Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy- học phân môn lịch sử ở lớp 5

  • Số trang: 23 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 18 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẨM THỦY TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN CẨM THỦY SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY - HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ Ở LỚP 5 Người thực hiện: Lê Thị Hà Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thị trấn SKKN thuộc môn: Lịch sử và Địa lí CẨM THỦY NĂM 2013 1 a - ®Æt vÊn ®Ò. Với chiều dài Lịch sử oanh liệt hàng nghìn năm, trên dải đất Việt Nam hình chữ S, mỗi ngày chúng ta lại được chứng kiến những lễ hội lịch sử hào hùng của dân tộc. Đây là lòng biết ơn của toàn thể dân tộc đối với các nhân vật lịch sử; sự kiện lịch sử lớn đã trải qua một thời của dân tộc Việt Nam. Chúng ta vô cùng tự hào về trang sử hào hùng của dân tộc, bởi mỗi mảnh đất quê hương đều từng diễn ra những sự kiện lịch sử lớn của đất nước, nơi sản sinh nhiều nhân vật lịch sử, nhiều vị anh hùng dân tộc tiêu biểu. Có được những trang sử hào hùng và những con người anh hùng ấy, bởi: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại trỗi dậy, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn…nó lướt qua mọi gian khổ khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước. Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta...” Đối với việc giáo dục thế hệ trẻ - những “ thế hệ cách mạng cho đời sau”Bác luôn quan tâm đến việc giáo dục truyền thống của cách mạng và lịch sử, văn hoá của dân tộc. Bác đã từng nói: “Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Thực hiện tư tưởng của Người, nền giáo dục của chúng ta đã rất coi trọng giáo dục lịch sử dân tộc trong việc xây dựng nhân cách những con người mới xã hội chủ nghĩa “ vừa hồng, vừa chuyên”. Chẳng thế mà chúng ta đã có những thế hệ người Việt Nam trong thời đại của Bác Hồ vô cùng yêu nước, sống có hoài bão, có lý tưởng cao đẹp, hết lòng hết sức phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân dân… Là một giáo viên Tiểu học – người trực tiếp truyền thụ kiến thức đến cho học sinh, một trong những vấn đề tôi luôn quan tâm và theo dõi là việc dạy Lịch sử ở trường Tiểu học. Làm thế nào để dạy tốt phân môn Lịch sử ở trường Tiểu học, làm thế nào để học sinh yêu thích môn học Lịch sử? Làm thế nào để trong cuộc sống thường nhật của chúng ta có những con người yêu nước, đầy tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, với dân tộc? Không còn những học sinh hư hỏng, xem thường truyền thống lịch sử, mơ hồ với lịch sử dân tộc. Đó là một vấn đề lớn đòi hỏi tâm huyết và sự sẻ chia của các nhà khoa học, các nhà giáo, nhất là những người trực tiếp giảng dạy ở bậc Tiểu học. Trước vấn đề này bằng kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy tôi xin nêu ra một số ý kiến với mong muốn góp chút phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng dạy - học phân môn Lịch sử ở lớp 5. 2 B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. I- CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: Lịch sử là môn học về nghiên cứu và phân tích những sự kiện đã xảy ra. Phân môn Lịch sử ở Tiểu học cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản, thiết thực về : các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu tương đối có hệ thống theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước tới nửa đầu thế kỉ XIX. Việc học tập lịch sử không phải chỉ là học thuộc, nạp vào trí nhớ của các em những lời giảng của thầy hay nội dung SGK mà điều cốt lõi là thông qua quá trình làm việc với các nguồn tài liệu, HS tự tạo cho mình những hình ảnh lịch sử, sự hiểu biết về quá khứ, rèn luyện cách thức, phương pháp tìm hiểu lịch sử. Phần Lịch sử lớp 4, lớp 5 không trình bày lịch sử theo một hệ thống chặt chẽ. Mỗi bài học là một sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử không thể hình thành một cách cô lập mà luôn gắn liền với một bối cảnh lịch sử cụ thể. Vì vậy trước khi dạy nội dung của một bài cụ thể, giáo viên cần giới thiệu sơ lược về bối cảnh lịch sử. Để đạt hiệu quả cao, GV cần phải nắm vững toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc cho đến nay. Người giáo viên chính là chiếc cầu nối để đưa các em đến gần hơn với những trang lịch sử hào hùng của dân tộc, là người định hướng giúp các em có được cách học có hiệu quả. Đây cũng là kiến thức nền móng cho các em tiếp tục học lên các cấp học trên. Để làm được điều đó trước hết người giáo viên phải có kiến thức vững vàng, am hiểu về lịch sử dân tộc và bản thân người giáo viên phải là người yêu mến, tự hào về lịch sử của dân tộc mình thì mới thực sự làm tròn trách nhiệm vẻ vang đó. Trong sự nghiệp giáo dục hiện nay , theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, trong đó người giáo viên luôn giữ vai trò tổ chức chỉ đạo, học sinh tích cực chủ động nắm tri thức, tạo cho học sinh sự tham gia hứng thú và trách nhiệm . Người giáo viên đảm nhận vai trò xây dựng kế hoạch, hướng dẫn hoạt động và hợp tác. Người học( HS) được người dạy( GV) theo sát giúp đỡ trong quá trình học nên tích cực tự giác và thể hiện sự năng động trong hoạt động học tập, kết quả cuối cùng là học sinh đã tiếp thu được những nguồn tri thức mớibằng sự khám phá của bản thân với sự định hướng, giúp đỡ của giáo viên.Tự mình khám phá ra tri thức học sinh sẽ cảm nhận được sự hứng thú say mê và yêu mến môn học hơn so với những gì học sinh tiếp nhận một cách thụ động từ giáo viên . 3 II .THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC Phân môn Lịch sử trong trường Tiểu học có một vị trí hết sức quan trọng trong việc góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh đồng thời tạo cơ sở để các em tiếp thu có hệ thống và vững chắc chương trình của môn Lịch sử ở các cấp học trên. Về góc độ xã hội, yêu cầu dạy Quốc sử phải được đặt ngang hàng với dạy Quốc văn mới có thể góp phần đào tạo được những con người không chỉ biết, hiểu, tự hào về nguồn cội của mình mà còn biết biến quá khứ của ông cha thành sức mạnh của thời đại mình đang sống, làm cho dân tộc mình không những không bị “hoà tan” mà còn luôn “ đậm đà bản sắc” trên con đường hội nhập và phát triển. Phải khẳng định ngay rằng với những cố gắng nhất định, việc dạy Lịch sử trong các trường Tiểu học đã góp phần không nhỏ vào việc giáo dục, hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo những yêu cầu đặt ra. Chúng ta đã có nhiều giờ dạy Lịch sử ở bậc Tiểu học rất hay, rất xúc động, làm cho cả người dạy, người học và người tham dự không khỏi tự hào rằng mình là người Việt Nam- Một dân tộc với truyền thồng “Nghìn năm văn hiến”. Những tiết dạy học Lịch sử như thế đã thực sự mang lại những giá trị to lớn trong việc hình thành ở học sinh những phẩm chất cao đẹp của người Việt Nam, nó có tác dụng hơn hẳn những giáo huấn thông thường. Đặc biệt nó đã ngăn được những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc sống đến sự hình thành và phát triển của nhân cách các em . Tuy nhiên, việc dạy học này chưa được thực hiện đều ở đại bộ phận giáo viên của các trường. Trong nhiều tiết dạy người GV vẫn chưa tổ chức được cho học sinh sưu tầm tư liệu và chuẩn bị bài chu đáo, chưa tạo ra được được sự hứng thú cho học sinh tham gia học hỏi và tìm hiểu kĩ bài học; nhiều giờ Lịch sử diễn ra nặng nề hoặc khô khan, hiệu quả giáo dục thấp. Điều này dẫn đến có những học sinh không biết gì về truyền thống lịch sử cha ông, đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự nhầm lẫn các nhân vật và triều đại Lịch sử. .. Điều này dẫn đến nhiều học sinh không biết gì về truyền thống lịch sử cha ông. Chúng ta thấy rất buồn sau mỗi kì thi đại học lại có nhiều bài thi nhầm lẫn đến rơi nước mắt khi trả lời các kiến thức cơ bản về lịch sử . Điều này một phần có lỗi từ cái gốc lịch sử từ bậc học Tiểu học của các em- Đây là một điểm yếu cần được khắc phục.Trước những thực trạng đó, trong quá trình giảng dạy phân môn Lịch sử ở lớp 5 tôi đã vận dụng một số kinh nghiệm bản thân có được trong quá trình học tập và tích lũy kinh nghiệm của bản thân để dạy- học xem là có hiệu quả thông qua đè tài nghiên cứu: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy - học phân môn Lịch sử ở lớp 5” 4 III - CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHẦN MÔN LỊCH SỬ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC: 1. Thay đổi nhận thức của người dạy, người học: Một số người cho rằng dạy Lịch sử ở Tiểu học là dễ vì kiến thức ít. Điều đó hoàn toàn không đúng và sẽ không thể thực hiện được việc giảng dạy Lịch sử ở Tiểu học đạt chất lượng, vì: - Một là: Cấu trúc một bài Lịch sử ở Tiểu học mang tính sơ giản, chứ không có nội dung đầy đủ và có tính hệ thống chặt chẽ ( như các cấp học cao hơn) nên rất khó dạy cho học sinh, nhất là học sinh Tiểu học với vốn sống, vốn kiến thức còn rất hạn chế, sơ sài. - Hai là: Tư duy của học sinh Tiểu học còn mang tính tư duy trực quan mà Lịch sử lại có tính quá khứ. Vì thế không cho phép người học được chứng kiến một cách trực tiếp những con người, những sự kiện…đang diễn ra nên việc “dựng” lại những nhân vật, sự kiện lịch sử nhất là trong điều kiện còn thiếu thốn về phương tiện, đồ dùng dạy học là việc không dễ. - Ba là: Lịch sử vốn là những sự việc đã diễn ra, có thật, nó tồn tại khách quan trong quá khứ, không thể phán đoán, suy luận, tưởng tượng để nhận thức lịch sử nên việc dạy học theo hướng “ tích cực hoá hoạt động tư duy của học sinh” đòi hỏi người giáo viên phải vận dụng các phương pháp với nhiều công phu mà vẫn khó đạt được hiệu quả như mong muốn. Bên cạnh đó, mục tiêu của dạy học Lịch sử ở Tiểu học chỉ là cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản, ban đầu của lịch sử dân tộc nên chương trình chỉ có thể lựa chọn những sự kiện, những nhân vật lịch sử tiêu biểu của mỗi giai đoạn lịch sử mà không thể dạy cho các em một hệ thống kiến thức chặt chẽ như các cấp học trên. Cũng chính vì không có hệ thống chặt chẽ nên những “ nhịp dẫn” của “cây cầu lịch sử” bị “đứt đoạn” làm cho người giáo viên gặp khó khăn trong việc “dẫn” các em đi từ thời đại này tới thời đại kia, từ sự kiện này tới sự kiện khác. Giáo viên cần nắm vững nội dung , cấu trúc SGK Lịch sử và Địa lí kết hợp với sự hiểu biết và tìm tòi thông qua các tài liệu để đạt hiệu quả cao trong mỗi bài dạy. Chẳng hạn khi dạy bài “ Đảng cộng sản Việt Nam ra đời” (Lịch sử lớp 5), người giáo viên phải giúp học sinh hiểu được hoàn cảnh lịch sử của sự kiện lịch sử trọng đại này trước khi bước vào nội dung chính của bài. Nếu ở các cấp học trên thì thao tác này không đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu kĩ các tư liệu và phải giảng giải nhiều vì trước đó học sinh đã được học đầy đủ về tình hình lịch sử của đất nước giai đoạn 1925 - 1930 nên hiểu được bối cảnh lịch sử với yêu cầu cấp bách phải có một chính đảng thống nhất và đủ mạnh để lãnh đạo cách mạng nước ta. Ngược lại ở Tiểu học trước khi học bài này học sinh mới được học về một số nhân vật và sự kiện lịch sử tiêu biểu nên không thể hiểu được đầy đủ bối cảnh lịch sử của sự kiện Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Vì vậy người giáo viên phải có khả năng khái quát vấn đề rất cao, vừa dẫn được cái xa, vừa nêu được cái gần, phù hợp với đặc điểm nhận thức của 5 học sinh để không mất nhiều thời gian mà vẫn giúp các em nhanh chóng hiểu được vấn đề. Muốn vậy người giáo viên phải thông hiểu lịch sử và có kho tàng ngôn ngữ giàu có với khả năng diễn đạt ngắn gọn, trong sáng và dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của học sinh tiểu học. Điều này quả là không dễ nhưng nếu chịu khó trau rồi, rèn luyện với lòng yêu nghề, yêu học trò và yêu lịch sử dân tộc thì người giáo viên Tiểu học hoàn toàn có thể làm được. Cụ thể là khi dạy đến bài này giáo viên cần phải nghiên cứu để dẫn dắt HS đi từ các vấn đề lịch sử: Giữa năm 1929 các tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn nối tiếp nhau xuất hiện. Nó đã tạo ra tiền đề trực tiếp cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam. Tuy đều là các tổ chức cộng sản nhưng cả ba tổ chức đều hoạt động riêng rẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành ảnh hưởng của nhau nên đã gây ra trở ngại lớn cho phong trào cách mạng. Yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam là phải có một Đảng Cộng sản thống nhất trong cả nước để lãnh đạo cách mạng. Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đứng ra triệu tập và chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản Việt Nam. Hội nghị diễn ra từ ngày 3 đến 7-2-1930 tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc. Với tài năng và uy tín cao của người Hội nghị đã nhất trí tán thành thống nhất các tổ chức cộng sản để thành lập một chính Đảng duy nhất của giai cấp công nhân Việt Nam. Đảng lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp nhuần nhuyễn của ba nhân tố: Chủ nghĩa mác – Lê nin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự chuẩn bị đầu tiên có tính chất quyết định đến bước phát triển mới và thắng lợi của cách mạng Việt Nam ở giai đoạn tiếp theo. Từ sự khái quát tiến trình lịch sử để dẫn dẫn đến sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam. 2. Sử dụng kênh hình hiệu quả: Cũng giống như một số môn học khác, trong SGK Lịch sử 5, kênh chữ giữ vai trò chủ yếu trong việc cung cấp kiến thức. Tuy nhiên, kênh hình vẫn có vai trò quan trọng ; nó không chỉ minh hoạ cho kênh chữ, mà còn là nguồn cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho HS. Trong giờ dạy Lịch sử, có những giáo viên không hiểu kênh hình nên không khai thác được kênh hình với đúng vai trò của nó mà chỉ đưa ra như một sự minh hoạ đơn thuần. Kênh hình trong sách giáo khoa của phân môn Lịch sử hiện nay nhiều, phong phú, màu sắc và trình bày đẹp, ngoài tính minh hoạ mỗi bức tranh, bức ảnh còn hàm chứa những thông tin lịch sử với mức độ khác nhau phục vụ việc dạy và học đạt hiệu quả. Có thể phân loại kênh hình trong sách giáo khoa phân môn Lịch sử như sau: 6 - Loại thứ nhất là bản đồ, lược đồ: Chủ yếu được bố trí ở loại bài về các cuộc khởi nghĩa, các chiến dịch, các trận đánh nhằm giúp học sinh hiểu được vị trí của cuộc khởi nghĩa, chiến dịch, trận đánh… cách bố trí lực lượng hai bên và diễn biến của cuộc khởi nghĩa, chiến dịch, trận đánh… Khi khai thác lược đồ giáo viên phải giúp học sinh hiểu được ý nghĩa sâu xa của cách trọn vị trí trận địa, việc bố phòng và hướng tấn công của hai bên qua đó làm nổi bật âm mưu của địch, sự thông minh và nghệ thuật quân sự tài tình cũng như tinh thần chiến đấu dũng cảm của ta từ đó giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc cho các em. Ví dụ ở bài: “Thu - đông 1947, Việt Bắc “ mồ chôn giặc Pháp”( Lịch sử lớp 5), khi hướng dẫn trên lược đồ người giáo viên không dùng lại ở mức độ chỉ cho học sinh thấy các hướng tấn công của địch và cách chọn vị trí tiêu diệt địch của ta một cách đơn thuần mà còn phải giúp các em phân tích để thấy âm mưu thâm độc của Thực dân Pháp trong việc bao vây nhằm tiêu diện gọn, chặt đứt mọi đường rút và đường liên hệ của ta với bên ngoài nhưng với việc “ nắm địch”, “ hiểu địch” tốt và bằng nghệ thuật quân sự tài tình ta đã hoá giải và đập tan âm mưu của chúng. Trong quá trình dạy các bài Lịch sử có liên quan đến các cuộc khởi nghĩa , các chiến dịch người giáo viên có thể tận dụng các tranh ảnh từ lớp này để dạy cho lớp khác , giúp cho tiết học phong phú và sinh động hơn.Ví dụ : Dạy bài Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ở Lớp 5 có thể sử dụng lược đồ này ở lớp 4. - Loại kênh hình thứ hai là tranh, ảnh tư liệu: Loại này có ở loại bài về các cuộc khởi nghĩa, các chiến dịch, loại bài về chính trị xã hội và thành tựu. Đó là tranh ảnh về các cuộc khởi nghĩa, các cuộc biểu tình, về một loại vũ khí nào đó, về tình hình chính trị, kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân, về các thành tựu kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật…của mỗi triều đại ứng với mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Đối với loại bài này người giáo viên phải am hiểu đầy đủ về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật của mỗi thời kỳ mới có thể hiểu và khai thác tốt kênh hình phục vụ việc giảng dạy đạt hiệu quả cao. Việc khai thác tranh ảnh thể hiện các thành tựu văn hoá như điêu khắc, kiến trúc, các giá trị văn hoá phi vật thể là khó khăn hơn cả với người giáo viên vì đây là những lĩnh vực không dễ hiểu và càng không dễ chuyển tải đến học sinh, nhất là học sinh tiểu học.Vì vậy giáo viên cần có sự đầu tư sưu tầm tranh ảnh liên quan đến nội dung bài học, chuẩn bị chu đáo các tư liệu về các giá trị văn hóa của các nhà nghiên cứu Lịch sử có ở trên sách báo và trên các trang mạng. Tất nhiên khi diễn đạt ý này cho học sinh tiểu học phải bằng thứ ngôn ngữ và cách diễn đạt phù hợp với nhận thức của các em, đặc biệt phải bằng các hình ảnh tư liệu trực quan. - Loại kênh hình thứ ba là ảnh chân dung nhân vật lịch sử: Đây là ảnh của các nhân vật lịch sử trong loại bài dạy về nhân vật lịch sử. Số bài dạy về các 7 nhân vật lịch sử tiêu biểu trong chương trình Lịch sử lớp 5 không nhiều Cái mới của loại bài này so với chương trình cũ là dạy nhân vật lịch sử thông qua và gắn liền với sự kiện lịch sử chứ không thuần tuý kể về nhân vật lịch sử như trong chương trình cũ. Vì vậy, việc khai thác ảnh chân dung của nhân vật phục vụ bài dạy phải đảm bảo nguyên tắc: Làm nổi bật tư chất, nhân cách nhân vật nhưng không quá xa đà, không tách rời nhân vật lịch sử ra khỏi mối quan hệ với thời đại của nhân vật và sự kiện lịch sử mà nhân vật có vai trò quyết định. Ví dụ khi dạy một số bài: “Bình Tây đại nguyên soái Trương Định”;Nguyến Trường Tộ mong muốn canh tân đất nước; Cuộc phản công ở kinh thành Huế; Phan Bội Châu và phong trào Đông du; Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước; Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập.Đây là một số bài gắn với sự kiện và giai đoạn lịch sử với sự xuất hiện của các nhân vật Lịch sử tiêu biểu , vì vậy giáo viên cần sử dụng triệt để các hình ảnh, chân dung các nhân vật lịch sử và có sự so sánh vai trò của họ ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau( Nguyễn Tất Thành - Chủ tịch Hồ Chí Minh) 3. Vận dụng các kiến thức Văn học vào dạy Lịch sử: Việc vận dụng một cách hợp lý kiến thức Văn học vào dạy Lịch sử sẽ làm cho giờ Lịch sử hay hơn, sinh động hơn, hấp dẫn hơn, cuốn hút học sinh hơn và cuối cùng là làm cho tiết dạy - học Lịch sử mang lại hiệu quả cao hơn. Thường là việc người giáo viên đọc những trích đoạn thơ về nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử ở phần giới thiệu bài học, phần củng cố, liên hệ, cũng có khi là cả trong phần chính của bài. Ví dụ khi giới thiệu bài “ Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước” ( Lịch sử lớp 5), người giáo viên bằng giọng đọc truyền cảm của mình có thể đọc hoặc ngâm một trong số các trích đoạn thơ như: “ Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi Cho tôi làm sóng dưới thân tàu đưa tiễn Bác Khi bờ bến dần lui, làng xóm khuất Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre Đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở Xa nước rồi càng thấy nước đau thương...” ( Người đi tìm hình của nước – Chế Lan Viên) Hay đoạn thơ trong bài “ Bác ơi” của nhà thơ Tố Hữu: “Từ đó người đi những bước đầu Lênh đênh bốn biển một con tàu 8 Cuộc đời sóng gió trong than bụi Tay đốt lò, lau chảo, thái rau”. Hoặc bài thơ miêu tả Bác Hồ trong buổi lễ đọc bản Tuyên Ngôn Độc lập: “Hôm nay, sáng mồng 2 tháng 9 Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình Muôn triệu tim chờ chim cũng nín Bỗng vang lên tiếng hát ân tình. Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh. Người đứng trên đài lặng phút giây Trông đàn con đó vẫy hai tay Cao cao vầng trán ngời đôi mắt Độc lập bây giờ mới thấy đây. …………………….. Thường thì các anh hùng dân tộc và các sự kiện lịch sử hào hùng của ông cha ta đều được phản ánh trong văn học nên rất dễ để người giáo viên lựa chọn những câu thơ hay, những đoạn trích hay, phù hợp, trong các tác phẩm văn học đưa vào bài giảng của mình, làm cho tiết dạy - học Lịch sử có được những hiệu ứng mà một tiết dạy sử thông thường không thể đạt được. Mặt khác, các bài thơ gắn với các sự kiên lịch sử giúp cho các em dễ nhớ các sự kiện lịch sử đã học vừa bổ trợ thêm các kiến thức về văn học, cảm thụ văn học cho các em. 4. Chia các bài học thành các dạng bài học cơ bản và đưa ra phương pháp dạy học đặc trưng cho các dạng bài đó: Ví dụ: Chương trình phân môn Lịch sử lớp 5 có thể chia ra các dạng bài: 4.1 Dạng bài thứ nhất: Dạng bài về thành tựu kinh tế – chính trị, văn hoá - xã hội. * Nội dung chính: - Hoàn cảnh ra đời của thành tựu đó. - Vài nét tiêu biểu của thành tựu. - Giá trị thực tiễn của thành tựu. - Kết quả , ý nghĩa của thành tựu. ` * Gồm các bài dạy: - Vượt qua tình thế hiểm nghèo (lớp 5) 9 - Hậu phương những năm sau chiến dịch Biên giới (lớp 5) - Nước nhà bị chia cắt (lớp 5) * Vấn đề cần lưu ý: - Phải mô tả được tình hình nước ta như thế nào, tình cảnh đất nước, quan lại, chính quyền, cuộc sống nhân dân. - Trong tình cảnh đó, chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì, làm như thế nào và kết quả của những việc làm đó. * PPDH đặc trưng: - Kể chuyện - Phương pháp vấn đáp – tìm tòi .- Phương pháp thảo luận nhóm. - Sử dụng đồ dùng dạy học. 4.2 Dạng bài thứ hai: Dạng bài về nhân vật lịch sử *Nội dung chính: - Nhân vật lịch sử nảy sinh trong hoàn cảnh lịch sử như thế nào? - Hoàn cảnh cụ thể của nhân vật( tên, nơi sống, nguyện vọng..) - Suy nghĩ , hành động cụ thể của nhân vật - Những đóng góp của nhân vật. * Gồm các bài dạy: “Bình Tây Đại Nguyên Soái” Trương Định - Nguyễn Trường Tộ mong muốn canh tân đất nước - Cuộc phản công ở kinh thành Huế - Phan Bội Châu và phong trào Đông du - Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước . * Vấn đề cần lưu ý: - Cần khai thác tốt hình ảnh (tranh vẽ hoặc chân dung) nhân vật lịch sử. - Cho HS biết nhân vật lịch sử là người như thế nào? (sinh năm nào, ở đâu, làm gì, có đặc điểm tính cách gì nổi bật, đời sống nội tâm, tư tưởng, tình cảm thế nào, tài năng đức độ ra sao?) - Qua đó GV tiến hành giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho HS về lòng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với nhân vật lịch sử. * PPDH đặc trưng: - Kể chuyện. - Sắm vai. 10 - Miêu tả, tường thuật kết hợp với đàm thoại. 4.3 Dạng bài thứ ba: Dạng bài về các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch *Nội dung chính: - Hoàn cảnh lịch sử (thời gian , địa điểm, lí do) - Diễn biến chính. - Kết quả. - Ý nghĩa. * Gồm các bài dạy: - Chiếm tỉ lệ khá nhiều trong chương trình Lịch sử lớp 5. * Vấn đề cần lưu ý: - Giúp HS nắm được nguyên nhân (hoàn cảnh) dẫn đến cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch.- Diễn biến.- Kết quả và ý nghĩa. * PPDH đặc trưng: - Kể chuyện. - Sắm vai. - Thảo luận. - Vấn đáp. Kết hợp với sử dụng đồ dùng trực quan. 4.4 Dạng bài thứ tư: Dạng bài về triều đại, hoạt động xây dựng, sản xuất phát triển kinh tế. * Gồm các bài dạy: Nhà máy hiện đại đầu tiên của nước ta - Xây dựng nhà máy thuỷ điện Hoà Bình. * Vấn đề cần lưu ý: - Sự ra đời của triều đại đó. Phải giúp HS nắm được Vì sao nhà nước/ triều đại/ Đảng (Chính phủ) phải tiến hành hoạt động đó? Hoạt động đó nhằm mục đích gì? Mô tả hoạt động/ quá trình đó diễn ra như thế nào?Kết quả/thành tựu/vai trò/ý nghĩa của hoạt động đó đối với đất nước. * PPDH đặc trưng: - Phương pháp vấn đáp – tìm tòi. - Phương pháp thảo luận nhóm. 4.5 Dạng bài thứ năm Dạng bài ôn tập, tổng kết. 11 * Gồm các bài dạy: Bài 11: Ôn tập: Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộBài 18: Ôn tập: Chín năm kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc (1945-1954) Bài 29: Ôn tập: Lịch sử nước ta từ giữa thế kỉ XIX đến nay. * Vấn đề cần lưu ý: - Hệ thống hoá và củng cố lại những kiến thức đã học cho học sinh. Vẽ sơ đồ. - Lập bảng niên biểu. Thống kê. Tìm các dẫn chứng. Nêu ý nghĩa của những sự kiện lịch sử tiêu biểu. * PPDH đặc trưng: - Phối hợp nhiều phương pháp dạy học của môn học. 5. Những giải pháp được xem là có hiệu quả nhất. 5.1: Căn cứ vào việc nghiên cứu kĩ nội dung chương trình và những đặc trưng của môn học để người giáo viên có thể phân chia các bài thành các dạng bài học cơ bản và đưa ra phương pháp dạy học đặc trưng cho các dạng bài đó. Trong quá trình dạy học môn Lịch sử ở lớp 5, tôi luôn bám sát việc : Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.Trên tinh thần sử dụng đúng mức, đúng chỗ, đúng lúc các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học truyền thống cũng như hiện đại để phát huy tối đa mặt mạnh của từng phương pháp và sự phối hợp giữa các phương pháp. Để thực hiện yêu cầu trên, tôi đã vận dụng dạy theo quy trình sau: Bước 1: GV đặt vấn đề cần giải quyết trong bài học thông qua việc nêu các tình huống có vấn đề, liên quan tới nội dung bài học. Bước 2: Tổ chức cho HS khai thác các tư liêu trong SGK, tranh ảnh , bản đồ, lược đồ,..Qua đó, các em có thể hình dung, có biểu tượng về các sự kiện, hiện tương lịch sử. Bước 3: Trên cơ sở các biểu tượng về lịch sử đã được hình thành GV sẽ đặt các câu hỏi, đưa ra các bài tập và vận dụng các hình thức tổ chức dạy học (cá nhân, nhóm, cả lớp) giúp HS bước đầu biết so sánh các điểm giống và khác nhau nêu đặc điểm, tổng hợp những nét chung của sự kiện, hiện tượng lịch sử. Bước 4: Từ những hiểu biết trên, GV tổ chức cho HS trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau ( nói, viết , vẽ,...) về một sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách sinh động và chính xác; đồng thời các em cũng biết vận dụng các kiến thức đã học vào các nội dung như tích hợp bảo vệ di tích lịch sử và di tích văn hóa của dân tộc. 5.2: Một trong những kinh nghiệm bản thân tôi đã vận dụng trong quá trình dạy học phân môn Lịch sử ở lớp 5 góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lượng môn học là việc sử dụng các tư liệu cho môn học( Tư liệu viết, tư liệu băng hình, tư liệu tranh ảnh)để minh họa cho các sự kiện, nhân vật lịch sử trong 12 bài giảng trên lớp. Hình thức này dễ sử dụng và đem lại hiệu quả tốt cho tiết học, nhất là các bài học lịch sử dân tộc, bài lịch sử địa phương có các sự kiện liên quan đến lễ hội. Đặc biệt, bản thân tôi đã mạnh dạn việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy một số tiết học dưới dạng trình chiếu và đã đem lại một số hiệu quả nhất định. lôi cuốn HS trong học tập.Với những hình ảnh, tư liệu sống động, phong phú của các lễ hội sẽ góp phần làm tái hiện cho HS những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử bổ xung những kiến thức lịch sử đã học trên lớp một cách cụ thể hơn. 5.3: Một số địa chỉ cụ thể minh họa cho việc vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn Lịch sử và bước đầu áp dụng CNTT vào dạy học. *Ví dụ khi dạy bài: Tiến vào Dinh Độc Lập( Trang 55) Đây là loại bài Lịch sử sự kiện, vì vậy GV cần nêu được nội dung chính như: Phần bài mới: - Giới thiệu hoàn cảnh, kết hợp với chỉ bản đồ - Hs xem đoạn băng về chiến dịch Hồ Chí Minh.(đã được BGD cung cấp), kết hợp với sử dụng lược đồ Chiến dịch Hồ Chí Minh( Từ 26/4 đến 30/4/1975) - Sau khi xem tư liệu, HS trả lời chiến dịch Hồ Chí Minh được bắt đầu vào thời gian nào? Hãy kể 5 cánh quân cùng tiến công giải phóng Sài Gòn? Khí thế của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy? Chiến dịch kết thúc bằng sự kiện nào? - GV giới thiệu: Chúng ta vừa được sống trong không khí hào hùng của lịch sử dân tộc ... -Vậy tiến vào Dinh Độc Lập là lữ đoàn nào? * GV bổ sung thêm. -Yêu cầu HS làm việc nhóm đôi: Kể lại sự kiện lữ đoàn xe tăng của ta tiến vào Dinh Độc Lập. - GV theo dõi động viên các nhóm làm việc. - Đại diện nhóm trình bày sự kiện xe tăng của ta tiến vào Dinh Độc Lập. - Gv chốt ý, nhấn mạnh sự kiện xe tăng ta tiến vào Dinh Độc Lập và lá cờ cách mạng được cắm trên nóc Dinh Độc Lập. * Để tìm hiểu các nội dung còn lại của bài học GV cho Hs sắm vai đoạn hội thoại Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện (Thảo luận nhóm 3 gồm 3 nhân vật : Dương Văn Minh, chiến sĩ cách mạng, người dẫn chuyện.) -Thảo luận nhóm về ý nghĩa của chiến dịch. 13 - Hoạt động củng cố GV có thể cho Hs xem băng về Dinh Độc Lập ngày nay hoặc niềm vui giải phóng. Tóm lại, bên cạnh việc trú trọng dạy học theo hướng tích cực thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Lịch sử là một hướng đi đúng đắn. Công việc này nếu được GV áp dụng thường xuyên và hợp lí không chỉ giúp HS nắm vững kiến thức, mà còn làm cho HS thêm say mê, hứng thú yêu thích học môn Lịch sử. 6. Các giải pháp khác: Một trong ba đặc trưng của phân môn lịch sử đã chỉ ra rằng: Lịch sử qua đi nhưng không hoàn toàn biến mất mà còn để lại “dấu vết ” của nó qua kí ức của nhân loại như văn học dân gian, phong tục tập quán, lễ hội,.. qua các chứng tích lịch sử, các hiện tượng lịch sử, qua ghi chép của người xưa. Những chứng cứ vật chất đó chính là cơ sở để trình bày hay nhận thức về lịch sử. Vì vậy Gv cần phải hết sức quan tâm đến các hình thức tổ chức dạy học lịch sử đa dạng, tạo điều kiện để HS tiếp xúc với các nguồn sử liệu nói trên. Vì vậy có thể chia thành các nhóm giải pháp như sau: a . Gắn kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện lịch sử với việc dạy học phân môn Lịch sử: Trong quá trình trực tiếp giảng dạy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu về các ngày lễ lớn, các sự kiện lịch sử qua các hoạt động: đọc báo, xem truyền hình (các hình ảnh tư liệu), đài phát thanh … để giúp các em hiểu rõ, nắm sâu hơn về các sự kiện và nhân vật lịch sử. b . Gắn việc tham quan dã ngoại với việc tham quan bảo tàng, di tích lịch sử dâng hoa lên tượng anh hùng để các em cảm nhận được hồn sử: Tổ chức cho học sinh tham quan dã ngoại các di tích lịch sử -văn hóa, các cảnh đẹp ở địa phương, gặp gớ các cá nhân , tập thể trực tiếp tham gia vào những sự kiện lịch sử và hoạt động xã hội; tham quan các bảo tàng lịch sử để các em được trực tiếp nắm được các sự kiện, nhân vật lịch sử. c. Hướng dẫn học sinh cách học ở nhà: Việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh rất quan trọng. Giáo viên cần phải giải thích bài học lịch sử sắp tới để học sinh ở nhà có thể sưu tầm tài liệu, tranh ảnh liên quan để tham gia thảo luận, các em sẽ thích thú nếu được hướng dẫn tự sưu tầm tài liệu cho tiết học mới. 14 IV- KIỂM NGHIỆM: 1. Kết quả về chất lượng thu được: Ngay từ đầu năm học, tôi đã đưa sáng kiến vào áp dụng giảng dạy tại các lớp 5A, 5B, 5C của trường tiểu học thị trấn Cẩm Thủy. Kết quả thu được như sau: So với đầu năm chất lượng học tập của học sinh khi học phân môn Lịch sử đã tiến bộ rõ rệt. Số lượng học sinh có điểm kiểm tra thường xuyên là điểm khá, giỏi ngày càng tăng, chất lượng thi kiểm tra cuối kì I tăng rõ rệt. Cụ thể: Đối chiếu kết quả môn Lịch Sử HKI với chất lượng đầu năm. Lớp Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu Đầu năm Kì I Đầu năm Kì I Đầu năm Kì I Đầu năm Kì I 5A 24 13 20 03 04 08 0 \ \ 5B 26 11 16 05 07 10 03 \ \ 5C 20 05 07 06 09 09 04 \ \ 2. Kết quả về tình cảm với bộ môn: Trước đây, nhiều học sinh sợ khi đến giờ Lịch sử và không thích học Lịch sử. Đến nay, các em chờ đón được học một tiết sử hiếm hoi trong tuần với tất cả lòng nhiệt tình và hào hứng của mình, trong giờ học các em chăm chú, chủ động tiếp thu kiến thức. Các em đã coi mỗi giờ học là một cuộc tranh tài, một cuộc thi nho nhỏ để tìm ra kiến thức mới, bản thân tôi cũng thấy rất vui khi sau mỗi tiết học các em lại ghi chép các con số, sự kiện liên quan đến nội dung Lịch sử vừa học vào sổ tay của mình để nhớ và vận dụng sau này.Các em được trở lại khí thế hào hùng của dân tộc trước kia đã cách xa các em rất lâu. Từ đó làm cho các em thêm yêu quê hương, yêu đất nước hơn. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT. I- Kết luận: Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực đã khiến mối quan hệ thầy - trò trong nhà trường bắt đầu có sự thay đổi. Vị trí trung tâm của người thầy giáo không còn ở nghĩa truyền thống và đã bắt đầu dịch chuyển sang học sinh. Giáo viên không chỉ đơn thuần truyền thụ kiến thức cho học sinh tiếp nhận mà còn là sự phản ảnh trở lại của các em. Trong thời đại bùng nổ thông tin, khi học sinh có nhiều kênh tiếp nhận thông tin thì trường học phải là kênh duy nhất 15 truyền đạt kiến thức một cách có hệ thống, trong đó giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn. Trên quan điểm như vậy, cần khuyến khích mọi học sinh phải chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp để có thể hình dung trước những khái niệm, kiến thức sẽ phải tiếp thu và khắc sâu trong từng tiết học. Nhân cách con người không thể phát triển qua việc tiếp thu tri thức mà còn phát triển bằng hoạt động và trong các hoạt động của chính người ấy. Tính chất của hoạt động ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành nhân cách: hoạt động rập khuôn, bắt chước máy móc, học tập theo lối tái hiện sẽ cho kết quả là những con người chỉ biết thực hành theo mệnh lệnh, thiếu năng động, sáng tạo. Vì vậy muốn có những con người năng động, sáng tạo cần phải tổ chức các hoạt động vui chơi, học tập tích cực, sáng tạo. Muốn có những con người có năng lực hợp tác, có khả năng làm việc cùng đồng đội, cần tổ chức các hoạt động vui chơi, học tập theo nhóm, mang tính chất tập thể. Do đó việc đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình dạy học phân môn Lịch sử đã giúp học sinh: - Bồi dưỡng tình cảm, giáo dục thái độ: HS chủ động, sáng tạo; GV dạy học theo phương pháp nêu vấn đề, hướng dẫn, tổ chức hoạt động dạy học cho HS. - Học sinh hứng khởi tiếp thu bài, kiến thức được hình thành một cách vững chắc. Học sinh hiểu được giá trị của các sự kiện lịch sử trọng đại của nước ta, các em tự hào là người Việt Nam và có ý thức trách nhiệm đối với tiền đồ của đất nước. Tự hào và thích thú sẽ giúp các em nhớ lâu và càng muốn hiểu sâu thêm về lịch sử đất nước. - Bắt đầu tiết học nhẹ nhàng, tự nhiên phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học sẽ là yếu tố quan trọng lôi cuốn HS hiểu sâu, nhớ lâu và có cảm tình với môn học. Tất cả những kinh nghiệm và cách thức tổ chức dạy học trên đã góp phần hoàn thiện hơn nữa 4 mục tiêu mà tổ chức Quóc tế về Giáo dục UNECO đã chỉ ra về nền tảng của GD là: “Học để biết, học để làm, học để biết chung sống và học để làm người” II- Ý kiến đề xuất: Mỗi giáo viên cần xác định vai trò chủ đạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, trước hết phải tìm tòi phương pháp truyền đạt có hiệu quả, kích thích tích tư duy và sự sáng tạo của học sinh. Chủ động tự bồi dưỡng chuyên môn, tìm tài liệu chuẩn, phù hợp với nhận thức của học sinh để cung cấp cho các em như: Giáo viên thường xuyên theo dõi cập nhật những thông tin, những số liệu liệu sự kiện Lịch sử qua các phương tiện thông tin đại chúng (sách, báo phim ảnh, thư viện điện tử...) để có thể cập nhật tư liệu chính xác, đầy đủ, sinh động, gây hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập. Qua đó hướng dẫn học sinh sưu tầm tài liệu để chủ động sáng tạo trong tiếp thu kiến thức góp phần thực 16 hiện việc đổi mới phương pháp dạy học là tập trung vào cách dạy : Giúp HS có nhu cầu và biết cách tự học. Trong việc soạn giảng, giáo viên nên thiết kế bài bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng của môn học, bài học. Sắp xếp các hoạt động của giáo viên, học sinh một cách phù hợp đặc điểm của từng bài và sử dụng thiết bị dạy học: Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Cụ thể: Đối với những bài mới, khó trong chương trình, giáo viên cần thông qua họp tổ chuyên môn, thảo luận và thống nhất những nội dung trọng tâm cần truyền đạt cho học sinh và thống nhất những hoạt động của học sinh trong các mục của bài đó để phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của các đối tượng học sinh. Do đó để giúp học sinh có thể hiểu nắm được nội dung bài học một cách tích cực, giáo viên cần có cách tổ chức cho học sinh biết sưu tầm tư liệu, thông tin nhằm chuẩn bị cho bài học mới, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng đồ dùng thiết bị, phương tiện trực quan, thăm quan thực tế phục vụ cho tiết dạy đạt hiệu quả. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh cụ thể của các nhà trường hiện nay, nhiều nhà trường cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đặc điểm về nhận thức và chất lượng HS không đồng đều, nhiều em còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, chưa tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập. Điều đó đòi hỏi người giáo viên cần phải quan tâm hơn cho sự đổi mới phương pháp giảng dạy trong các giờ lên lớp , cụ thể phải chú ý một số vấn đề như sau: 1/ Cần phải có sự thay đổi tư duy trong quá trình dạy học. 2/ Do đặc trưng của bộ môn nên người giáo viên phải tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình nắm bắt kiến thức, tránh sự nhàm chán, căng thẳng trong mỗi giờ học, tích cực dạy học theo phương pháp đổi mới đặc biệt tập trung vào cách dạy để giúp HS có nhu cầu và biết cách tự học. 3/ Giúp học sinh nâng cao tính tự học, tham gia họat động nhóm đạt hiệu quả cao và cá thể hoá trong quá trình học tập. 4/ Nhà trường, chính quyền địa phương, gia đình học sinh cần tạo môi trường đẩy đủ nhắm phát triển toàn diện cho các em (kiến thức, kĩ năng, thái độ). Ngoài giờ học chính khoá nên có những buổi nói truyện về lịch sử, tham quan dã ngoại mang tính thực tế hơn. Sưu tầm và in ấn các tài liệu về các nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử của quê hương Thanh Hóa để GV có cẩm nang dạy tốt hơn các tiết Lịch sử địa phương. Bản thân tôi nghĩ, nếu làm được như vậy thì chúng ta sẽ gặt hái được kết quả đáng kể hơn trong việc dạy và học, đặc biệt đối với môn Lịch sử ở Tiểu học sẽ góp phần không nhỏ vào việc hình thành phẩm chất con người Việt Nam theo 5 điều Bác Hồ dạy đối với thiếu niên và nhi đồng, góp phần hình thành ở học sinh những phẩm chất cao đẹp của người Việt Nam trong thời đại mới. 17 Trong năm học vừa qua, với sự quan tâm của những người con quê hương Cẩm Thủy bác Hoàng Bằng là Chính ủy thuộc viện Khoa học và Công nghệ quân sự cùng các chiến sĩ trong đơn vị đã ủng hộ cho nhà trường một phòng máy vi tính hiện đại với 16 máy để phục vụ cho công tác dạy và học của nhà trường. Hội phụ huynh của các lớp đã tự nguyện mua sắm và lắp thêm cho phòng học lớp 2A một máy chiếu góp phần để bản thân tôi và các đồng nghiệp trong trường có thể ứng dụng tốt hơn việc dạy học bằng hình thức trình chiếu và cập nhật các tư liệu giáo dục. Đây cũng là một nhân tố góp phần đem lại sự thành công trong dạy học nói chung và dạy học môn Lịch sử nói riêng cho bản thân tôi và nhà trường. Trên đây là toàn bộ những kinh nghiệm bản thân tôi đúc rút trong quá trình giảng dạy để góp phần giúp học sinh lớp 5 học tốt hơn đối với phân môn Lịch sử. Thời gian nghiên cứu có hạn, kinh nghiệm của bản thân cũng chưa nhiều nên sáng kiến kinh nghiệm của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong BGH, hội đồng khoa học các cấp cùng các đồng nghiệp góp ý để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn góp phần dạy tốt hơn nữa phân môn Lịch sử trong những năm học tiếp theo. XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Hiệu trưởng …………………….. Cẩm Thủy, ngày 31 tháng 3 năm 2013 Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm do mình viết, không sao chép nội dung của người khác. NGƯỜI THỰC HIỆN Lê Thị Hà 18 MỤC LỤC: STT 1 2 NỘI DUNG A. Đặt vấn đề B. Giải quyết vấn đề I. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu II. Thực trạng của việc dạy học lịch sử ở trường tiểu học. III. Các giải pháp để nâng cao chất lượng.... 3 TRANG 1 IV. Kiểm nghiệm C. Kết luận và đề xuất 2 3 4-13 14 15- 17 19 Ý kiến đánh giá nhận xét của Hội đồng Khoa học ngành Giáo dục & Đào tạo huyện Cẩm Thủy và Hội đồng Khoa học các cấp. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. 20
- Xem thêm -