Một số biện pháp kinh tế chủ yếu sản xuất v

  • Số trang: 112 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
thanhdoannguyen

Đã đăng 6184 tài liệu

Mô tả:

1 LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Ngành thuỷ sản là một phân ngành của nông nghiệp theo nghĩa rộng. Sự phát triển của ngành thuỷ sản gắn liền với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Ngành thuỷ sản Việt Nam trong những năm gần đây không ngừng phát triển và lớn mạnh, đặc biệt là từ sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khỉa VII (năm 1993) đã xác định xây dựng ngành thuỷ sản thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Từ đó đến nay, ngành thuỷ sản nước ta luơn không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định vai trì to lớn trong quá trình hội nhập và phát triển đất nước. Đồng Tháp là tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL, dân số 1.639.400 người, diện tích tự nhiên 3.314 km2, có nguồn nước ngọt dồi dào với hệ thống kênh rạch chằng chịt, thuận lợi cho việc phát triển nghề nuơi trồng thuỷ sản. Nhằm khai thác hiệu quả những lợi thế mà thiên nhiên ưu đãi cho Tỉnh, Đảng bộ và các cấp chính quyền của Tỉnh đã xác định chiến lược phát triển ngành thuỷ sản, đặc biệt là sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu, là hướng đi đúng và cần thiết để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tính đến năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành thuỷ sản chiếm 50,43% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn Tỉnh, trong đó sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu chiếm vị trí hàng đầu. Sản xuất cá tra xuất khẩu phát triển đã kéo theo nhiều ngành phát triển như: chế biến thuỷ sản, thuốc thú y thuỷ sản, chế biến thức ăn, vận tải…và giải quyết một lượng lớn lao động dư thừa trong nông thôn Đồng Tháp lúc nông nhàn, nâng cao thu nhập, tăng thu ngân sách và thay đổi bộ mặt của người dân vùng nông thôn. 2 Tuy nhiên, phát triển sản xuất cá tra xuất khẩu ở Đồng Tháp hiện nay cũng thể hiện tính tự phát, thiếu sự phối hợp giữa các giải pháp về giống, thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản, thị trường… để đảm bảo phát triển bền vững và hiệu quả. Bên cạnh đó, hoạt động chế biến thuỷ sản phát triển một cách nhanh chóng, đã góp phần quan trọng vào khâu bảo quản và chế biến thành phẩm để xuất khẩu. Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc đổi mới công nghệ, tìm kiếm thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá chủng loại sản phẩm…nhưng các DNCBTSXK cũng còn bộc lộ những yếu kém như: Cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu chưa đáp ứng được điều kiện sản xuất; Sản phẩm cá tra chế biến xuất khẩu chưa đa dạng về chủng loại để có thể thâm nhập nhiều thị trường trên thế giới; Vấn đề mơi trường chưa được xử lý triệt để và đặc biệt là ATVSTP v.v…Những tồn tại, yếu kém trong cả sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu như nờu ở trên, đã làm hạn chế sự phát triển đồng bộ và bền vững của ngành thuỷ sản nói chung, sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu nói riêng của Tỉnh. Trước tình hình đó, mặc dù cũng đã có một số nghiên cứu nhằm giải quyết những vấn đề này, nhưng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về biện pháp kinh tế sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp. Chính vì vậy, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài “ Một số biện pháp kinh tế chủ yếu sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp từ nay đến năm 2020” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ là có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn tỉnh Đồng Tháp. 2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn Hệ thống hoá và luận giải rị một số cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất thuỷ sản xuất khẩu nói chung và sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu nói riêng; 3 Đánh giá đúng thực trạng sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp, phân tích và chỉ rị những kết quả, những hạn chế và nguyên nhân các vấn đề cần giải quyết; Đề xuất một số biện pháp kinh tế chủ yếu đẩy mạnh phát triển sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp từ nay đến năm 2020. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề kinh tế chủ yếu của sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp. Để phát triển một cách bền vững nghề sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu đòi hỏi phải nghiên cứu toàn diện những vấn đề kinh tế, tổ chức quản lý và kỹ thuật sản xuất; Nhưng đối tượng nghiên cứu của luận văn chỉ là những vấn đề kinh tế, hơn nữa là những vấn đề kinh tế chủ yếu cấp bách hiện đang đặt ra ở địa phương. Mặc dù việc trình bày những đặc điểm của sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu là cần thiết cho việc nghiên cứu những vấn đề kinh tế, nhưng do khuơn khổ hạn chế, vấn đề này cũng sẽ không được đề cập đến trong luận văn này. Luận văn được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến năm 2007 và định hướng đến năm 2020 4. Phương pháp nghiên cứu của luận văn - Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Là phương pháp nghiên cứu chung được sử dụng để xem xét, nghiên cứu những vấn đề cơ bản của đối tượng; các mối liên hệ tác động qua lại của hiện tượng nghiên cứu với những nhõn tố ảnh hưởng đến nỉ trong những điều kiện cụ thể về khơng gian và thời gian của quá trình vận động phát triển khơng ngừng từ quá khứ tới hiện tại và tương lai. - Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong việc thu thập, xử lý, phân tích các số liệu thống kê dựa trên các mối tương quan thống kê như số bình quân, số tương đối, số tuyệt đối… để xem xét các mối quan hệ 4 giữa các mặt, các yếu tố, các mối quan hệ tác động có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đối tượng nghiên cứu. Đối với đề tài này, nguồn số liệu thống kê được thu thập chủ yếu từ cơ quan quản lý các cấp ở Tỉnh như: Cục thống kê, sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng như một số Sở khác. Để có một số minh chứng chi tiết bằng các số liệu thống kê, đề tài cũng tiến hành thu thập cả nguồn số liệu ở cơ sở Huyện và Xã. - Phương pháp phân tích tổng hợp: Từ những số liệu và tài liệu đó được xử lý, sử dụng phương pháp này để phân tích và tổng hợp các kết quả phân tích, các đánh giá riêng lẻ để tìm ra mối quan hệ nhân quả, xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu trong tương lai; từ đó đề xuất được những biện pháp thích hợp và hiệu quả. - Phương pháp chuyên gia: Đối tượng nghiên cứu của đề tài này có nội dung rộng, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành cũng như các hộ, các doanh nghiệp. Hơn nữa, có rất nhiều thông tin định tính phản ánh bản chất sự vật lại không thể hiện qua số liệu thống kê. Phương pháp chuyên gia được sử dụng để thu thập các ý kiến của các nhà quản lý, của hộ và các doanh nghiệp theo những chủ đề hẹp liên quan đến từng khía cạnh kinh tế hay quản lý trong sản xuất, chế biến hoặc tiâu thụ, nhằm phục vụ cho mục đớch nghiên cứu chung của đề tài luận văn. Trong quá trình thực hiện, do đối tượng phỏng vấn là rất rộng nên để việc thu thập thông tin có kết quả như mong muốn, tác giả đã sử dụng công cụ chủ yếu là phiếu phỏng vấn với các câu hỏi mở để thu thập thông tin định tính từ những cán bộ quản lý hay những chuyên gia. Đối với các hộ nuôi và doanh nghiệp chế biến, tác giả đã thực hiện một số cuộc dó ngoại với thời gian ngắn, trực tiếp làm việc với một số hộ và doanh nghiệp điển hình để tìm hiểu những vấn đề có liên quan. 5. Nội dung nghiên cứu. 5 Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương chính như sau: Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu. Chương II: Thực trạng sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2004-2007. Chương III: Một số biện pháp kinh tế chủ yếu sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp từ nay đến năm 2020. 6 Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN CÁ TRA XUẤT KHẨU 1.1.Vai trò của sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu đối với nền kinh tế tỉnh Đồng Tháp Nghề nuơi cỏ da trơn nói chung và cá tra nói riêng đã hỡnh thành từ rất sớm vào những năm 1960 ở ĐBSCL với quy mĩ nhỏ, cung cấp thực phẩm tại chỗ. Vào thời điểm này nguồn giống chủ yếu được vớt trong tự nhiên. Đến năm 1997 với sự thành công trong nghiên cứu sinh sản nhõn tạo hai loài cá tra và ba sa, đã chủ động được nguồn cung cấp giống và đưa nghề nuơi cỏ da trơn phát triển lờn trình độ cao hơn từ nền sản xuất tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hoá. Trong thời gian này ở 13 tỉnh thành thuộc ĐBSCL và một số tỉnh phía Bắc bắt đầu nuơi cá tra, basa. Đặc biệt trong những năm gần đây, phong trào khai thỏc đất bói bồi ven sĩng để nuơi cá tra phát triển mạnh, góp phần làm tăng diện tích, năng suất và sản lượng cỏ nuơi. Tính đến năm 2007, ĐBSCL có tổng diện tích nuơi cá tra, basa khoảng 9.000 ha so với năm 2000, tăng gấp 10 lần và theo dự báo sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới. Sản lượng cá tra và basa của toàn vùng năm 2004 là 264.436 tấn, năm 2006 là 825.000 tấn đến năm 2007 sản lượng đạt khoảng 1,5 triệu tấn, bằng sản lượng quy hoạch của toàn vùng cho đến năm 2010 của ngành thuỷ sản. Các mĩ hỡnh nuơi phổ biến là ao hầm, lồng bố và đăng quầng. Tốc độ phát triển khỏ nhanh về diện tích, số người nuơi làm mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến mĩi trường, gõy nên dịch bệnh cho cỏ. Tình trạng bất cập nhất hiện nay là “nhà nhà nuơi cỏ” bất kể có đúng quy trình kỹ thuật hay khơng, đất và nguồn nước có phù hợp cho nuơi loại cỏ này hay không. Hậu quả là tình trạng chất lượng cỏ không đảm bảo do nhiễm hoá chất, vi sinh đã làm giảm chất lượng hàng xuất khẩu, ảnh hưởng đến khả năng tiâu thụ. Nhiều hộ nuôi nhỏ lẻ, manh mơn rất dễ gặp rủi ro khi thị trường tiâu thụ gặp khỉ khăn. 7 Cựng với sự phát triển mạnh mẽ về diện tích và sản lượng của nuơi cá tra, basa cho thị trường xuất khẩu, ngành công nghiệp chế biến loại cỏ này cũng phát triển một cách nhanh chỉng để có thể đáp ứng yâu cầu chế biến sản lượng cá tra, basa được sản xuất ra. Toàn vùng hiện có 70 nhà mỏy chế biến cá tra, basa xuất khẩu với công suất 1,5 triệu tấn, thì riêng Đồng Tháp và An giang đã có 34 nhà máy với công suất 301.000 tấn/năm. Tuy nhiên việc phát triển nhà máy chế biến chưa theo quy hoạch, điều này có thể dẫn đến rủi ro mất cân đối vùng nguyân liệu và thị trường xuất khẩu. Sản phẩm chế biến ra khoảng 80% là dành cho xuất khẩu nên phụ thuộc vào thị trường nước ngoài. Bờn cạnh đó các doanh nghiệp cũn phải đối mặt với nguy cơ kiện bỏn phá giỏ hay vi phạm các tiâu chuẩn về ATVSTP, mà những vấn đề này tỏc động không nhỏ đến sự phát triển, uy tớn của doanh nghiệp… Xuất khẩu cá tra, basa Việt Nam liên tục tăng, trong năm 2007, sản lượng đạt 383.200 tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt 974,12 triệu USD tăng 31% về sản lượng và 26,07% về kim ngạch so với năm 2006. Giỏ xuất khẩu mặt hàng cá tra đông lạnh của Việt Nam trung bỡnh là 2,58 USD/kg, giảm 0,017 USD/kg so với năm 2006 và tăng 0,2 USD/kg so với năm 2005. Theo dự báo năm 2008 giỏ xuất khẩu trung bỡnh của mặt hàng này sẽ tăng mạnh, nguyên nhân là do giỏ dầu thơ trên thế giới tăng nhanh sẽ làm tăng chi phí vận chuyển, đồng thời giỏ lương thực trên thế giới cũng liên tục tăng trong những thỏng đầu năm 2008. Tính đến năm 2007 Việt Nam xuất khẩu cá tra, basa sang 98 quốc gia trên thế giới, tăng thờm 15 thị trường mới so với năm 2006. Thị phần xuất khẩu năm 2007: EU tiếp tục là thị trường nhập khẩu cá tra, basa lớn nhất của Việt Nam, chiếm 42,20% về sản lượng và 40,13% về kim ngạch. Nga chiếm 11,17% về sản lượng và 8,28% về kim ngạch (giảm 25,9% về kim ngạch so với năm 2006 do Nga đã siết chặt rào cản về chất 8 lượng ATVSTP làm ảnh hưởng tới tốc độ xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam vào Nga). Các nước ASEAN chiếm 8,69% về sản lượng và 7,85% về kim ngạch, tuy chiếm một tỷ trọng khơng đáng kể nhưng đây lại là thị trường ít rủi ro nhất của cá tra xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới. Ucraina chiếm 6,1% về sản lượng và 4,1% về kim ngạch, đây là một thị trường mới của cá tra Việt Nam nhưng lại có tốc độ tăng trưởng cao nhất so với các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu cá tra. Hoa Kỳ và Hồng Kĩng lần lượt chiếm 3,55% và 3,26% về sản lượng 3,93% và 4,14% về kim ngạch, tuy chiếm một tỷ trọng khỏ khiâm tốn nhưng hai thị trường này lại là tiềm năng xuất khẩu cá tra của Việt Nam mà các doanh nghiệp chế của Việt Nam cần thâm nhập sâu hơn. Tính đến ngày 31 thỏng 12 năm 2007 tổng diện tích nuơi trồng thuỷ sản của tỉnh Đồng Tháp là 5.450 ha (trong đó nuơi cá tra bói bồi 650 ha, nuơi cá tra ao hầm 900 ha, nuơi cỏ khỏc và sản xuất giống là 3.200 ha, nuơi tĩm càng xanh là 700 ha). Sản lượng thuỷ sản cả năm đạt 236.120 tấn, trong đó sản lượng nuơi là 221.120 tấn (cá tra 200.000 tấn, cỏ khỏc 20.000 tấn, tĩm càng xanh 1.120 tấn). Giỏ trị nuơi trồng thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng lờn từ 353,3 tỷ đồng (chiếm 59,9% trong tổng giỏ trị nuơi trồng, khai thác và dịch vụ thuỷ sản) năm 2001 lờn 2799,4 tỷ đồng (chiếm 73,6%) năm 2007. Bờn cạnh đó sản xuất và chế biến thuỷ sản xuất khẩu cũn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hơn 52.450 lao động (tính đến thời điểm năm 2006), và đóng góp một phần đáng kể vào ngõn sách của Tỉnh. Hiện nay trên toàn tỉnh có 8 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu với tổng công suất cấp đông khoảng 220 tấn/ngày. Trong các mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Đồng Tháp, mặt hàng thuỷ sản đông lạnh có giỏ trị xuất khẩu lớn nhất. Điều này chứng tỏ vai trò to lớn của sản xuất và 9 chế biến thuỷ sản xuất khẩu nói chung và sản xuất, chế biến cá tra xuất khẩu nói riêng trong cán cân thương mại của Tỉnh, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đồng Tháp nói riêng và của đất nước nói chung. Bảng 1.1.: Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất nuôi trồng, khai thác và dịch vụ thuỷ sản của tỉnh Đồng Tháp Đơn vị tính: Tỷ đồng, % 2001 2005 2006 2007 Giá trị % Giá trị % Giá trị % Giá trị % Tổng giá trị SX 589,7 100 1672,8 100 2854,3 100 3805,4 100 Tr. đó:- Nuôi trồng 353,3 59,9 1214,6 72,6 1972,4 69,1 2799,4 73,6 - Khai thác 166,2 28,2 137,4 8,2 199,3 7,0 125,9 3,3 - Dịch vụ 70,2 11,9 320,8 19,2 682,6 23,9 880,1 23,1 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp Bảng 1.2.: Giá trị xuất khẩu các mặt hàng của tỉnh Đồng Tháp Đơn vị tính: Tr USD, % Năm 2004 2005 2006 2007 Giá trị % Giá trị % Giá trị % Giá trị % Tổng giá trị XK 114,6 100 170,6 100 239,6 100 290,2 100 1.Gạo 49,9 43,7 81,3 47,6 83,5 34,8 80.1 27,6 2.Thuỷ sản đông lạnh 37,8 33,0 59,7 35,0 118,1 49,3 148,1 51,0 3.Bánh phồng tôm 3,1 2,7 4,8 2,8 5,2 2,2 7,2 2,5 4.Quần áo may sẵn 12,5 10,9 10,7 6,3 7,5 3,1 8,7 3,0 5.Khác 11,2 9,7 14,1 8,3 25,3 10,6 46,1 15,9 Nguồn: Sở Thương mại Đồng Tháp 10 1.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới phát triển sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu 1.2.1.Nhân tố tự nhiên Thời tiết và khớ hậu là nhõn tố đầu tiân tỏc động đến quá trình sản xuất cá tra xuất khẩu, nếu thời tiết và khớ hậu thuận lợi với điều kiện sống của cỏ thì chơng sẽ sinh trưởng và phát triển tốt. Ngược lại, thời tiết và khớ hậu xấu chơng sẽ chậm lớn hoặc chết hàng loạt, gõy thiệt hại lớn cho người nuơi. ĐBSCL là vũng trũng thớch hợp để nuơi cá tra. Nhưng bờn cạnh đó, thuỷ triều đã xâm nhập mặn và tạo ra vùng sinh thái nước lợ khỏ rộng lớn làm ảnh hưởng tới diện tích nuơi cá tra, ảnh hưởng đến sản lượng chung của toàn vùng vỡ cá tra là loài cỏ sống nước ngọt. Lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm, vào mua khụ thì hạn hỏn hiện tượng xâm nhập mặn trên diện rộng và xuất hiện phốn khỏ phổ biến ở nhiều nơi. Khi nắng hạn với những cơn mưa đầu mùa lượng nước mưa thải xuống ao, hồ nuơi làm nguồn nước bị ô nhiễm, cá tra bị nhiễm bệnh và chết hàng loạt nếu không chữa trị kịp thời, sẽ làm giảm năng suất vụ nuơi. Tình hình ĩ nhiễm mĩi trường ở các vùng sản xuất tập trung (khu công nghiệp, khu dân cư,…). Trình trạng ơ nhiễm mơi trường diễn ra khỏ phổ biến do quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá phát triển khỏ nhanh. Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống xử lý nước thải khơng đúng quy cách. Ô nhiễm mĩi trường là mối trở ngại lớn nhất đối với nghề nuơi cá tra xuất khẩu. Tỏc động của mĩi trường sẽ giỏn tiếp làm tăng chi phí sản xuất, tăng giỏ thành và làm giảm chất lượng sản phẩm… Lũ lụt một mặt tạo ra nguồn lợi thuỷ sản và bồi đắp phù sa hàng năm cho vùng đồng bằng để phát triển sản xuất cây công, nông nghiệp, nhưng mặt khác cũng làm thiệt hại các công trình thuỷ lợi phục vụ cho việc nuôi cá tra xuất khẩu, gây thiệt hại cho người nuôi. Lũ lụt còn là nguyên nhân gây ô nhiễm 11 mĩi trường và phát tỏn dịch bệnh làm giảm hiệu quả sản xuất. 1.2.2. Nhân tố lao động Lao động là yếu tố không thể thiếu trong mọi quá trình sản xuất và kinh doanh trong đó có sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu. Lao động trong sản xuất cá tra xuất khẩu đòi hỏi phải có kỹ thuật cao, am hiểu về quy luật sinh trưởng và phát triển của chơng. Ngược lại, việc nuơi cá tra một cách ồ ạt, thiếu hiểu biết tối thiểu về kỹ thuật nuơi sẽ làm huỷ hoại mĩi trường suy kiệt nguồn lợi thuỷ sản và có thể bị phá sản. Trong chế biến cá tra xuất khẩu, lao động chủ yếu là nữ, đòi hỏi phải có sức khoẻ tốt có thể làm việc theo ca liên tục, phải có kỹ năng tương đối tinh xảo, khéo léo. Tuy nhiên những kỹ năng này có thể chỉ cần một thời gian ngắn là có thể đào tạo được cho người lao động nắm vững các quy trình sản xuất và vững tay nghề… Như vậy, lao động cũng là một yếu tố khỏ quan trọng trong quá trình sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu. Cho nân, những nhà quản lý cần sử dụng lao động một cách hợp lý, để phát huy tối đa nhõn lực này, nhằm phục vụ tốt nhất cho quá trình phát triển của ngành thuỷ sản nói chung và sản xuất, chế biến cá tra xuất khẩu nói riêng. 1.2.3. Nhân tố thị trường Nhõn tố thị trường có ảnh hưởng rất lớn và chi phối toàn bộ quá trình sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu. Thật vậy, trong bất kỳ một ngành nghề nào khi người sản xuất muốn sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó những câu hỏi cần đặt ra đối với họ là: sản xuất bao nhiâu? có thể bỏn được bao nhiâu? với giỏ như thế nào? bỏn cho ai? Và cung cầu hiện tại như thế nào? điều này đòi hỏi nhà sản xuất phải xác định rõ nhu cầu của thị trường. Bất kỳ sản phẩm nào được sản xuất ra đều phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường. Vì thế, sự biến động của thị trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển sản 12 xuất. Các nhõn tố tỏc động chủ yếu đến thị trường bao gồm: Sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế, sự thay đổi vị trí tương đối về chi phí và chất lượng của hàng hoá thay thế, hàng hoá bổ sung, khả năng xâm nhập đến các nhỉm khỏch hàng khỏc, sự thay đổi khẩu vị, sự thay đổi về thu nhập, lối sống và trình độ học vấn… Sự biến đổi của các nhõn tố trên có thể tỏc động cựng hoặc ngược chiều tới nhu cầu của thị trường. Ngoài ra, nhu cầu thị trường thuỷ sản nói chung, cá tra nói riêng, cũn chịu ảnh hưởng bởi tính chất mùa vụ và sản lượng sản xuất hàng năm khỏc nhau. Vào những thỏng đầu năm 2008, khả năng suy thoái nền kinh tế Mỹ có thể xảy ra, tình hình sản xuất và chế biến cá tra trong nước có nhiều biến động mạnh. Sự mất giỏ mạnh của đồng USD trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tình trạng thiếu tiền đồng đang diễn ra khỏ phổ biến ở nhiều ngân hàng thương mại, khiến việc chuyển đổi USD sang VND của các doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu gặp nhiều khỉ khăn. Đặc biệt là trong thu mua nguyân liệu cỏ cũng như trả lương cho công nhõn… Hậu quả là, nguồn nguyân liệu cỏ khổng lồ của người nuơi cũn phải nằm trong ao chờ giỏ hoặc bỏn đi với giỏ thấp chịu thua lỗ. Mặt khỏc, nếu muốn duy trì nuơi để chờ giỏ thì cũng phải trả giỏ khỏ đắt và vượt qua khả năng của người nuơi nhất là các hộ nuôi nhỏ lẻ, vốn ít. Trong khi đó, lói suất ngõn hàng tăng, giỏ thức ăn nguyân vật liệu thuỷ sản chủ yếu là nhập khẩu cũng tăng vọt…Rị ràng là, yếu tố thị trường có vị trí đặc biệt quan trọng đối với người nuơi và các doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu. 1.2.4. Nhân tố vốn Ngành thuỷ sản cũng như các ngành nghề khỏc muốn sản xuất kinh doanh thì trước hết cần phải có tư liệu sản xuất: giống, đất đai, máy mỉc thiết 13 bị, nhà xưởng, các yếu tố đầu vào,… để phục vụ cho quá trình sản xuất. Như vậy, cần phải có vốn để đáp ứng các nhu cầu trên thì quá trình sản xuất và kinh doanh mới có thể thực hiện được. Vốn có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu. Nếu thiếu vốn thì các cơ sở nuơi khơng thể cho ra nguồn nguyân liệu kịp thời và đạt yâu cầu chất lượng. Các DNCBTSXK không thể đầu tư máy mỉc trang thiết bị hiện đại để đưa vào sản xuất nếu như thiếu vốn, mà yâu cầu của các nước nhập khẩu thì rất khắt khe đối với hàng thuỷ sản nhập khẩu vào nước mỡnh như EU, Mỹ, Nhật… Cho nân ngành thuỷ sản có thể phát triển hay khơng là cũn phụ thuộc vào nguồn vốn phục vụ của ngành. 1.2.5. Nhân tố công nghệ Công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất và chế biến thuỷ sản xuất khẩu vỡ: Về công nghệ giống: Giống là một yếu tố đầu vào rất quan trọng có thể ảnh hưởng đến cả quá trình sản xuất và chế biến thuỷ sản xuất khẩu. Nếu công nghệ giống lạc hậu, không có chọn lọc để lai tạo thì sẽ cho ra một thế hệ con giống không tốt, bị cận huyết (thoái hoá giống), bệnh tật… sẽ gõy khỉ khăn cho người nuơi và các doanh nghiệp chế biến để xuất khẩu. Nếu áp dụng cách lai tạo có chọn lọc và khoa học thì sẽ cho ra một thế hệ con giống khoẻ mạnh ít bệnh tật, tiết kiệm được nhiều chi phí cho người nuơi và thuận lợi cho các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu, vỡ ít dựng thuốc đặc trị, dư lượng khỏng sinh trong cỏ sẽ giảm, chất lượng thịt cỏ sẽ đạt yâu cầu xuất khẩu sang một số số thị trường khỉ tính như Mỹ, EU và Nhật… Về công nghệ sau thu hoạch: Đó là công nghệ vận chuyển, chế biến, bảo quản sản phẩm. Thuỷ sản là loại hàng dễ bị ơi thối, đặc biệt nhanh hư hỏng khi nhiệt độ không khớ tăng cao ở các xứ nhiệt đới như nước ta. Bảo 14 quản sau thu hoạch đối với thuỷ sản là rất quan trọng, do đó công nghệ làm lạnh luơn đi liền với chế biến thuỷ sản[24 - 168]. Nếu như các DNCBTSXK với trình độ công nghệ thấp, lạc hậu thì không có sự đa dạng hoá về mẫu mã, kiểu dỏng, không có khả năng nâng cao chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất tăng, giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường. Muốn cho ngành chế biến thuỷ sản xuất khẩu phát triển thì phải nâng cao đầu tư, cải tiến công nghệ. Có thể nói cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo nên những thay đổi lớn, tạo ra những bước đột phá về công nghệ trong lĩnh vực chế biến thuỷ sản. Nếu chỉ tính riêng trong lĩnh vực cấp đông đã có những thay đổi đáng kể, từ cấp đông bằng khơng khớ lạnh đến cấp đông bằng bằng tủ đông tiếp xơc, rồi đến cấp đông bằng tủ đông băng chuyền, sau đó thay thế bởi phương pháp cấp đông bằng khơng khớ hoá lỏng và gần đây là dây chuyền công nghệ cấp đông rời (IQF). Đây là công nghệ cấp đông hiện đại nhất hiện nay. Theo công nghệ cấp đông này thì các cỏ thể thực phẩm trong khi cấp đông có sự liên kết lại với nhau do quá trình kết tinh của nước. Vì vậy làm đông theo phương pháp này sẽ khơng làm tăng kích thước của thực phẩm như phương pháp cấp đông khối, nên thời gian làm đông ngắn, tiết kiệm được nhiều chi phí hơn so với các phương pháp cấp đông khác [1]. Bờn cạnh đó, nước thải được thải ra từ các nhà máy chế biến thuỷ sản cũng là một mối lo gõy ô nhiễm, phá huỷ cảnh quan mĩi trường sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến người dân. Việc đầu tư công nghệ trong xử lý nước thải của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản được nhập khẩu và sản xuất trong nước như: Công nghệ xử lý nước thải sinh học hiếu khớ, yếm khớ và các phương pháp vi sinh, hoá lý… Đây cũng là một số chỉ tiâu để tiến đến hệ thống quản lý chất lương HACCP, ISO, GMP… là tiâu chuẩn đầu tiân để các DNCBTSXK có thể xuất khẩu thuỷ sản sang một số thị trường khó tính có 15 yâu cầu cao về chất lượng sản phẩm như Mỹ, EU và Nhật… Công nghệ sản xuất thức ăn thuỷ sản: Trong những năm gần đây sản lượng nuơi trồng thuỷ sản của nước ta tăng nhanh đạt 12% /năm. Năm 1991 sản lượng nuơi thuỷ sản là 168.104 tấn đến năm 2006 đã tăng lờn 1.964.000 tấn, đóng góp trên 40% tổng sản lượng thuỷ sản của cả nước. Năng suất nuơi trên một đơn vị diện tích tăng gấp 3 lần trong thời gian qua, do vậy nhu cầu thức ăn thuỷ sản ngày càng tăng cao [27]. Trước kia thức ăn trong nuôi thuỷ sản chủ yếu là do tự chế từ các nguồn thức ăn phụ phẩm như cá tạp, rau xanh, tấm, cám,…Những nguồn thức ăn này sử dụng trong nuôi thuỷ sản công nghiệp thì không đạt hiệu quả kinh tế cao. Loại thức ăn này có đặc tính dễ tan trong nước, thức ăn cá ăn không hết sẽ lắng xuống đáy dễ gây ô nhiểm nguồn nước, tăng nguy cơ mắc bệnh ở cá, thời gian nuôi sẽ kéo dài năng suất nuôi kém. Hiện nay, người ta đã áp dụng công nghệ sản xuất thức ăn dạng viên cho cá. Với cấu trúc thức ăn dạng viên nổi trên mặt nước, lượng thức ăn dư thừa giảm, nguồn nước cũng hạn chế bị ô nhiễm dịch bệnh cũng ít phát sinh. Loại thức ăn này đảm bảo đủ dưỡng chất cho từng giai đoạn phát triển của cá (giai đoạn cá con, cá vừa và cá xuất thịt). Việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất thức ăn thuỷ sản là một bước đột phá khá mạnh mẽ làm tăng năng suất trong nuôi thuỷ sản, phù hợp hơn trong nuôi công nghiệp, rút ngắn thời gian nuôi, tiết kiệm được nhiều chi phí…Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn thuỷ sản còn đầu tư, sử dụng những công nghệ mới vào sản xuất thức ăn cho vật nuôi. Trong đó có công nghệ thức ăn thay thế thuốc kháng sinh nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu về ATVSTP đặc biệt là đòi hỏi rất cao của thị trường các nước phát triển như Mỹ, EU,…hạn chế dư lượng kháng sinh. Với công nghệ này ngành thuỷ sản 16 sẽ không rơi vào trình trạng bị động và căng thẳng vì những lệnh cấm sử dụng kháng sinh hay cảnh báo về dư lượng kháng sinh [9]. 1.2.6. Nhân tố chính sách Chính sách là tổng thể các biện pháp kinh tế và những biện pháp khỏc của Nhà nước từ Trung ương đến điạ phương, tỏc động đến các ngành, lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến những ngành nghề mà chính sách cần tỏc động nhằm đạt được những mục tiâu nhất định với những điều kiện thực hiện nhất định và trong một thời gian xác định[11]. Chính sách tỏc động đến sự phát triển của sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu bao gồm các chính sách: Chính sách sử dụng đất trong nuơi và chế biến cá tra xuất khẩu, chính sách thuế, chính sách đầu tư, chính sách tớn dụng, chính sách giỏ cả,… Sự phát triển của ngành thuỷ sản xuất khẩu nói chung và sản xuất, chế biến cá tra xuất khẩu nói riêng đã tỏc động khơng nhỏ đến tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề trong xã hội. Nỉ khơng những đã tạo thờm nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân mà nỉ cũn tỏc động đến nền kinh tế vĩ mĩ Trong thời gian vừa qua, ngành thuỷ sản Việt Nam phát triển nhanh chỉng là do nhiều nguyân nhõn, song trong đó sự tác động tích cực của chính sách Nhà nước có vai trì to lớn. Vớ dụ: Nhà nước rót 1.000 tỷ đồng để cứu nghề nuơi và sản xuất cá tra xuất khẩu của các tỉnh ĐBSCL trong thỏng 06 năm 2008, tuy khơng đáng kể nhưng cũng đã giải quyết phần nào về vốn đối với ngành nghề này trong giai đoạn lạm phát của Việt Nam hiện nay. 1.3. Những đặc điểm cơ bản của một số thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam Trong những thập kỷ trở lại đây, người tiâu dựng trên thế giới đã nhận 17 thức được lợi ích của việc tiâu dựng sản phẩm thuỷ sản. Việc quan tâm đến chế độ dinh dưỡng tốt cho sức khoẻ và ngăn ngừa bệnh tật đã làm gia tăng mức tiâu dựng thuỷ sản trên toàn thế giới. Chõu Âu (EU), Mỹ, Nhật, Nga, Hồng Kĩng,…là những thị trường tiâu thụ thuỷ sản mạnh trên thế giới, là mục đích hướng tới của xuất khẩu thuỷ sản từ những nước đang phát triển ở Châu Mỹ Latinh, Châu Á trong đó có Việt Nam. Sau đây là những đặc điểm cơ bản của một số thị trường nhập khẩu thuỷ sản nói chung và cá tra nói riêng của Việt Nam. 1.3.1. Đặc điểm thị trường EU Liên Minh Chõu Âu (EU) tính đến thỏng 01/01/2007 gồm 27 thành viân, diện tích là 4.422.773km2 với dân số là 492,9 triệu người, thu nhập bỡnh quân 22.400EUR/năm. Năm 2006 GDP của Chõu Âu là 11,6 nghìn tỷ EUR, ước tính năm 2007 sẽ đạt 15,7 nghìn tỷ EUR. EU cũng là một trung tâm thương mại, tài chính khổng lồ đứng đầu thế giới. - Về tập quán, thị hiếu tiêu dựng: EU là một thị trường rộng lớn. Thị trường EU thống nhất cho phép tự do di chuyển sức lao động, hàng hoá dịch vụ và vốn giữa các thành viân với nhau. Mỗi quốc gia thành viân trong EU lại có đặc điểm tiâu dựng rất riêng. Do vậy, có thể thấy rằng thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phơ về hàng hoá và dịch vụ. Đối với mặt hàng thuỷ sản, thị trường EU không tiâu dựng những sản phẩm nhập khẩu bị nhiễm độc có tỏc động đến mĩi trường hoặc có chất phụ gia không được phộp sử dụng. Đối với những sản phẩm thuỷ sản chế biến, người tiâu dựng EU chỉ sử dụng những sản phẩm đóng gói có ghi rị tờn sản phẩm, nơi sản xuất, các điều kiện bảo quản và sử dụng, mó số mó vạch. Người tiâu dựng EU tẩy chay các loại hàng thuỷ sản nhập khẩu có chứa Salmonella, độc tố Lustamine, nhiễm V. Pharahaemoliticus, nhiễm V.Cholarae. Người tiâu dựng EU có nhu cầu ngày càng cao đối với các sản 18 phẩm thuỷ sản sạch, bảo vệ mĩi trường sinh thái. Hiện nay các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam vào EU đang bị rào cản kỹ thuật khắt khe khống chế nên gặp nhiều khỉ khăn [13 – 91, 92] - Kênh nhập khẩu và phân phối hàng thuỷ sản trong khối EU rất phức tạp, với sự tham gia của rất nhiều thành phần (các công ty đa quốc gia, hệ thống các cửa hàng, siâu thị, các công ty bỏn lẻ độc lập,…). Do đó, các DNCBTSXK nói chung và xuất khẩu cá tra nói riêng cần nắm rị những đặc điểm của kênh phân phối và đầu mối nhập khẩu để có những biện pháp xâm nhập thị trường đạt hiệu quả cao nhất. - Hàng rào phi thuế quan (hàng rào kỹ thuật): Là quy chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiâu dựng EU. Có 5 tiâu chuẩn bắt buộc của sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam vào EU (thuỷ sản, nông sản thực phẩm và dược liệu): Tiâu chuẩn chất lượng, tiâu chuẩn về vệ sinh thực phẩm, tiâu chuẩn về an toàn cho người sử dụng, tiâu chuẩn bảo vệ mĩi trường, tiâu chuẩn về lao động. + Tiêu chuẩn chất lượng: Hệ thống quản lý ISO 9000 gần như là yâu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường EU. Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 dựa trên nền tảng tiâu chuẩn hoá đến từng chi tiết và toàn bộ quá trình từ thiết kế sản xuất, lắp đặt, vận hành và dịch vụ. Bộ tiâu chuẩn ISO 9000 chơ trọng vào việc phìng ngừa những khuyết tật về chất lượng. Với những ưu điểm mà tiâu chuẩn này mang lại, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra của Việt Nam điều áp dụng tiâu chuẩn này. Khi thực hiện ISO 9000, tức là các doanh nghiệp đã đáp ứng được yâu cầu của khỏch hàng, tháo gỡ hàng rào mậu dịch và có thể thâm nhập thị trường một cách dễ dàng hơn. Không chỉ dừng ở đó, ISO 9000 cũn giúp cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả nhờ tăng năng suất và giảm chi phí (chi phí sản 19 phẩm hỏng và xử lý sản phẩm không phù hợp, giảm các chi kiểm tra,…) tiết kiệm cho doanh nghiệp và khỏch hàng, tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp. + Tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm: EU đòi các DNCBTSXK sang thị trường này phải tuân thủ nghiâm ngặt, chặt chẽ tiâu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Đặc biệt là áp dụng hệ thống HACCP (Hazard Analysis And Critical Control Point) hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn. Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam điều áp dụng hệ thống HACCP để phìng ngừa, đảm bảo ATVSTP. Đối với nhiều thị trường như các nước EU, HACCP là yâu cầu bắt buộc của các hàng thuỷ sản nhập khẩu. Do vậy, các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam chưa áp dụng hệ thống quán lý chất lượng HACCP sẽ không thể xuất khẩu sang thị trường EU được. HACCP là hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát các khâu trọng yếu được thiết kế riêng cho ngành công nghiệp thực phẩm và các ngành có liên quan. Thông qua việc phân tích các mối nguy cơ có thể gõy mất ATVSTP trong tất cả các công đoạn sản xuất, từ đó thực hiện các biện pháp kiểm soát tại các điểm có nguy cơ cần được kiểm soát để ngăn ngừa mất ATVSTP. Tiâu chuẩn HACCP cũng được coi là giấy chứng nhận hành nghề thể hiện uy tớn, chất lượng sản phẩm và độ tin cậy của các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra sang thị trường EU. + Tiêu chuẩn bảo vệ môi trường: Các quy định về mơi trường của EU đối với sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu nằm trong hệ thống Luật sản phẩm của liên minh Chõu Âu EU. Luật này nhằm mục đớch bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và mĩi trường sinh thái. Quy định về mĩi trường của EU rất nghiâm ngặt bao gồm những quy 20 định liên quan trực tiếp, giỏn tiếp đến mĩi trường. Khi xuất khẩu hàng hoá sang thị trường này, ngoài các giấy tờ, chứng chỉ chứng nhận về vệ sinh dịch tễ, ATVSTP,…hàng hoá có liên quan đến mơi trường phải dỏn nhón theo quy định (nhón sinh thái, nhón tái sinh) và có chứng chỉ được quốc tế công nhận. + Tiêu chuẩn về lao động: EU cấm nhập khẩu những hàng hoá mà trong quá trình sản xuất doanh nghiệp sử dụng bất kỳ một hỡnh thức lao động cưỡng bức nào như đuợc xác định trong Hiệp ước Geneva (25/09/1926 và 07/09/1956) và các Hiệp ước lao động quốc tế số 29 và 105, như lao động từ nhõn, lao động trẻ em,…[13 - 112] + Tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng: EU quy định hàng hoá thực phẩm, đồ uống đóng gói khi nhập khẩu vào EU phải ghi rị tờn sản phẩm, nhón mỏc, danh mục các thành phần, trọng lượng rìng, thời gian và cách sử dụng, địa chỉ của nước sản xuất hoặc nơi bỏn, nơi sản xuất, các điều kiện đặc biệt để bảo quản, để chuẩn bị sử dụng hoặc các thao tỏc bằng tay, mó số mó vạch để nhận dạng lĩ hàng.[13 - 111] Tỉm lại, hàng thuỷ sản xuất khẩu nói chung và cá tra xuất khẩu nói riêng của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU chiếm một thị phần khỏ khiâm tốn, cũn cách quá xa tiềm năng. Nguyên nhân chủ yếu là do hàng rào kỹ thuật của nước nhập khẩu quá cao nhằm bảo hộ hàng hoá trong nước. Mặt khỏc, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam chưa nắm rị quy trình, hoặc cố tình gian lận trong việc xuất khẩu sang thị trường này. Hậu quả là hàng bị trả về, tổn thất về kinh tế, điều quan trọng nhất là làm ảnh hưởng đến uy tớn hàng thuỷ sản Việt Nam đối với thị trường này. 1.3.2. Đặc điểm thị trường Mỹ Hoa Kỳ (Mỹ) là một quốc gia Bắc Mỹ với diện tích 9.161.923km2, với dân số 295.734.134 người (tính đến 07/2005), là nước đông dân đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ. Nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế thị
- Xem thêm -