó. D. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu các loại chi phí sản xuất trực tiếp và gián tiếp hình thành nên giá thành sản phẩm trong thời gian qua tại công ty TNHH SEWS-Components Việt Nam. E. Phương pháp nghiên cứu - Luận văn sử dụng tổng hợp một số phương pháp thống kê, so sánh, mô tả, phân tích tổng hợp các thông tin dữ liệu sơ cấp và thứ cấp để phân tích, đưa ra các biện pháp giảm chi phí sản xuất tại Công ty. - Điều tra (quan sát, phỏng vấn…) - Sử dụng các mô hình kinh tế và những lý thuyết cơ bản về thị trường. F. Kết cấu nội dung đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận: Gồm 3 chương Chương I: Chi phí sản xuất và vấn đề cắt giảm chi phí sản xuất. Chương II: Thực trạng về cắt giảm chi phí sản xuất tại Công ty TNHH SEWSComponents Việt Nam trong thời gian qua. Chương III: Một số giải pháp nhằm cắt giảm chi phí sản xuất Công ty TNHH SEWS- Components Việt Nam trong thời gian sắp tới. 5 CHƯƠNG I: CHI PHÍ VÀ VẤN ĐỀ CẮT GIẢM CHI PHÍ SẢN XUẤT 1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHI PHÍ SẢN XUẤT. 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm. 1.1.1.1. Khái niệm về chi phí sản xuất Doanh nghiệp sản xuất là những doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Để tiến hành hoạt động sản xuất, các doanh nghiệp sản xuất thường xuyên phải bỏ ra các khoản chi phí về các loại đối tượng lao động, tư liệu lao động và lao động của con người, các chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác. Để có thể biết được số chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong từng kỳ hoạt động là bao nhiêu, nhằm tổng hợp tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phục vụ yêu cầu quản lý, mọi chi phí chi ra cuối cùng đều được biểu hiện bằng thước đo tiền tệ và được gọi là chi phí sản xuất. Như vậy: Chi phí sản xuất là tổng các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá được biểu hiện bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định (tháng, quý, năm) Khi đề cập đến chi phí sản xuất cần phân biệt rõ chi phí sản xuất (CPSX) và chi phí của doanh nghiệp. Chi phí của doanh nghiệp là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong một thời kỳ nhất định bao gồm cho nhiều mục đích khác nhau trong đó có mục đích là cho sản xuất. CPSX có phạm vi hẹp hơn chi phí của doanh nghiệp và nằm trong chi phí của doanh nghiệp. Ở doanh nghiệp cũng cần phân biệt giữa CPSX và chi tiêu của doanh nghiệp. CPSX là những khoản chi phí có liên quan trực tiếp đến sản xuất ra sản phẩm trong một kỳ. Trong khi không phải tất cả các khoản chi tiêu đều phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm trong kỳ đó. Các khoản chi tiêu trong kỳ vào việc mua sắm tài sản cố định hoặc mua sắm vật tư, nguyên vật 6 liệu dự trữ trong kho cho nhiều kỳ sản xuất không đồng nghĩa với chi phí sản xuất trong kỳ đó. 1.1.1.2. Đặc điểm của chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản hao phí vật chất được tính bằng tiền mà doanh nghiệp đã bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, có đặc điểm là luôn vận động mang tính đa đạng và phức tạp gắn liền với tính đa dạng, phức tạp của ngành nghề sản xuất, qui trình sản xuất. Quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình kết hợp và tiêu hao của 3 yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Vì thế, sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan. Ở đây, chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí được tập hợp để tạo nên giá trị và giá thành sản phẩm. Nó khác với các chi phí của doanh nghiệp bởi - Chi phí là toàn bộ số tiền hay những giá trị vật chất và thời gian hao phí cho hoạt động của một tổ chức, một doanh nghiệp. Nó không chỉ là những giá trị hình thành nên giá cả của một loại sản phẩm, dịch vụ nào đó mà còn bao gồm những chi phí phi vật chất và toàn bộ chi phí nằm ngoài giá cả. Đó là chi phí thuế quan, những chi phí tài chính cho việc huy động vốn từ ngân hàng và những chi phí khác nữa. - Việc tính toán chi phí sản xuất là phương pháp xác định giá trị và giá cả của sản phẩm hàng hoá dịch vụ. Đây là căn cứ khoa học để hình thành nên giá bán - Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, chi phí của doanh nghiệp còn bao gồm những chi phí liên quan đến quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá. Đó là các chi phí thủ tục hải quan, những chi phí vận chuyển hàng bằng tầu biển, chi phí bảo hiểm hàng hoá (nếu có) … Những chi phí này hình thành nên giá bán sản phẩm theo đơn giá của hàng xuất khẩu. - Chi phí sản xuất luôn gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh ra chúng. 7 - Chi phí phát sinh trong doanh nghiệp được phân thành các yếu tố chi phí, có cùng một nội dung kinh tế, chúng không nói rõ địa điểm và mục đích bỏ ra chi phí. - Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm còn đang dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng. Chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành. Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm. 1.1.2. Các yếu tố hình thành chi phí sản xuất. Xuất phát từ đặc điểm của chi phí và quá trình hình thành chi phí, chi phí sản xuất được tạo nên từ một số thành tố cơ bản sau: • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp • Chi phí lao động trực tiếp • Chi phí sản xuất chung 1.1.2.1. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Nguyên vật liệu trực tiếp là những yếu tố vật chất tạo nên thành phần chính của sản phẩm. Nguyên liệu trực tiếp được nhận diện một cách dễ dàng trong sản phẩm vì nó tượng trưng cho đặc tính dễ thấy nhất của sản phẩm được sản xuất ra. Do vậy chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là biểu hiện bằng tiền những nguyên vật liệu chủ yếu tạo thành thực thể của sản phẩm. Ngoài ra, trong quá trình sản xuất còn phát sinh những loại nguyên vật liệu có tác dụng phụ thuộc, nó kết hợp với nguyên vật liệu chính để sản xuất ra sản phẩm hoặc làm tăng chất lượng của sản phẩm, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí. Để thực hiện việc quản lý chi phí, nguyên vật liệu luôn được xây dựng định mức hợp lý dựa trên yêu cầu về kỹ thuật của sản phẩm, làm cơ sở cho việc so sánh 8 chi phí thực tế và chi phí định mức, qua đó phát hiện nguyên nhân làm gia tăng chi phí nguyên vật liệu để có những giải pháp khắc phục kịp thời. 1.1.2.2.Chi phí lao động trực tiếp Lao động trực tiếp là những người trực tiếp sản xuất sản phẩm, lao động của họ gắn liền với việc sản xuất sản phẩm, sức lao động của họ hao phí trực tiếp cho sản phẩm được sản xuất. Vậy chi phí lao động trực tiếp chính là tiền lương chính, phụ; các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN) và các khoản phải trả khác cho những lao động trực tiếp nói trên. Chi phí nhân công trực tiếp được hạch toán trực tiếp vào giá thành sản phẩm. Không tính vào khoản mục này các khoản tiền lương, phụ cấp và các khoản trích trên tiền lương của nhân viên phân xưởng, nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý doanh nghiệp hay nhân viên khác. 1.1.2.3. Chi phí sản xuất chung. Các chi phí sản xuất, ngoài chi phí nguyên liệu trực tiếp và lao động trực tiếp, được phân loại là chi phí sản xuất chung hay còn gọi là chi phí hỗn hợp. Chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí nguyên liệu gián tiếp, chi phí lao động gián tiếp, chi phí khấu hao tài sản cố định, các chi phí tiện ích như điện, nước, văn phòng phẩm và các chi phí sản xuất khác. Đặc điểm của chi phí sản xuất chung là không thể tính trực tiếp vào sản phẩm, chúng sẽ được tính vào chi phí sản phẩm thông qua việc phân bổ chi phí. Chi phí sản xuất chung còn được gọi tên là chi phí chung của phân xưởng (factory overhead costs) hoặc chi phí sản xuất gián tiếp (indirect manufacturing costs). Chi phí sản xuất chung thường khó xác định cho từng sản phẩm riêng biệt. Do vậy, để xác định chi phí sản xuất chung cho từng sản phẩm, doanh nghiệp phải phân bổ cho các sản phẩm theo những tiêu thức nhất định. Chi phí sản xuất chung phân bổ cho Tổng chi phí SXC = cần phân bổ 9 Tiêu thức x phân bổ sản phẩm i Tổng tiêu thức phân bổ cho sản phẩm i Các tiêu thức phân bổ có thể lựa chọn như: + Chi phí tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất cho từng loại sản phẩm; + Số giờ lao động trực tiếp sản xuất cho từng loại sản phẩm; + Số giờ máy hoạt động để sản xuất từng loại sản phẩm; + Định mức tiêu hao nguyên liệu để sản xuất từng loại sản phẩm; Các khoản mục chi phí sản xuất chung: + Chi phí nhân viên phân xưởng: Gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN trên tiền lương của nhân viên quản lý, nhân viên thống kê, nhân viên tiếp liệu, nhân viên bảo vệ...tại phân xưởng sản xuất theo quy định; + Chi phí vật liệu: Gồm vật liệu các loại sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng sản xuất như dùng vào sửa chữa TSCĐ, dùng cho công tác quản lý tại phân xưởng; + Chi phí dụng cụ sản xuất: Chi phí về các loại công cụ, dụng cụ dùng cho nhu cầu sản xuất chung ở phân xưởng sản xuất như: Khuôn mẫu, dụng cụ gá lắp, dụng cụ cầm tay, dụng cụ bảo hộ lao động... + Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm số khấu hao TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính sử dụng ở phân xưởng sản xuất như khấu hao máy móc thiết bị sản xuất, khấu hao nhà xưởng... + Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các khoản chi về dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài để sử dụng cho nhu cầu sản xuất như chi phí về điện, nước, điện thoại, thuê ngoài sửa chữa TSCĐ ... 10 + Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm các khoản chi bằng tiền ngoài các khoản kể trên, sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng sản xuất; Trong điều kiện nền kinh tế phát triển theo xu hướng hiện đại hóa, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất đã làm cho cơ cấu chi phí thay đổi, theo hướng giảm dần chi phí lao động trực tiếp và gia tăng chi phí sản xuất chung. Một yêu cầu đặt ra là phải phân tích chính xác chi phí sản xuất chung dựa trên mức độ hoạt động của Doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc ước tính và phân bổ chi phí một cách hợp lý, cung cấp thông tin cho các quyết định về giá cả sản phẩm tiêu thụ. 1.1.3. Bản chất của chi phí sản xuất Chi phí của doanh nghiệp có thể được hiểu là: Toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định. Như vậy, bản chất của CPSX của doanh nghiệp luôn được xác định là những phí tổn (hao phí) về vật chất, về lao động sống và phải gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh. Khi xem xét bản chất của chi phí trong doanh nghiệp, cần phải xác định rõ các mặt sau: - Chi phí của doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian xác định. - Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào 2 nhân tố chủ yếu: khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu hao trong kỳ và giá trị của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí. 1.1.3.1. Phân biệt chi tiêu và chi phí của doanh nghiệp: Chi tiêu và chi phí có mối quan hệ mật thiết với nhau, đồng thời có sự khác nhau về lượng và về thời điểm phát sinh. Chi phí phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vì vậy nó được chi từ nguồn vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh; chi tiêu không gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh, vì vậy nó có thể được chi từ những nguồn khác nhau, có thể lấy từ quỹ phúc lợi, từ trợ cấp của nhà nước 11 Xét về bản chất thì chi phí sản xuất là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất, tuy nhiên có những khoản được tính vào chi phí sản xuất nhưng bản chất không phải là CPSX như các khoản trích theo lương, thuế tài nguyên... Xét về ảnh hưởng của chi phí sản xuất đến chi phí đơn vị sản phẩm: Ta được biết giá thành sản phẩm là toàn bộ CPSX chi ra để sản xuất một đơn vị sản phẩm. Cả CPSX và giá thành sản phẩm đều được hiểu là các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp chi ra trong một thời kỳ, không kể chi phí đó chi cho bộ phận nào và cho sản xuất sản phẩm gì. Và khi nói đến giá thành sản phẩm người ta chỉ quan tâm đến các chi phí đã chi ra có liên quan đến việc sản xuất hoàn thành một khối lượng sản phẩm, hoặc thực hiện một công việc dịch vụ mà không quan tâm đến chi phí đó chi ra vào kỳ nào. 1.1.3.2. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm CPSX và giá thành sản phẩm là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết. CPSX là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, CPSX biểu hiện sự hao phí để sản xuất sản phẩm, còn giá thành sản phẩm biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất. Đây là hai mặt thống nhất của cùng một quá trình, vì vậy chúng giống nhau về chất, cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống, lao động vật hoá bỏ ra. Nhưng giữa CPSX và giá thành sản phẩm khác nhau về mặt lượng. Khi nói đến CPSX là giới hạn chúng trong một thời kỳ nhất định, không phân biệt là cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa. Còn khi nói đến giá thành sản phẩm là xác định một lượng CPSX nhất định, tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định. Đứng trên góc độ quá trình hoạt động để xem xét, thì quá trình sản xuất là một quá trình hoạt động liên tục, còn việc tính giá thành sản phẩm là một điểm cắt có tính chu kỳ để so sánh chi phí với đại lượng kết quả, nên tại thời điểm tính giá thành có thể có khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành, chứa đựng một lượng chi phí 12 cho nó, gọi là chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ. Tương tự như vậy, đầu kỳ có thể có một lượng sản phẩm sản xuất chưa hoàn thành ở kỳ trước chuyển sang kỳ này để tiếp tục sản xuất chứa đựng một lượng chi phí sản xuất cho nó, gọi là chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ. Như vậy, giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ bao gồm chi phí sản xuất của kỳ trước chuyển sang và một phần chi phí phát sinh trong kỳ. Hơn nữa, giá thành sản phẩm mang tính chủ quan, phụ thuộc vào những phương pháp tính toán phân bổ như việc ghi nhận trước vào giá thành sản phẩm những khoản được coi là chi phí nhưng thực tế chưa phát sinh hoặc những chi phí thực tế đã chi ra nhưng được phân bổ cho nhiều kỳ, nhằm đảm bảo một sự ổn định tương đối cho giá thành sản phẩm qua các thời kỳ. Mối quan hệ giữa CPSX và tổng giá thành được thể hiện bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1. Quan hệ giữa CPSX và tổng giá thành CPSX dở dang đầu kỳ Giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ CPSX chia ra trong kỳ CPSX dở dang cuối kỳ Tóm lại, giữa CPSX và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau, tuy nhiên giữa chúng có những điểm giống và khác nhau cơ bản sau: Bảng 1.1. Điểm giống và khác nhau giữa CPSX và giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất Giá thành sản xuất sản phẩm Cùng nội dung kinh tế: Hao phí của các nguồn lực Liên quan đến thời kỳ sản xuất Liên quan đến khối lượng thành phẩm Riêng biệt của từng kỳ sản xuất Có thể là chi phí sản xuất của nhiều kỳ 13 Liên quan đến thành phẩm, sản phẩm dở dang Liên quan đến thành phẩm 1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất Khả năng tiếp thu kỹ thuật công nghệ, trình độ quản lý sản xuất của những nhà quản lý cũng như trình độ của mỗi cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến việc làm tăng hay giảm chi phí sản xuất ở mỗi doanh nghiệp. Sau đây ta sẽ xét những yếu tố có ảnh hưởng mạnh và trực tiếp đến vấn đề tăng, giảm chi phí sản xuất. 1.1.4.1. Nhân tố công nghệ kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật Sự phát triển như vũ bão của khoa học – kỹ thuật cho phép ngày càng sáng tạo và đưa vào áp dụng nhiều loại công nghệ khác nhau để sản xuất ra các loại sản phẩm. Trong điều kiện đó, doanh nghiệp đứng trước nhiều phương án công nghệ khác nhau cùng nhằm chế tạo ra một loại sản phẩm nhất định nào đó hoặc tính đến việc thay đổi công nghệ để chế tạo ra sản phẩm mới. Áp dụng công nghệ chế biến khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau về cách thức và trình tự của quá trình sản xuất, về trang thiết bị kỹ thuật, về sử dụng lực lượng lao động cụ thể, về thiết lập và tổ chức điều hành sản xuất,… Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải lựa chọn công nghệ thích hợp. Mặt khác, do việc thay đổi, hoàn thiện hay cải tiến công nghệ thường kéo theo sự thay đổi về các điều kiện trang thiết bị kỹ thuật, lực lượng lao động, sử dụng nguyên vật liệu,… cũng như đòi hỏi đầu tư lớn, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh trong thời gian dài nên việc lựa chọn công nghệ để quyết định phương án công nghệ tối ưu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Lựa chọn công nghệ đúng đắn có ý nghĩa tạo ra tiềm năng nâng cao hiệu quả lâu dài cho doanh nghiệp và ngược lại, nếu lựa chọn sai sẽ dẫn đến hiệu quả thấp và thậm chí không có hiệu quả kinh doanh mà không thể sửa chữa được. Có thể nói trình độ công nghệ càng hiện đại, càng tiên tiến thì khả năng chế tạo ra sản phẩm đạt chất lượng tốt, năng suất cao là lẽ tất yếu, nhưng chúng ta phải đề cập đến vấn đề giá thành (tức chi phí đầu tư cho trang thiết bị mới) nhằm đổi mới 14 quy trình công nghệ gia công sản phẩm của doanh nghiệp, chi phí cho vấn để chuyển giao và tiếp thu công nghệ mới. Nếu công nghệ mới đòi hỏi sử dụng nhiều vốn hơn và ít lao động hơn (thâm dụng vốn tương đối), chi phí cố định sẽ tăng và chi phí biến đổi sẽ giảm. Trong trường hợp này chi phí trung bình sẽ tăng ở mức sản lượng thấp và giảm ở mức sản lượng cao hơn. 1.1.4.2. Nhân tố lực lượng lao động Doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất bao gồm ba phân hệ cơ bản là quản trị tài chính, quản trị sản xuất và quản trị marketing. Trong các hoạt động trên, sản xuất được coi là khâu quyết định tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ và giá trị gia tăng. Chỉ có hoạt động sản xuất hay dịch vụ mới là nguồn gốc của mọi sản phẩm và dịch vụ được tạo ra trong doanh nghiệp. Sự phát triển sản xuất và dịch vụ là cơ sở làm tăng giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, tăng trưởng cho nền kinh tế quốc dân tạo cơ sở vật chất thúc đẩy xã hội phát triển. Quá trình sản xuất được quản lý tốt góp phần tiết kiệm được các nguồn lực cần thiết trong sản xuất, giảm giá thành, tăng năng suất và hiệu quả của doanh nghiệp nói chung. Trong sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm của doanh nghiệp có thể bán được tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Con người tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các nguồn lực khác (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…) nên tác động trực tiếp và quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ngày nay, sự phát triển khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là hàm lượng khoa học kết tinh trong sản phẩm rất cao. Đòi hỏi lực lượng lao động phải là lực lượng có tay nghề và có trình độ khoa học kỹ thuật cao. Điều này càng khẳng định vai trò quyết định của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. 15 1.1.4.3. Giá của các yếu tố sản xuất CPSX là toàn bộ các khoản hao phí vật chất được tính bằng tiền mà doanh nghiệp đã bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm. Trong khi đó, để sản xuất được ra sản phẩm không thể thiếu các yếu tố sản xuất. Các yếu tố sản xuất bao gồm: sức lao động của con người, nguyên vật liệu trực tiếp, thiết bị máy móc, nhà xưởng... Các khoản hao phí này được đo bằng tiền để tính chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thông qua thước đó giá cả. Như vậy, giá của các yếu tố sản xuất tỉ lệ thuận với chi phí sản xuất. Nói một cách khác, giá của các yếu tố sản xuất có quan hệ mật thiết với chi phí sản xuất, nếu giá của các yếu tố sản xuất tăng sẽ kéo theo chi phí sản xuất tăng, giá của các yếu tố sản xuất giảm kéo theo chi phí sản xuất giảm. Sự thay đổi trong giá nguồn lực sẽ làm thay đổi chi phí. Một sự gia tăng chi phí cố định sẽ làm tổng chi phí và chi phí trung bình tăng nhưng không làm tăng chi phí biên. Một sự gia tăng chi phí biến đổi sẽ làm tăng tổng chi phí, chi phí trung bình và chi phí biên. 1.2. CẮT GIẢM CHI PHÍ SẢN XUẤT. 1.2.1. Khái niệm và nội dung. 1.2.1.1. Khái niệm. Cắt giảm chi phí là cách thức mà một doanh nghiệp tiến hành nhằm giảm thiểu những giá trị đầu vào trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp giúp hạ giá thành sản phẩm, từ đó tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường cùng ngành. Việc cắt giảm chi phí là một quá trình diễn ra lâu dài và rất phức tạp. Chi phí phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố chủ quan và những yếu tố khách quan mà bản thân mỗi doanh nghiệp không thể khống chế được bởi tính biến động không ngừng của nó. Chi phí luôn ở trạng thái “động”. Do đó, doanh nghiệp muốn thành công trong hoạt động này cần phải có tiềm lực mạnh với quyết tâm cao, 16 đồng thời phải không ngừng nắm bắt kịp thời các thông tin mới nhất trên thị trường để có những quyết sách phù hợp với điều kiện thực tiễn. Cắt giảm chi phí là một hoạt động vô cùng cần thiết và hữu ích cho mỗi doanh nghiệp nếu muốn tồn tại trên thị trường và giữ được chỗ đứng. Cắt giảm chi phí làm hạ giá bán sản phẩm trên thị trường và tiến tới nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Doanh nghiệp có sức cạnh tranh sản phẩm cao sẽ hứa hẹn đem lại khoản doanh thu và lợi nhuận kếch xù thông qua cạnh tranh về giá bán. Tuy nhiên không phải công ty nào cung có thể làm tốt công tác này. Ở mỗi giai đoạn khác nhau, mỗi một doanh nghiệp lại có những chiến lược kinh doanh khác nhau. Do vậy, tuỳ thuộc vào các yếu tố cạnh tranh và đặc biệt là những yêu cầu của thị trường mà doanh nghiệp có những cách ứng xử phù hợp để đưa ra những chiến lược phù hợp cho từng giai đoạn phát triển nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh. Việc cắt giảm chi phí là luôn phải gắn liền với hiệu quả kinh tế tài chính của công ty và phải nằm trong khuôn khổ luật pháp. Có thể nói rằng: cắt giảm chi phí là con dao hai lưỡi. Một mặt, hoạt động này là tăng năng lực cạnh tranh giúp tăng lợi nhuận cho công ty và có thể phục vụ tốt nhất cho lợi ích của cán bộ công nhân viên nhằm tạo động lực cho sản xuất và tăng năng suất lao động chung trong mỗi doanh nghiệp. Công ty có thể cắt giảm các chi phí không cần thiết như chi phí điện nước hay chi phí nguyên vật liệu bằng cách tìm nhà cung cấp mới có giá rẻ hơn, sử dụng nguyên liệu tái chế nhưng vẫn phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng. Một mặt, bằng cách này hay cách khác công ty có thể bất chấp thủ đoạn để trốn tránh nghĩa vụ với nhà nước, thiếu trách nhiệm, thực hiện các hành vi bất hợp pháp thông qua việc trốn thuế, mua những nguyên vật liệu lậu để giảm chi phí sản xuất một cách đáng kể. Hành động này cần được lên án để ngăn chặn kịp thời. 1.2.1.2. Nội dung của việc cắt giảm chi phí sản xuất. Hoạt động sản xuất luôn diễn ra một liên tục để đảm bảo đáp ứng tốt nhu cầu thị trường theo đúng tiến độ. Cắt giảm chi phí cũng phải được tiến hành song song. 17 Việc cắt giảm chi phí phải được thực hiện một cách nghiêm túc và chặt chẽ để đảm bảo tránh thất thoát và đạt hiệu quả cao. Chi phí sản xuất là tập hợp của nhiều yếu tố chi phí, vịêc cắt giảm chi phí cũng phải tiến hành trên các khoản mục sau: a. Cắt giảm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Nguyên vật liệu trực tiếp là yếu tố vật chất đầu vào trong mọi quá trình sản xuất. Nó là thành phần chính, nguyên liệu chính cấu thành nên dáng hình sản phẩm. Nếu không có chúng thì quá trình sản xuất không thể xảy ra. Do đó, nguyên vật liệu có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nên sản phẩm . Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu chi phí hình thành nên giá cả thành phẩm. Bởi vậy, giảm chi phí nguyên vật liệu là một nội dung mà các doanh nghiệp quan tâm và tìm kiếm phương thức thực hiện hiệu quả. Cắt giảm chi phí nguyên vật liệu doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản tiền để chi trả cho những hoạt động cần thiết. b. Cắt giảm chi phí nhân công Đảng đã khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa. Tuy nhiên, từ ý tưởng trên đi tới đường lối, chính sách và tổ chức thực hiện là cả một cuộc trường chinh gian khổ cho chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động. Hiện nay, khả năng phát triển kinh tế theo chiều rộng đã tới mức trần, doanh nghiệp đang đứng trước đòi hỏi phải bằng mọi cách chuyển từ lợi thế so sánh dựa trên lao động giá rẻ và nhờ cậy vào tài nguyên, môi trường sáng tạo ra lợi thế cạnh tranh chủ yếu dựa trên phát huy nguồn lực con người. Song, doanh nghiệp đang vấp phải 3 trở lực lớn: chất lượng còn thấp về nguồn nhân lực, sự bất cập lớn của kết 18 cấu hạ tầng vật chất kỹ thuât, năng lực quản lý hẫng hụt nhiều mặt. Vấn đề con người luôn được doanh nghiệp quan tâm. Do đó, để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì cần phải quan tâm đến đời sống của cán bộ công nhân viên trong công ty nhằm phát huy nội lực tối đa và giảm chi phí một cách lâu dài chứ không thể cắt giảm lương của người lao động. Tuy nhiên, để góp phần cắt giảm chi phí nhân công trực tiếp trong giai đoạn lạm phát ngày một tăng cao, và chế độ lương tối thiểu chung, tối thiểu vùng liên tục tăng lên một cách nhanh chóng, doanh nghiệp phải bằng mọi cách tìm ra đối sách, phương hướng để nâng cao năng suất lao động. Có như vậy, doanh nghiệp vừa có thể tra lương cao hơn cho người lao động, vừa tăng lượng sản xuất hàng hóa góp phần giảm chi phí nhân công/1 đơn vị thành phẩm mà vẫn đảm bảo chăm lo đời sống cho công nhân viên. c. Cắt giảm chi phí sản xuất chung Hoạt động sản xuất là hoạt động diễn ra thường xuyên và bao gồm rất nhiều yếu tố sản xuất. Đây là yếu tố phục vụ một cách đắc lực cho quá trình sản xuất sản phẩm có thể được thực hiện với tốc độ nhanh và mang tính khoa học. Nó kết hợp sức lao động của con người và sự sẵn có của nguyên vật liệu để trợ giúp cho hoạt động sản xuất của công ty. Toàn bộ chi phí mua máy móc và trang thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất đều được coi là những chi phí sản xuất chung. Việc cắt giảm chi phí sản xuất chung đòi hỏi các doanh nghiệp cần cân nhắc thật kỹ càng bởi nó có liên quan một cách mật thiết với năng suất lao động. Tuy nhiên tiết giảm chi phí này lại có thể nhanh chóng nâng cao sưc cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và luôn có cơ hội để tìm kiếm một thị trường mới tiềm năng hơn. 1.2.2. Sự cần thiết phải cắt giảm chi phí sản xuất. 1.2.2.1. Chi phí sản xuất cao do lạm phát. 19 “Hiện tượng lạm phát là căn bệnh cố hữu của mọi nền kinh tế đang có tốc độ tăng trưởng dương, để khắc phục hiện tượng này, trước hết ta phải phân tích được những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra nó”1. Bởi vì, lạm phát luôn luôn là kết quả của sự tác động tổng hợp của các yếu tố kinh tế khác nhau, và thường thì rất khó nhận ra đâu là nguyên nhân chủ yếu, nên việc chống lạm phát thường gặp nhiều khó khăn. Từ sự phân tích đúng đắn này, ta mới có thể đề ra các giải pháp quản lí, sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô (bao gồm: chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách thu nhập) phối hợp thực hiện một cách đồng bộ với nhau nhằm tạo ra một tác động tổng hợp kiềm chế lạm phát ở mức độ vừa phải, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển một cách bền vững. Chi phí sản xuất tăng có thể do các nguyên nhân sau: do gia tăng tiền lương danh nghĩa, tăng giá nguyên-nhiên-vật liệu,… Do chi phí sản xuất tăng nên doanh nghiệp buộc phải tăng giá sản phẩm nhằm bảo đảm lợi nhuận. Ở Việt Nam, để tính lạm phát, người ta chỉ dùng " chỉ số giá tiêu dùng" CPI. Theo thống kê báo cáo, CPI tháng 11/2011 so với tháng 11/2010 tăng 18,5%. Điều này khiến cho hàng loạt nhà máy xí nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản do lượng hàng tiêu thụ giảm sút do giảm cầu tiêu dùng. Vấn để đặt ra cho các doanh nghiệp trong giai đoạn này là làm sao có thể bình ổn được giá cả sản phảm để nhanh chóng lấy lại thị trường tiêu thụ đã tuột khỏi tay với do sự tăng giá của hàng hoá xã hội nói chung và sản phẩm của doanh nghiệp nói riêng. Bởi vậy, các doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp cắt giảm chi phí để bù đắp cho tình trạng lạm phát hiện nay. 1.2.2.2. Vai trò của giảm chi phí sản xuất và công tác quản lý chi phí sản xuất Không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ là mối quan tâm của bất kỳ xã hội nào mà còn là mối quan tâm của bất kỳ doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường. Nó cũng thể hiện chất lượng của toàn bộ công tác quản lý- điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh 1 http://blog.sgc.vn/?p=47 20
- Xem thêm -