Mot so bien phap giao duc hanh vi van minh cho tre 5-6 tuoi thong qua hoat dong lam quen van hoc

  • Số trang: 26 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 103 |
  • Lượt tải: 0
dinhthithuyha

Đã đăng 3359 tài liệu

Mô tả:

ĐẶT VẤN ĐỀ “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của mỗi dân tộc, đất nước. Trẻ em hôm nay là những công dân của thế giới mai sau. Bảo vệ và chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội và của mỗi gia đình. Trong giáo dục thì giáo dục những hành vi văn minh cho trẻ là không thể thiếu được. Những hành vi của trẻ có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của trẻ đến môi trường xung quanh ( Thế giới tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình). Đối với trẻ thơ, việc hình thành những hành vi ban đầu có ý nghĩa vô cùng to lớn. Chẳng thế mà tục ngữ Việt Nam có câu: “Uốn cây từ thủa còn non Dạy con từ thủa con còn thơ ngây”. Thói quen có hành vi văn minh lịch sự là nền tảng đạo đức của mỗi con người, là hành vi văn hóa. Ngay từ nhỏ trẻ cần được uốn nắn, giáo dục từ cử chỉ, lời nói, hành động văn minh, lịch sự thì lớn lên trẻ mới trở thành người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Làm thế nào để giáo dục cho trẻ những hành vi văn minh đạt kết quả cao? Đối với trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ mầm non những lời giảng giải, giải thích đơn thuần không đem lại hiệu quả cao trong giáo dục do đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở lứa tuổi này dễ nhớ nhanh quên. Mặt khác những lời rao giảng thường gây cho trẻ áp lực tâm lý, trẻ căng thẳng trong quá trình tiếp nhận vì thế quá trình chuyển đổi từ kiến thức thành nhận thức, từ nhận thức tới hành động, từ hành động thành thói quen không được thực hiện trọn vẹn. Là một giáo viên nhiều năm kinh nghiệm dạy lớp mẫu giáo lớn, tôi nhận thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc giáo dục hành vi văn minh cho trẻ. Tôi đã trăn trở suy nghĩ, tìm tòi làm thế nào để trẻ hiểu “Hành vi văn minh là gì?”, “Vì sao phải giáo dục hành vi văn minh cho trẻ?”, “Làm thế nào để dục hành vi văn minh cho trẻ?. Bởi ở lứa tuổi này ta không thể đem những lý thuyết khô khan để rao giảng cho trẻ hiểu. Tư duy của trẻ ở giai đoạn này là tư duy “trực quan hình tượng”.Trẻ học mà chơi – chơi mà học, trẻ chỉ tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm khi được truyền đạt một cách dễ hiểu, gần gũi với trẻ. Nhân cách con người “làm quen văn học” là một hoạt động không thể thiếu đối với trẻ ở lứa tuổi mầm non, vì thông qua các hoạt động làm quen với các tác phẩm văn học, trẻ được làm quen với những ngôn từ chuẩn mực, những ngôn ngữ, hành vi không thể thiếu được trong giao tiếp, trong đời sống con người. Đặc biệt nó rất gần gũi với trẻ thơ từ buổi đầu thơ ấu trẻ đã sống trong không khí lời ru “ầu ơ” đầy yêu thương của mẹ, bà… và đó là cánh cửa mở ra chân trời nhận thức cho trẻ. Từ khi lọt lòng mẹ đến lúc chập chững tập đi, tập nói, đến lúc trẻ biết viết, đọc thì văn học là chiếc cầu nối, là phương tiện dẫn dắt trẻ. Qua những câu truyện kể - bài thơ là tấm gương mẫu mực về nhận thức, hành vi cho trẻ học tập là phương tiện hữu hiệu trong việc giáo dục trẻ lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước, tình yêu mến bạn bè, với những người thân, biết được việc làm tốt – xấu, biết yêu cái đẹp , cái thiện, ghét cái ác, phê phán những việc xấu và còn là phương tiện hình thành các phẩm chất đạo đức trong sáng. 1 Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn thơ – truyện để giáo dục hành vi văn minh cho trẻ. Qua thời gian thực hiện, tôi nhận thấy các bài thơ, câu chuyện có sự tác động rất lớn đến nhận thức của trẻ. Các hình tượng nhân vật có sức hấp dẫn đã lôi cuốn trẻ, khiến trẻ yêu thích, từ đó trẻ thích học theo, bắt chước các việc làm, hành động của nhân vật.Từ việc thích bắt chước dần dần tạo cho trẻ thói quen ,thói quen đi vào nhận thức và trở thành sự tự ý thức. Qua quá trình áp dụng vào thực tiễn, tôi đã nghiên cứu và đưa ra được một số biện pháp, đó là nguyên nhân tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giáo dục hành vi văn minh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học ở Trường mầm non B thị trấn Văn Điển”. * Mục đích nghiên cứu : Đánh giá thực trạng giáo dục hành vi văn minh cho trẻ tại lớp mẫu giáo lớn A1 – Trường Mầm non B Thị Trấn Văn Điển. * Đối tượng nghiên cứu: Tôi đi sâu nghiên cứu các bài thơ, câu chuyện. * Phạm vi nghiên cứu : Lớp MGL A1 trường MN B thị trấn Văn Điển – Thanh Trì – Hà Nội * Kế hoạch nghiên cứu: - Từ 5/9/2013 đến 20/9/2013: Chọn đề tài và trang bị lý luận - Từ 20/9/2013 đến 1/4/2013: Tiến hành nghiên cứu và áp dụng các biện pháp giáo dục hành vi văn minh cho trẻ qua thơ – truyện. - Từ 1/4/2014 đến 10/4/2014: Phân tích kết quả và viết sáng kiến kinh nghiệm 2 GIẢI QUYẾT VẪN ĐỀ I. Cơ sở lý luận: - Khái niệm “hành vi”: + “Hành vi” là cách ứng xử của con người đối với một sự vật, một sự kiện, một hiện tượng trong hoàn cảnh, tình huống cụ thể. + Những người theo chủ nghĩa hành vi quan niệm, hành vi chỉ đơn thuần là tổng các phản ứng máy móc đáp lại kích thích, họ cho rằng có kích thích là có phản ứng. Họ coi hành vi chỉ là các cử động bên ngoài hoàn toàn không liên quan gì tới ý thức được coi là cái bên trong. Với họ hành vi được thực hiện không có sự tham gia của chủ thể, của nhân cách, chủ thể không kiểm soát được hành vi của mình. - Khái niệm “văn minh”: “văn minh” là một quy tắc ứng xử. => Vậy hành vi văn minh là các ứng xử của con người đối mọi sự vật hiện, hiện tượng phải tuân theo một quy tắc. Hiểu trẻ là điều kiện tiên quyết để giáo dục trẻ có hiệu quả. Nhà giáo dục K.Đ.Usinxki đã nói: “Muốn giáo dục con người thì phải hiểu con người về mọi mặt”. Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5 tuổi và bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi , tôi đã xác định những hành vi văn minh cần cho trẻ như sau: - Hành vi văn minh trong giao tiếp: + Có thói quen chào hỏi, cám ơn, xin lỗi và xưng hô lễ phép với người lớn, phù hợp với tình huống. + Không nói tục chửi bậy. + Chăm chú lắng nghe người khác, đáp lại bằng cử chỉ, nét mặt, ánh măt phù hợp và chờ đến lượt trong trò chuyện. + Không nói leo, không ngắt lời người khác. + Biết hỏi han quan tâm, giúp đỡ người khác. - Hành vi văn minh trong ăn uống: + Không nói chuyện khi ăn. +Biết nhặt cơm rơi vãi bỏ vào đĩa. + Khi ăn không nhai nhồm nhoàm, không nuốt vội, phải nhai từ tốn. + Không xúc quá đầy hoặc giành hết thức ăn cho riêng mình, không bỏ dở suất ăn. + Biết và không ăn những thứ có hại cho sức khỏe. + Biết dùng tay, khăn che miệng khi ho, ngáp, hắt hơi, hỉ mũi… - Hành vi văn minh nơi công cộng: + Biết giữ vệ sinh nơi công cộng, có thói quen chăm sóc giữ gìn cảnh đẹp thiên nhiên môi trường sạch sẽ. + Có hành vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày như vứt rác đúng nơi qui định, không ngắt lá bẻ cành, dẵm lên cỏ. + Thói quen thực hiện các qui định giao thông: đi bộ trên vỉa hè, đi sang đường đúng nơi qui định, ngồi trên các phương tiện giao thông đảm bảo an toàn. Các cháu mầm non, tâm hồn trẻ như tờ giấy trắng, nếu khéo vẽ thì tròn, còn không khéo thì méo mó. Là một giáo viên mầm non nhiều năm dạy lớp mẫu giáo lớn tôi cũng suy nghĩ nhiều về vấn đề đó, tôi nghĩ mình cần phải đầu tư nhiều vào việc giáo dục những hành vi văn minh cho các cháu tô điểm vào tâm hồn các cháu những cái hay cái đẹp, để các cháu trở thành những bông hoa thơm 3 ngát, là người có hành vi văn minh lịch sự. II. Cơ sở thực tiễn: 1. Đặc điểm chung: Trường mầm non B thị trấn Văn Điển là một trường mầm non có bề dày thành tích trong nhiều năm. Nhiều giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp huyện, thành phố. Năm học 2013-2014, tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo lớn lớn A1 với sĩ số 45 học sinh. Trong khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này từ tháng 9/2013 đến tháng 4/2014 tôi gặp phải những thuận lợi và khó khăn sau: 1.1 Thuận lợi: - Tình hình chung: + Lớp khang trang, sạch sẽ, thoáng mát được trang bị cơ sở vật chất. + Ban giám hiệu luôn quan tâm giúp đỡ, bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao các điều kiện CSVS động viên khích lệ giáo viên phát huy hết khả năng sáng tạo. - Giáo viên: + 3/3 cô có trình độ trên chuẩn, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ. + Bản thân là giáo viên phụ trách lớp MGL nhiều năm, nắm bắt và hiểu rõ được đặc điểm tâm lý, nhận thức của trẻ. - Học sinh: Trẻ nhanh nhẹn, hoạt bát, thích giúp đỡ cô trong các công việc của lớp. - Phụ huynh: Đa số phụ huynh đều quan tâm đến việc học của con nên rất thuận lợi cho việc tuyên truyền kết hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường. 1.2 Khó khăn: - Cơ sở vật chất: + Các tài liệu chuyên môn về phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục hành vi văn minh cho trẻ còn nằm rải rác ở nhiều nơi, nhiều loại nên việc sưu tầm tìm kiếm gặp khó khăn. - Giáo viên: Phải sáng tạo, sử dụng các biện pháp một cách linh hoạt để dạy trẻ đáp ứng yêu cầu của chương trình và những thay đổi của xã hội. - Học sinh: + Có một số học sinh yếu, hay nghỉ học nên gặp khó khăn trong việc cung cấp các kiến thức và rèn luyện cho trẻ. + Nhiều trẻ được gia đình chiều, được bố mẹ, ông bà ở nhà làm hộ mọi việc nên trẻ ỉ lại. - Phụ huynh: Còn một số phụ huynh chưa được tiếp cận nên nhận thức về vai trò của việc giáo dục hành vi văn minh cho trẻ còn hạn chế nên việc phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh còn gặp khó khăn. Với những khó khăn trên tôi đã nghiên cứu, áp dụng các biện pháp khắc phục, sửa đổi và giáo dục trẻ một cách đúng đắn nhất. 2. Đánh giá thực trạng kỹ năng thể hiện hành vi văn minh của trẻ lớp A1: * Mục đích: - Giáo viên đánh giá được kỹ năng thể hiện hành vi văn minh của trẻ trong lớp mình phụ trách để phân loại kỹ năng thể hiện hành vi văn minh của trẻ trong lớp từ đó xây dựng kế hoạch và áp dụng các biện pháp phù hợp với trẻ. * Cách làm: 4 Căn cứ vào khung chương trình giáo dục mầm non, bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, đặc điểm phát triển của trẻ, tôi đã xác định các tiêu chí đánh giá kỹ năng thể hiện hành vi văn minh của trẻ dựa trên các tiêu chí sau: - Tiêu chí 1: Các hành vi văn minh trong giao tiếp. + Có thói quen chào hỏi, cám ơn, xin lỗi và xưng hô lễ phép với người lớn, phù hợp với tình huống. + Không nói tục chửi bậy. + Chăm chú lắng nghe người khác, đáp lại bằng cử chỉ, nét mặt, ánh măt phù hợp và chờ đến lượt trong trò chuyện. + Không nói leo, không ngắt lời người khác. + Biết hỏi han quan tâm, giúp đỡ người khác. - Tiêu chí 2: Các hành vi văn minh trong ăn uống. + Không nói chuyện khi ăn. + Biết nhặt cơm rơi vãi bỏ vào đĩa. + Khi ăn không nhai nhồm nhoàm, không nuốt vội, phải nhai từ tốn. + Không xúc quá đầy hoặc giành hết thức ăn cho riêng mình, không bỏ dở suất ăn. + Biết và không ăn những thứ có hại cho sức khỏe. + Biết dùng tay, khăn che miệng khi ho, ngáp, hắt hơi, hỉ mũi… - Tiêu chí 3: Các hành vi văn minh nơi công cộng. +Biết giữ vệ sinh nơi công cộng, có thói quen chăm sóc giữ gìn cảnh đẹp thiên nhiên môi trường sạch sẽ. + Có hành vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày như vứt rác đúng nơi qui định, không ngắt lá bẻ cành, dẵm lên cỏ. + Thói quen thực hiện các qui định giao thông: đi bộ trên vỉa hè, đi sang đường đúng nơi qui định, ngồi trên các phương tiện giao thông đảm bảo an toàn. => Qua việc tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5- 6 tuổi, tôi và giáo viên trong lớp phân nhóm đánh giá kỹ năng thể hiện hành vi văn minh của trẻ lớp A1. Kết quả như sau: Kỹ năng thể hiện hành vi văn minh của trẻ lớp A1 vào đầu năm học: Các tiêu chí ST Họ tên trẻ Hành vi văn minh Hành vi văn minh T trong ăn uống nơi công cộng Đạt Chưa đạt Đạt Chưa đạt Đạt Chưa đạt 1 2 3 4 5 6 7 Mi nh Án Khánh An Hà Anh Quỳnh Anh Phương Anh Việt Anh Lâm Anh x x x x x x x x x x x x x x x 5 x x x x x x ST T h 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 Họ tên trẻ Huy Bách Thùy Chi Huyền Diệu Trần Đức Thùy Dương Anh Duy Tuấn Hà Xuân Hoàn Minh Hùng Tuấn Hưng Gia Huy Đức Huy Gia Kiên Hoàng Lan Hà Linh Gia Linh Ngọc Mai Phương Mai Tuệ Minh Anh Trung Huyền My Hà My Hiếu Nguyên Yến Nhi Xuân Phương MInh Quang Minh Tâm Minh Thu Khánh Thy Bảo Thy Hà Trang Đăng Trung Anh Tú Khánh Vân Tường Vy Hoàng Ngân Các tiêu chí Hành vi văn minh nơi công cộng Đạt Chưa đạt Hành vi văn minh trong ăn uống Đạt Chưa đạt x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x x 6 x x x x x x x x Chưa đạt x x x x x x Đạt x x ST T 44 45 Họ tên trẻ Thanh Vân Khánh Linh Tổng số Tỷ lệ Các tiêu chí Hành vi văn minh nơi công cộng Đạt Chưa đạt Hành vi văn minh trong ăn uống Đạt Chưa đạt 19 42,2% x x 26 57,8% Đạt Chưa đạt 17 37,8% x x 28 62,2% x 24 53,3% x 21 46,7% III. CÁC BIỆN PHÁP: 1. Giáo viên tự học hỏi, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức của bản thân về giáo dục hành vi văn minh: * Mục đích: Giúp giáo viên có kiến thức đúng, hiểu sâu và đúng bản chất vấn đề giáo dục hành vi văn minh. Từ đó có kiến thức vững vàng về vấn đề này. Khi có kiến thức và nhận thức đúng, người giáo viên mới có thể truyền đạt kiến thức đến học sinh của mình một cách chính xác. * Cách làm: Tìm hiểu, nghiên cứu các công văn hướng dẫn của Bộ, Sở, Ngành triển khai giáo dục hành vi văn minh cho trẻ trong nhà trường. Qua tham khảo các bài viết trên tạp chí giáo dục trẻ em, giáo dục mầm non, giáo dục thủ đô, sách hành vi văn minh của trẻ em, tham gia thông tin trên mạng, qua các trang giáo dục: qua tham dự các lớp tập huấn bồi dưỡng, học hỏi các chị em đồng nghiệp qua thăm quan, kiến tập. Tiếp thu ý kiến, sự chỉ đạo từ Ban Giám Hiệu, qua các buổi họp hàng tháng để tích lũy kinh nghiệm rèn nề nếp, hành vi văn minh cho trẻ. * Kết quả: - Bản thân tôi đã hiểu rõ: Hành vi văn minh là gì? Vì sao lại phải giáo dục hành vi văn minh cho trẻ? Các tác động của hành vi văn minh đối với đời sống con người, môi trường. hay nói các khác là bản thân tôi đã nắm rõ bản chất của việc giáo dục hành vi văn minh cho trẻ. Trang bị cho mình những kiến thức đầy đủ về giáo dục hành vi văn minh. - Bản thân tôi đã nhận thức được việc giáo dục hành vi văn minh cho trẻ là rất quan trọng. Từ đó tôi nhận thấy mình phải có trách nhiệm, phải có biện pháp thiết thực giúp giáo dục hành vi văn minh cho trẻ. 2. Giáo viên tự bồi dưỡng bản thân về kỹ năng sáng tác thơ, truyện mới phù hợp nội dung giáo dục hành vi văn minh cho trẻ. * Mục đích: Giúp giáo viên có kỹ năng sáng tác thơ, truyện nhằm có được những bài thơ, câu chuyện hay, lôi cuốn, hấp dẫn trẻ phù hợp nội dung giáo dục hành vi văn minh. * Cách làm: Cách làm cũ Cách làm mới - Ít sáng tác bài thơ, câu chuyện giáo -Đọc nhiều truyện viết cho thiếu nhi, dục hành vi văn minh cho trẻ. Khi truyện cổ tích sáng tác chỉ mang tính chất nhất thời - Nghiên cứu các bài giảng về sáng 7 nên chưa có sự đầu tư về nội dung tác văn học, thơ – truyện của trường mang tính chất giáo dục hành vi văn viết văn Nguyễn Du. minh cho trẻ. - Tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi về kết cấu truyện. - Trau dồi ngôn ngữ để có ngôn ngữ trong sáng phù hợp với lứa tuổi của trẻ. - Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ từ đó lựa chọn hình tượng nhân vật, tình huống hấp dẫn, thu hút trẻ. - Ví dụ: Truyện: “Chú bé lọ lem” Bạn Tít chẳng phải là em của cô Lọ Lem trong truyện cổ tích đâu nhé. Mọi người gọi Tít là “lọ lem” chỉ vì cậu rất lười tắm. Cứ mỗi lần bà nhắc đi tắm là Tít trốn chạy hoặc hét vang lên: “Hôm qua cháu tắm rồi!”. Buổi chiều, mẹ gọi Tít về tắm. Tít lại tìm mọi cách trốn mẹ để không phải tắm gội. Như vậy, không ai có thể bảo Tít tắm được, lúc nào thích cậu còn ngồi bệt ra đất nghịch bẩn nữa. Một hôm, thấy các bạn chơi đùa ngoài sân vui quá, Tít cũng chạy ra chơi cùng. Mặc dù Tít đã cười thật tươi mà các bạn cứ nhìn Tít chằm chằm, rồi tất cả bịt mũi bỏ chạy. Tít giận dỗi ra chơi với cún con, nhưng Tít vừa đưa tay vuốt ve thì cún con đã khịt khịt mũi và co cẳng chạy. Tít đứng một mình buồn thiu, chả ai muốn chơi với cậu. Vừa lúc đó Tít thấy có cậu bé đang ngồi một mình. Tít mừng quá: A! Mình đã có bạn rồi. Tít chạy lại gần, hai bạn nhìn nhau, mỉm cười làm quen, rồi bỗng dưng cả hai cùng bịt mũi bỏ chạy. Quái lạ, sao thế nhỉ?. Sau đó Tít hiểu ra rằng: Lười tắm gội, bẩn thỉu như Tít và cậu bé kia thì chẳng ai muốn chơi cùng. Từ đó Tít quyết tâm để không bị gọi là “lọ lem” nữa, ngày nào cậu cũng tắm rửa sạch sẽ, giữ gìn quần áo, mặt mũi đầu tóc gọn gàng. Truyện: “Gia đình gấu” Một hôm, cô bé Tóc Vàng đi vào rừng dạo chơi. Bỗng nhiên, trời đổ cơn mưa rất to, cô vội vã tìm chỗ trú.Thấy một ngôi nhà gần đó, cô chạy vào và nhìn thấy trên bàn có ba cái bát: một cái nhỏ, một cái vừa, một cái to. Cô ngồi xuống và nếm thức ăn trong cả ba cái bát và tự nhủ: “thức ăn ngon tuyệt”, ăn xong, cô nhìn xung quanh và thấy ba cái giường một cái nhỏ, một cái vừa,một cái to. Cô reo lên sung sướng: “Ôi! Những cái giường mới ấm áp làm sao!”. Cô bé Tóc Vàng chọn cái giường nhỏ nhất để ngủ. Cô không hề biết đây là ngôi nhà của gia đình Gấu. Gấu bố, gấu mẹ và gấu con về nhà. Vừa nhìn thấy bát thức ăn của mình, gấu bố bực tức hỏi: - Có ai đã đến đây thế này? Gấu mẹ cũng kêu lên: - Ai đã ăn thức ăn của tôi? Gấu con bước lại lên giường và la lên: 8 - Có ai đang ngủ trên giường của con? Nghe tiếng ồn, cô bé tóc vàng choàng tỉnh dậy. Cô xin lỗi và kể lại cho gia đình gấu biết vì sao cô ở ở trong ngôi nhà này. Nghe xong gấu bố, gấu mẹ và gấu con đưa cô bé về nhà. Từ hôm ấy, cô bé tóc vàng trở thành người bạn thân thiết của gia đình Gấu. * Kết quả: - Vốn ngôn ngữ của tôi được nâng lên và hoàn thiện đáng kể. - Bản thân tôi đã nắm được khung kết cấu của truyện: phần mở đầu đặt vấn đề, diễn biến, cao trào, tháo nút thắt, kết truyện. - Bản thân tôi đã nắm được cách gieo vần trong sáng tác thơ, nắm được các thể thức của thơ. - Bản thân tôi đã tự trau dồi cho mình lượng kiến thức về thơ, truyện dành cho thiếu nhi. Qua đó, tôi cũng nắm được phương thức chọn tuyến nhân vật sao cho vừa gần gũi, vừa hấp dẫn đối với trẻ. - Bản thân tôi đã tự sáng tác được nhiều bài thơ, câu chuyện hấp dẫn trẻ, hướng trẻ đến mục đích giáo dục hành vi văn minh đạt hiệu quả cao. 3. Lựa chọn nội dung sáng tác thơ - truyện giáo dục hành vi văn minh cho trẻ và phân chia theo chủ đề. * Mục đích: Hành vi văn minh bao gồm nhiều nội dung khác nhau, có những nội dung chưa phù hợp để cung cấp cho trẻ mầm non. Chính vì vậy, biện pháp này giúp giáo viên sàng lọc, lựa chọn nội dung giáo dục hành vi văn minh sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý theo lứa tuổi của trẻ. * Cách làm: Cách làm cũ Cách làm mới - Giáo viên chưa xây dựng nội dung - Nghiên cứu các hành vi văn minh chuyên sâu giáo dục hành vi văn minh cần giáo dục phù hợp với trẻ 5-6 tuổi. cho trẻ thông qua thơ, truyện Từ đó lựa chọn nội dung phù hợp với lứa tuổi của trẻ. - Sưu tầm và sáng tác các bài thơ, câu chuyện có nội dung giáo dục hành vi văn minh theo từng mảng: hành vi văn minh trong giao tiếp, ăn uống... - Căn cứ vào nội dung bài thơ – câu chuyện và kế hoạch xây dựng giáo dục hành vi văn minh cho trẻ từ đầu năm học, tôi đã phân chia thơ – truyện theo từng chủ đề. - Ví dụ: Trong mảng nội dung giáo dục hành vi văn minh trong giao tiếp, tôi đã sáng tác câu chuyện “Cám ơn” , “Cậu bé không ngoan”. Mảng nội dung giáo dục hành vi văn minh trong ăn uống, tôi đã sáng tác câu chuyện : “Gia đình Gấu”, bài thơ: “Giờ ăn cơm”. Mảng nội dung giáo dục hành vi văn minh nơi công cộng, tôi đã sáng tác bài thơ: “Đồ của chung”, “Bài học giao thông”. * Kết quả: 9 - Tôi đã lựa chọn được những nội dung giáo dục hành vi văn minh phù hợp với trẻ mầm non: giao tiếp, ăn uống, nơi công cộng... - Tôi đã sáng tác được nhiều câu chuyện theo từng mảng nội dung về giáo dục hành vi văn minh cho trẻ. - Nội dung các câu chuyện tôi sáng tác phù hợp gần gũi với trẻ nên có sự tác động rõ rệt đến nhận thức, suy nghĩ và hành vi của trẻ. Hành vi văn minh của trẻ lớp tôi được nâng cao rõ rệt. Các chủ đề Nội dung giáo dục 1. Trường mầm non Tên bài thơ, câu chuyện Hành vi văn minh trong - Thơ: “Đồ của chung”, giao tiếp,nơi công cộng. “Giúp bạn” - Truyện : “Cám ơn” 2.Bé và gia đình Hành vi văn minh trong - Thơ: “Giống ngoan giao tiếp, trong ăn uống của bà”, “Giờ ăn cơm” - Truyện: “Cậu bé không ngoan”. 3. Nghề nghiệp Hành vi văn minh trong giao tiếp, ăn uống và nơi công cộng - Thơ: “Em cũng làm cô giáo”, “Bé chẳng sợ tiêm” - Truyện: “Cô bác sĩ tí hon” 4.Thế giới động vật Hành vi văn minh trong - Thơ: “Đón bạn”, “Xin giao tiếp, ăn uống lỗi” - Truyện: “Gia đình Gấu” 5.Thế giới thực vật Hành vi văn minh trong - Thơ: “Cây thược giao tiếp, ăn uống và nơi dược”, “Quả chanh” công cộng - Truyện: “Cậu bé và cây bằng lăng” 6.Tết và lễ hội mùa xuân Hành vi văn minh trong - Thơ: “Đón tết của bé”, giao tiếp “Mùa xuân” - Truyện: “Nước tắm kỳ diệu. 7. Phương tiện và các qui Hành vi văn minh nơi - Thơ: “Xe đổ rác”, “Bài định giao thông công cộng học giao thông” - Truyện : “Một phen sợ hãi” 8. Nước và các hiện Hành vi văn minh nơi - Thơ: “Đừng nhé bé tượng thiên nhiên công cộng ơi”, “Bé giữ vệ sinh môi Hành vi văn minh trong trường” giao tiếp - Truyện : “Nước thật 10 thần kỳ” 9. Quê hương đất nước Hành vi văn minh trong - Thơ: “Bác thăm nhà Việt Nam – Thủ đô Hà giao tiếp, nơi công cộng cháu”, “Em yêu Hà Nội – Bác Hồ kính yêu Nội” - Truyện : “Thế là đáng khen” * Các bài thơ – câu chuyện tôi sưu tầm và sáng tác được: Thơ: “Giúp bạn” Giờ chơi đã đến Vội đỡ bạn lên Vui quá là vui Cám ơn bạn nhé Cầu trượt, xích đu Này các bạn nhớ Em chơi thật thích Khi bạn ngã đau Ô kìa bạn ngã Luôn giúp đỡ nhau Em chạy lại xem Mới là bạn tốt. Truyện : “Cảm ơn”. Sáng nay, bạn Thu đi học đến trường. Đã đến giờ tập viết chữ cái và số, Thu tìm mãi trong cặp mà không thấy chiếc bút chì của mình đâu vội hốt hoảng kêu lên : - Ôi ! Bút chì của mình mất đâu rồi ? Lan ngồi bên cạnh nghe không rõ hỏi bạn : - Có chuyện gì vậy Thu ? Thu buồn bã muốn khóc nhưng vẫn trả lời : - Tớ không may làm mất bút chì rồi. Thấy bạn buồn, rất thương, Lan đưa hộp bút cho bạn và nói : - Thu ơi! Dùng chung nhé! Lại đến giờ học vẽ, Thu vẽ đẹp được cô giáo khen.Thu cảm động vì được bạn Lan cho mượn bút.Thu đứng lên nói với cô: - Thưa cô, nhờ có chiếc bút chì của bạn Lan mà con vẽ đẹp đấy ạ Cô giáo chưa hiểu gì.Thu kể lại cho cô và các bạn nghe. Sau đó, Thu đứng lên nói với Lan: - Mình cảm ơn bạn nhé! Vậy là cả Thu và Lan đã đựợc cô giáo khen trong buổi học hôm đó. Và cũng từ hôm đó, Thu và Lan là bạn tốt của nhau. Thơ: “Đồ của chung” Cái bàn nho nhỏ Cái ghế xinh xinh Của lớp chúng mình Để ngồi học đấy Ta không vẽ bậy Không viết lung tung Vì là của chung Đồ dùng bạn nhớ Giữ gìn cẩn thận. 11 Thơ: “Giờ ăn cơm” Đến giờ ăn cơm Vào bàn bạn nhé Nào thìa, bát, đĩa Xếp cho ngay ngắn Khi đã có cơm Bạn nhớ mời cô Xúc cho gọn gàng Chớ có vội vàng Cơm rơi, cơm vãi Bạn để vào đĩa Nhớ ăn hết xuất Thế là được khen. Truyện : “Cậu bé không ngoan”. Có một cậu bé tên là Tí sống cùng mẹ trong một ngôi nhà nhỏ. Thật ra thì cậu bé cũng đã lớn.Các bạn của cậu đã biết nấu cơm, giúp những công việc nhỏ đỡ mẹ.Chỉ có mỗi mình cậu nhất định cho mình rằng cậu vẫn còn bé bỏng và vòi vĩnh mẹ đủ điều. Năm ấy, trời hạn hán, mùa màng thất thu. Mẹ Tí đi cả ngày cũng chỉ mang về được ít lúa gạo cuối vụ. Thương con, mẹ Tí nhịn đói, nhường hết cho con.Vậy mà cậu bé chẳng biết, cậu la toáng lên rằng cậu bị bỏ đói cả ngày, mẹ đã ăn hết phần của cậu. Cậu còn bảo mẹ ra ngoài vì cậu không muốn ngủ chung với một người mẹ không thương con. Mẹ Tí buồn lắm, nhưng vẫn cố đi làm thêm để có thức ăn cho con. Trời tối, mẹ Tí lả đi vì mệt và đói mà cậu bé không hề quan tâm lo cho mẹ. Nửa đêm, mẹ Tí khát nước kiệt sức không đi nổi gọi Tí. Nhưng Tí ngủ say ngon lành. Đến sáng dậy, Tí đói bụng mới gọi mẹ thì chỉ thấy mẹ còn thoi thóp thở, cậu bé luống cuống gọi mẹ, gọi mọi người đến cứu nhưng chẳng có ai. Một lát sau, mẹ Tí không còn nữa. Cậu khóc thảm thiết bên xác mẹ. Nỗi hối hận của cậu càng làm cậu đau khổ thêm. Từng giọt nước mắt chảy vào cơ thể của mẹ cậu. Và phép lạ đã xuất hiện, mẹ cậu dần dần hồi tỉnh. Tí ôm chặt lấy mẹ, thổn thức nói: - Mẹ ơi! Con xin lỗi mẹ! Từ hôm nay con hứa sẽ ngoan và không làm mẹ buồn lòng nữa. Con thương mẹ nhất trên đời. Từ đó, mọi người trong khu mỗi khi nhìn thấy cậu bé Tí lại tấm tắc khen sự chăm chỉ và hiếu thảo của cậu ta đối với mẹ. Thơ: “Giống ngoan của bà” Bé lên 5 tuổi Có lúc giống ngoan Giống ngoan của bà Biết thơm bà đấy Giống vàng giống ngọc Tuần tiết lên chùa Giống hay vòi quà. Giống làm chiếc gậy 12 Bà ra ngõ quét Giống đòi bám theo Ngồi khâu tấm áo Ôm lưng giống trèo Mai ngày lớn dậy Nhớ về tuổi thơ Võng đào của bé Váy nơm của bà. Thơ: “Xin lỗi”. Thỏ con vội vã đi đâu Dẫm phải chân bạn Sóc Nâu trên đường Thỏ nhớ xin lỗi bạn nhé! Chớ đừng lặng lẽ bỏ đi, bạn buồn. Thơ: “Đón bạn”. Dế con đi học ven đồng Tối về gặp trận mưa giông gió lùa Ông Trời đang đánh sấm sét Dế con sợ hãi không biết làm sao Đom Đóm chẳng quản gió mưa Mang đèn, mang áo đi đưa Dế về Dế con khi đã về nhà Cảm ơn bạn nhé đã đón tớ về! Truyện : “Cậu bé và cây bằng lăng”. Cậu bé đang đi dạo chơi ở vườn hoa. Thời tiết nóng, oi bức cậu bé đứng dưới gốc cây bằng lăng cho mát. Cậu thấy dưới chân mình có hòn đá nhọn. Thấy hay hay, cậu bé lấy hòn đá khắc hoa lá trên cây. Cây bằng lăng chẩy máu đau điếng nhưng cố lấy giọng vui vẻ: - Chào cậu bé Hạnh Phúc , cậu đẹp người mà bông hoa cậu khắc cũng đẹp. Cậu khéo tay quá! Mặt cậu bé rạng rỡ lên: - Cám ơn cây có lời khen. Lần này thấy cậu bé đắc ý tưởng được khen, cây bằng lăng hỏi: - Sao cậu không khắc hoa lá vào người mình có đẹp hơn không? Cậu bé rùng mình lắc đầu: - Đau lắm, xin chịu thôi. - Vậy mà sao cậu bắt người khác phải nhận cái mình không muốn. Cây bằng lăng hỏi Cậu bé cúi mặt bẽn lẽn: - Tớ xin lỗi cậu nhé! Tớ đã làm cậu đau. Cây bằng lăng nhận lời xin lỗi của cậu bé. Và từ đó trở đi, cậu bé đã biết chăm sóc cây hơn. Thơ: “Cây thược dược”. Cây thược dược đã lớn Mới ra hoa hôm qua 13 Khi có trận gió to Cây bị đổ rạp xuống Bạn có đau lắm không? Tôi đỡ bạn dậy nhé! Kẻo cúi lâu sẽ mỏi Tay bé đỡ bông hoa Cười tươi như hoa nở. Thơ: “Quả chanh”. Một quả màu xanh biếc Che kín những tép nhỏ Chanh non vỏ sần da Bạn hãy đừng ăn vội Để chanh già láng vỏ Bóc mời bạn ăn nào Múi chanh mà chấm muối Mắt cười thật long lanh. Thơ: “Đón tết của bé” Dung dăng dung dẻ Vui vẻ đón xuân Cùng với hoa đào Hoa mai trong vườn Rung rinh cánh trắng Bé mặc áo mới Đón tết vào nhà Bé chúc ông bà Mạnh khỏe, sống lâu Còn bố mẹ nữa Vui vẻ hạnh phúc Cả gia đình bé Đều cười thật tươi Khen bé giỏi quá Thưởng bao lì xì Bé nói cám ơn!. Truyện: “Nước tắm thần kỳ”. Bé Bảo Anh là một bé nghịch ngợm và đôi lúc còn chưa nghe lời bố mẹ . Sắp đến tết, bố mẹ chuẩn bị bao nhiêu thứ để đón tết. Cái gì bé cũng thấy lạ và hỏi nhiều. Ngày 30 Tết, mẹ đun một nồi nước to, lại còn cho cả nắm cành lá gì đó vào nồi. Đến khi pha nước tắm xong, mẹ gọi Bảo Anh vào tắm, bé nhìn thấy nước tắm có màu xanh thẫm, lại có những chiếc lá tung tăng trong chậu, bé rụt lại: - Con không tắm đâu, nước bẩn lắm! Mẹ mỉm cười kéo tay Bảo Anh: 14 - Không phải nước bẩn đâu con. Đây là nước được nấu từ một loại lá thần kỳ mà thường vào dịp Tết mọi người được tắm đấy. Mọi người, nhất là các bạn nhỏ, khi tắm nước này sẽ trở nên ngoan ngoãn hơn, trong người sẽ cảm thấy vui vẻ, khỏe mạnh hơn. Tắm nước này là để cởi bỏ hết những điều không vui của năm cũ và mang đến may mắn trong năm mới. Đấy con thấy không, nước này có mùi thơm nhẹ rất dễ chịu đấy. Thế là Bảo Anh vui sướng để mẹ tắm cho. Trong lúc tắm, mẹ giải thích thêm rằng, người ta gọi lá này là lá mùi già.Ngày xưa khi mẹ còn bé, bà ngoại cũng tắm cho mẹ bằng thứ lá này, bà mong khi mẹ lớn sẽ ngoan ngoãn, được mọi người yêu quí. Mẹ mong Bảo Anh được mọi người yêu quí. Đang tắm bỗng Bảo Anh chỉ những chiếc lá trong chậu: - Mẹ ơi con nhìn thấy những chiếc lá này có hình chữ X, chữ Y. Sao nó cứ bám vào con thế? - À những chiếc lá đang ban phép thần kỳ để con học giỏi hơn đấy! Bảo Anh có vẻ rất thích thú về câu chuyện nước tắm thần kỳ. Sáng mùng 1 Tết, Bảo Anh tự giác dậy, chúc Tết ông bà, bố mẹ, lại nhường em Châu Anh chiếc bao lì xì đẹp hơn. Cả nhà đều ngạc nhiên hỏi: - Sao bé Bảo Anh hôm nay ngoan thế nhỉ? Bảo Anh lễ phép nói: - Vì cháu được tắm nước lá thần kỳ mà. Từ nay cháu sẽ là em bé ngoan, biết nghe lời người lớn. Cả nhà vỗ tay và tặng cho Bảo Anh rất nhiều quà năm mới. Em Châu Anh cũng bảo: - Chị Bảo Anh là chị gái ngoan. Còn mẹ thì tự nhủ: - Hình như bó lá ấy có phép thần kỳ thật. Bảo Anh đã ngoan lên nhiều rồi! Đúng là một mùa xuân thần kỳ!. Thơ: “Mùa xuân” Đàn chim én gọi về Nhắc bầy ong vàng đến Bé ơi, mùa xuân đấy Xuân về nở đầy hương Ai gọi mây hồng dậy Đánh thức vườn hoa đào Bé ơi, mùa xuân đấy Mùa xuân gọi muôn loài Mùa xuân là ai thế Làm mọi người đều vui Cảm ơn mùa xuân nhé Làm đẹp cả bầu trời. Thơ: “Em chẳng sợ tiêm”. Cún bông sao thế nhỉ? 15 Cứ ngoẹo đầu, ngoẹo cổ Không biết Cún đau đâu Bé tập làm bác sĩ ! Chữa cho Cún khỏi đau Bé khám bệnh phát thuốc Bảo Cún bông phải tiêm Cún bông ngoan ngoãn nghe Khi tiêm không khóc nhè Lát sau, Cún khỏi liền Sáng nay đi tiêm phòng Mẹ vén tay áo bé Bé ngoan như Cún bông Không sợ tiêm đâu nhé! Bé thật là giỏi ghê!. Truyện: “Cô bác sĩ tí hon ” . Hôm nay, cô giáo dạy cả lớp chơi trò bác sĩ. Cô cho Hà mặc áo bờ- lu trắng, đội mũcó chữ thập đỏ và đeo cái ống nghe vào cổ để khám bệnh. Thấy bạn Lâm đứng chen nhau đòi lên trước, Bé Hà dõng dạc : - Nào mời mọi người xếp hàng theo thứ tự để vào khám ! Cô giáo cười : - Con làm đúng rồi. Hà đáp : “vâng ạ” rồi hỏi : - Bệnh nhân Tùng bị bệnh gì nào ? - Tớ bị đau răng.- Tùng nhanh nhảu đáp. Hà nói : - Chắc ở nhà cậu hay ăn vặt chứ gì ? Tùng ầm ừ. Bác sĩ Hà nhớ lời dạy của cô giáo nói với bệnh nhân Tùng : - Cậu phải đánh răng vào buổi tối và buổi sáng khi ngủ dậy. Nhớ súc miệng nước muối và không ăn kẹo vào buổi tối. - Tiếp theo, bệnh nhân Lan ! Lan hớn hở ngồi vào ghế: - Tớ bị đau bụng quá! Hà áp ống nghe khám và bảo: - Ấy bị giun đấy! Từ giờ nhớ rửa tay trước khi ăn và không được cho tay vào mồm nhé! Đây, thuốc giun đây, bạn về uống là khỏi. Và giờ khám bệnh đã hết, cô giáo rất khen Hà đã nhớ lời dạy của cô.Cuối buổi học, Hà được cô thưởng một phiếu bé ngoan. Hà cám ơn cô và được bố mẹ đón về. Thơ: “Đừng nhé bé ơi!” Bé không làm những gì nào? Ngắt hoa, bẻ cành, giẫm vào cỏ xanh 16 Khi vui học, lúc dạo quanh Không chơi đất cát,đu cành cây cao Không nên đứng sát bờ rào Không chơi nhảy nhót cạnh ao, cạnh hồ… Bé nhớ lời cô dặn dò Điều nào xấu, tốt, gắng cho nên người. Thơ: “Bé giữ vệ sinh môi trường”. Sân trường mát sạch Nhờ bác lao công Ngày ngày quét dọn Em cũng góp phần Giữ sân trường sạch Này các bạn ơi Cùng ra sân chơi Thấy lá vàng rơi Vung vãi khắp nơi Cùng đi nhặt lá Bỏ vào thùng rác Các nơi đều sạch Không khí trong lành Giúp bé học hành Chăm ngoan, khỏe mạnh. Thơ: “Xe đổ rác”. Bác xe đổ rác Chiều tối, sớm hôm Leng keng… kẻng giục Reo vang phố phường Bác xe đi đổ Rác bẩn gọn nơi Đem quang đem sạch Đến cho mọi người Nào rác trên đường Bến xe góc chợ Tay chổi chuyên cần Rác vun gọn chỗ. Trong trẻo khí trời Phố nhà thoáng mát Sạch lối em chơi Là vui lòng bác. Truyện: “Một phen sợ hãi”. Sau những ngày trời liên tiếp đổ mưa, sáng nay nắng ấm, mọi cảnh vật xung quanh thật đẹp.Mẹ cho hai chị em Lan ra khỏi nhà. Như thường lệ, Mẹ dắt hai chị em ra công viên gần nhà chơi. Hai chị em chạy nhảy chân sáo quanh mẹ một lúc lâu, hai chị em bắt đầu thấy thích, cả hai liền xin mẹ chơi tự do ở trong công viên gần chỗ mẹ đứng. Mẹ dặn hai chị em: - Các con đi chơi quanh đây, không được chạy ra đường nguy hiểm lắm đấy! Cả hai hớn hở cùng nhau chạy chơi. Nhìn những quả bóng bay đẹp, cả hai chị em thích lắm, đi ra đường, quên cả lời mẹ dặn. 17 Mải mê ngắm nhìn xung quanh, một lúc sau, mẹ Lan nhìn quanh quẩn không thấy hai con đâu, liền gọi to mấy tiếng: “Các con ơi! ... Các con ơi!” nhưng không thấy hai chị em Lan trả lời. Mẹ vỗi vã đi tìm con. Bỗng từ đằng xa, mẹ Lan nhìn thấy hai chị em đang đi xuống lòng đường, mẹ Lan vội chạy đến, gọi hai chị em Lan dừng lại. Vừa lúc đó, có một chiếc xe máy tiến đến cùng với tiếng còi xe làm hai chị em Lan giật bắn cả người. Và may sao, hai chị em Lan chạy được nhanh lên vỉa hè. Nguy hiểm đã qua, ba mẹ con ôm nhau mừng rỡ. Nhìn thấy mồ hôi ướt đầm trên áo mẹ, hai chị em Lan vô cùng hối hận. - Thưa mẹ, chúng con xin lỗi, từ nay về sau chúng con sẽ vâng lời mẹ không đi dưới lòng đường nữa! - Hai chị em lí nhí nói. - Hai con đã biết nhận lỗi là tốt rồi, các con phải biết vâng lời mẹ, không được đi dưới lòng đường rất nguy hiểm. – Mẹ Lan căn dặn hai chị em. Sau đó, hai chị em Lan theo mẹ về nhà. Thơ: “Bài học giao thông”. Mẹ mẹ ơi cô dạy! Các phương tiện giao thông Ô tô và xe máy Bon bon dưới lòng đường Vỉa hè dành cho bé Nhớ đi đúng làn đường Không được đi phạm luật Bé sẽ không an toàn. Khi ngồi trên xe máy Nhớ đội mũ bảo hiểm Bảo vệ cho cái đầu Được an toàn bé nhé ! Bé nhớ lời cô dạy Khi tham gia giao thông Luôn chấp hành nghiêm chỉnh Bé sẽ thật đáng khen. Truyện: “Thế là đáng khen”. Hôm nay, ở trường của bé Nam đón Bác Hồ ghé thăm.Các bạn khi nhìn thấy Bác reo lên: - A! Bác Hồ đến rồi! Thê là tất cả mọi người ùa ra đón Bác. Nam đứng chỗ gần nhất để được nhìn Bác. Sau đó, Bác đi tham quan các phòng rồi mới quay trở lại lớp. Bác hỏi: - Các cháu chơi có vui không? 18 Các bạn cùng thưa: - Thưa Bác, vui lắm ạ! Bác cười: - Các cháu ăn có no không? Các bạn cùng thưa : - No ạ! Bác vui lòng khen: - Thế thì tốt lắm! Bây giờ ai ngoan thì Bác sẽ thưởng kẹo nhé! - Vâng ạ, vâng ạ! Bác đi chia kẹo cho từng bạn. Chỉ có Nam hơi buồn, cúi đầu, khẽ thưa: - Thưa Bác, hôm nay cháu không vâng lời cô giáo, cháu chưa ngoan ạ. Thấy Nam đã hối hận và biết nhận lỗi, Bác khen: - Cháu biết nhận lỗi thế là ngoan, đáng khen lắm đấy! Cháu vẫn được nhận kẹo như các bạn. Nam sung sướng nhận phần kẹo của mình và ăn hết. Và tình thương của Bác Hồ giành cho các bạn nhỏ thì Nam vẫn còn nhớ mãi. Thơ: “Em yêu Hà Nội”. Hà Nội có lắm cảnh đẹp Có hồ Gươm xanh, có Tháp Rùa nổi Mênh mông biển nước sông Hồng Tận hưởng với những món ngon mỗi ngày Em yêu thủ đô Hà Nội Nơi em đang sống thật là nhiều điều. Thơ: “Bác thăm nhà cháu”. Hôm nào Bác đến thăm nhà Cháu vui, vui cả lá hoa ngoài vườn. Bác xoa đầu cháu Bác hôn Bác thương em cháu xúc cơm vụng về. Bác ngồi ngay ở bên hè, Bón cho em cháu những thìa cơm ngon. Bé em mắt sáng xoe tròn, Vươn minh tay nhẹ xoa chòm râu thưa. Bác cười Bác nói hiền hòa, Nâng bàn tay nhỏ nõn nà búp bê. Bác về cháu đứng ngẩn ngơ Má thơm nhắc mãi Bác Hồ vừa hôn Cháu yêu Bác lắm Bác ơi! Nhớ đến mỗi khi bác thăm nhà cháu. 4. Thảo luận – tạo điều kiện cho trẻ sáng tác. * Mục đích: Phát huy tính tích cực hoạt động của trẻ. Tạo điều kiện cho trẻ sáng tác sẽ giúp trẻ phát triển tư duy, trí tưởng tượng, phát triển ngôn ngữ. Đồng thời qua đó trẻ ghi nhớ kiến thức lâu, góp phần biến kiến thức thành kỹ năng cho trẻ. 19 * Cách làm: Cách làm cũ Cách làm mới - Trên cơ sở các câu chuyện có sẵn - Giáo viên đóng vai trò gợi ý, định trong chương trình, giáo viên cho trẻ hướng trong hoạt động của trẻ. thay đổi lời các nhân vật trong truyện. - Sử dụng đồ dùng trực quan: tranh ảnh, video… để tác động đến trí tưởng tượng của trẻ. - Chia trẻ thành từng nhóm nhỏ, các nhóm sẽ thảo luận, lựa chọn nội dung, lựa chọn hình ảnh minh họa và sáng tác lời truyện. - Sử dụng hình thức thi đua giữa các nhóm, trao phần thưởng cho các nhóm theo mức độ: sáng tác được câu chuyện hoàn chỉnh - chưa hoàn chỉnh…nhằm động viên, khuyến khích trẻ. * Kết quả: - Những câu chuyện, bài thơ do trẻ sáng tác giúp trẻ ghi nhớ dễ hơn, từ đó tác dụng của việc giáo dục hành vi văn minh được nâng cao. - Từ việc sáng tác các bài thơ, câu chuyện đã giúp những kiến thức giáo dục hành vi văn minh cho trẻ được khắc sâu. Kiến thức trẻ nhận được một cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Ảnh trẻ hoạt động cùng cô ở góc văn học 5. Sử dụng các phương thức khác nhau – tạo môi trường sử dụng hiệu quả: * Mục đích: Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mầm non là dễ nhớ nhanh quên. Để việc giáo dục hành vi văn minh cho trẻ đạt hiệu quả cao thì các kiến thức cung cấp cho trẻ cần được lặp đi lặp lại để biến kiến thức của trẻ thành nhận thức. Qua đó hình thành ở trẻ những hành vi đúng. Biện pháp này giúp cho người giáo viên có nhiều phương thức khác nhau để giúp cho các câu chuyện được sử dụng 20
- Xem thêm -