Một giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thu thuế tại tỉnh chăm pa sắc

  • Số trang: 97 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Đã đăng 9626 tài liệu

Mô tả:

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING TP. HỒ CHÍ MINH SAITHONG KHAMSAVAT MỘT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC THU THUẾ TẠI TỈNH CHĂM PA SẮC LUẬN VĂN THẠC SỸ TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014 BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING TP. HỒ CHÍ MINH SÁI THONG KHĂM SA VẮT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC THU THUẾ TẠI TỈNH CHĂM PA SẮC LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số ngành: 60 34 01 02 Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thanh Toàn TP. HỒ CHÍ MINH , NĂM 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi tên Sái Thong Khăm Sa Vắt - là tác giả Luận văn Thạc sỹ với đề tài Một số giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thu thuế tại tỉnh Chăm Pa Sắc Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu, dữ liệu, thông tin trung thực; các trích dẫn, tham chiếu đúng nguồn. Kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình khoa học nào khác. HỌC VIÊN THƯC HIỆN SAITHONG KHAMSAVAT 1 LỜI CÁM ƠN Để hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Quý Thầy Cô, bạn bè và tập thể cán bộ công chức của sở Thuế tỉnh Chăm Pa Sắc. Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Trần Thanh Toàn người hướng dẫn khoa học của Luận văn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành Luận văn. Tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè, ban lãnh đạo và các đồng nghiệp đang làm việc tại Sở Thuế tỉnh Chăm Pa Sắc đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành Luận văn. Và sau cùng, để có được kiến thức như ngày hôm nay, cho phép tôi gởi lời tri ân và cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy Cô Trường Đại học Tài chính-Marketing Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu. Học viên thực hiện SAITHONG KHAMSAVAT 2 Danh mục từ viết tắt CHDCND Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào DN Doanh nghiệp DNNN Doanh nghiệp Nhà nước DNTN Doanh nghiệp tư nhân DNNQD DN ngoài quốc doanh ĐTNT Đối tượng nộp thuế GTGT Giá trị gia tăng NSNN Ngân sách Nhà nước SXKD Sản xuất kinh doanh TNHH Trách nhiệm hữu hạn NQD Ngoài quốc doanh UBND Ủy Ban Nhân Dân 3 Mục lục Lời mở đầu ........................................................................................................... 1 1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................. 1 2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn ................................................................. 2 3. Tình hình nghiên cứu đề tài ........................................................................... 2 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................. 3 5. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 3 6. Đóng góp của luận văn................................................................................... 3 7. Kết cấu của đề tài ........................................................................................... 3 Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thuế và tổ chức thu thuế ................... 5 1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế....................................................................... 5 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế ............................................................ 5 1.1.2 Vai trò của thuế .................................................................................... 10 1.1.3 Hệ thống thuế và các tiêu chuẩn xây dựng hệ thống thuế ................... 18 1.2 Tổ chức thu thuế và hiệu quả của việc tổ chức thu thuế ............................ 20 1.2.1 Khái niệm, mục tiêu của tổ chức thu thuế ........................................... 20 1.2.2 Nội dung tổ chức thu thuế.................................................................... 20 1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổ chức thu thuế .................................. 22 1.2.4 Các nhân tố ảnh hướng đến hiệu quả tổ chức thu thuế ........................ 23 1.2.5 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả tổ chức thu thuế ................................. 25 1.3 Mô hình và kinh nghiệm tổ chức thu thuế ở một số nước ......................... 26 Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức thu thuế tại Sở thuế Chăm Pa Sắc ....... 37 2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Chăm Pa Sắc và hệ thống chính sách thu thuế tại tỉnh .............................................................................. 37 2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Chăm Pa Sắc ............ 37 2.1.2. Tình hình chung của các doanh nghiệp trong tỉnh Chăm Pa Sắc ....... 38 2.1.3 Hệ thống chính sách thu thuế của tỉnh và quy trình tổ chức thu thuế . 41 2.2 Thực trạng công tác tổ chức thu thuế của tỉnh Chăm Pa Sắc trong những năm qua ............................................................................................................ 43 2.2.1 Tổ chức bộ máy thu thuế ..................................................................... 43 2.2.2. Về quản lý đối tượng nộp thuế ........................................................... 44 2.2.3. Tình hình đăng ký, kê khai, nộp thuế ................................................. 46 2.2.4. Về quản lý doanh thu tính thuế ........................................................... 48 4 2.2.5. Tình hình thực hiện nhiệm vụ thu thuế ............................................... 49 2.2.6. Về công tác quản lý thu nộp thuế ....................................................... 52 2.2.7. Về quyết toán thuế .............................................................................. 52 2.2.8. Công tác Thanh tra - Kiểm tra ............................................................ 53 2.3 Hiệu quả công tác tổ chức thu thuế của tỉnh Chăm Pa Sắc trong những năm qua .................................................................................................................... 54 2.3.1. Những thành tựu đã đạt được ............................................................. 54 2.3.2. Những tồn tại trong công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp và nguyên nhân của những tồn tại. .................................................................... 55 Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thu thuế đối với Sở thuế Chăm Pa Sắc........................................................................................................ 58 3.1 Mục tiêu, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả tổ chức thu thuế................ 58 3.1.1 Mục tiêu nâng cao hiệu quả tổ chức thu thuế ...................................... 58 3.1.2 Yêu cầu nâng cao hiệu quả tổ chức thu thuế ....................................... 60 3.2 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu tổ chức thu thuế của tỉnh Chăm Pa Sắc .................................................................................................... 61 3.2.1 Hoàn thiện việc phân cấp và xây dựng kế hoạch thu thuế .................. 61 3.2.2 Hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy thu thuế ..................................... 63 3.2.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thu thuế ............................... 65 3.2.4 Tăng cường công tác quản lý nợ đọng ................................................. 67 3.2.5 Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế ...................................... 69 3.3 Các giải pháp khác ..................................................................................... 70 3.3.1 Xây dựng quy trình công tác tổ chức thu thuế mới ............................. 70 3.3.2 Hoàn thiện cơ chế, chính sách về thuế................................................. 78 3.3.3 Thực hiện quy chế thưởng phạt trong công tác tổ chức thu thuế ........ 80 3.3.4 Bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thuế ............................ 81 3.3.5 Tăng cường phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan chức năng khác ............................................................................................................... 82 3.3.6 Từng bước áp dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý thu thuế để tăng cường quản lý thu thuế .......................................................................... 83 3.3.7 Tăng cường công tác quản lý hóa đơn, chứng từ đối doanh nghiệp.... 83 3.3.8 Cung ứng trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật ................................... 84 Kết luận ............................................................................................................... 86 5 DANH MỤC BẢNG Biểu 2.1 : Tình hình quản lý doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh............................. 45 Biểu 2.2: Tình hình kê khai thuế ở tỉnh Chăm Pa Sắc qua các năm ................... 47 Biểu 2.3: Kết quả thực hiện dự toán thu NS tỉnh Chăm Pa Sắc ........................ 50 Biểu 2.4 : Kết quả thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách của Sở thuế tỉnh Chăm Pa Sắc qua các năm .................................................................................................. 50 Biểu 2.5: Tình hình nộp thuế của các doanh nghiệp ........................................... 52 Biểu 2.6: Tổng hợp tình hình quyết toán thuế năm 2012 ................................... 53 Sơ đồ 1.1: Mô hình ngành thuế trực thuộc Bộ Tài chính.................................... 27 Sơ đồ 1.2: Mô hình ngành thuế trực thuộc Bộ Thu ............................................ 27 Sơ đồ 1.3: Mô hình quản lý theo đối tượng nộp thuế ......................................... 33 Sơ đồ 1.4: Mô hình quản lý trung gian ............................................................... 33 Sơ đồ 1.5: Mô hình quản lý hiện đại, phù hợp với tin học hoá........................... 34 Sơ đồ 1.6: Mô hình quản lý thuế của Lào trước đây........................................... 34 Sơ đồ 1.7: Mô hình quản lý thuế của Lào hiện nay ............................................ 35 6 Lời mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Chuyển đổi từ cơ chế quản lý nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đổi mình toàn diện nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực tài chính nói chung và thuế nói riêng. Từ năm 1988 đến nay, Nhà nước đã từng bước thực hiện cải cách hệ thống chính sách thuế và bộ máy ngành thuế được tổ chức lại thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương. Quản lý thu thuế đã được đổi mình căn bản, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát huy được vai trò tích cực trong việc thực hiện các luật thuế mình và tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Trong quản lý thu thuế các khu vực kinh tế, thì khu vực doanh nghiệp luôn được quan tâm hàng đầu và đây là khu vực đóng góp lớn nhất vào thu ngân sách Nhà nước, mặc dù số doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng số đối tượng nộp thuế, nhưng đóng góp gần 2/3 tổng thu nội địa. Số thu của một đối tượng ở khu vực này thường gấp nhiều lần số thu của đối tượng là hộ cá thể. Mặt khác, đây là khu vực đòi hỏi trình độ quản lý cao của cán bộ thuế và là khu vực có nhiều phức tạp nhất trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý. Quá trình thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý thu thuế khu vực doanh nghiệp cũng bộc lộ nhiều bất cập cả về qui trình quản lý, ứng dụng công nghệ tin học, bổ trợ nguồn nhân lực, trình độ cán bộ quản lý của cơ quan thuế, chưa tận dụng được kinh nghiệm quản lý thu thuế của các nước tiên tiến. Số lượng đối tượng nộp thuế nói chung và số doanh nghiệp nói riêng tăng lên nhanh chóng; tính tuân thủ, tự nguyện của đối tượng nộp thuế chưa cao, tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế vẫn còn và diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước. Ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, thuế đã được chính thức ban hành ngày 14/10/1995. Hơn 17 năm thực thi, thuế đã góp phần không nhỏ vào động viên nguồn tài chính cho NSNN, đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và bước đầu đã phát huy được vai trò công cụ thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Trong những năm tổ chức thực hiện Luật Thuế đã trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung và không ngừng được hoàn thiện. Nhưng trước yêu cầu phát triển đồng bộ nền kinh tế thị trường, khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo công bằng về nghĩa vụ đóng góp và phù hợp với 1 yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thì luật thuế ở Lào đã bộc lộ những mặt hạn chế nhất định như : giữa các sắc thuế chưa tác động hỗ trợ lẫn nhau một cách hiệu quả, trong từng sắc thuế còn chứa đựng nhiều mục tiêu của các chính sách xã hội, các quy định về thuế vẫn còn nằm trong các Luật khác nhau, chính sách về ưu đãi chưa có mục tiêu rõ ràng, quy định thuế suất còn thiếu căn cứ khoa học, chưa thể hiện rõ sự tương hợp với đường lối hội nhập kinh tế quốc tế. Trước vấn đề đặt ra như trên đòi hỏi phải có những nghiên cứu cơ bản từ lý luận đến thực tiễn để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục trong đó hoàn thiện công tác quản lý thu thuế được coi là nội dung thiết yếu khách quan của việc cải thiện hệ thống thuế. Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu đề tài: "Một số giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thu thuế tại tỉnh Chăm Pa Sắc " làm luận văn thạc sỹ. 2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn Mục tiêu là tổng hợp một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về thu thuế, những nguyên tắc trong việc xây dựng hệ thống thuế phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Phân tích thực trạng diễn biến của việc tổ chức thực thi thu thuế tại tỉnh Chăm Pa Sắc. Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống công tác tổ chức thu thuế. 3. Tình hình nghiên cứu đề tài Thời gian qua, hoàn thiện công tác thu thuế là một nhu cầu thiết yếu khách quan nhằm tập trung đủ và kịp thời nguồn thu cho NSNN. Đến nay số lượng các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề quản lý thu thuế còn hiếm, chủ yếu chỉ tập trung vào những vấn đề thuộc về chính sách thuế, tại CHDCND Lào vấn đề nói trên là một vấn đề mềm dẻo và linh hoạt nên có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố như sau: Nâng cao hiệu quả tổ chức thu thuế ở CHDCND Lào, Phanxay Thammasith, Luận văn thạc sĩ kinh tế 2008; Giải pháp hoàn thiện thuế gián thu ở CHDCND Lào, Manophap Phonevantha, Luận văn thạc sĩ kinh tế 2009;... Các công trình nghiên cứu trên tập trung vào phân tích thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, chưa đi sâu phân tích các vấn đề thu thuế. Với đề tài này, tôi mong rằng những kết quả có được từ việc 2 nghiên cứu trong một chừng mực nào đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động thu thuế và hỗ trợ cho công tác quản lý thu thuế ở CHDCND Lào nói chung và tỉnh Chăm Pa Sắc nói riêng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận cơ bản về công tác tổ chức thu thuế. Thực tế công tác tổ chức thu thuế tại tỉnh Chăm Pa Sắc. Từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thu thuế để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa và sửa đổi bổ sung luật thuế cho phù với điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay. Phạm vi nghiên cứu là công tác tổ chức thu thuế tại tỉnh Chăm Pa Sắc. Luận văn cũng giới hạn việc khảo sát thực tế chỉ đề cập đến thu thuế tại Chăm Pa Sắc trong thời gian từ năm 2006-2012 và dự báo đến năm 2015. 5. Phương pháp nghiên cứu Tác giả đã sử dụng các phương pháp kết hợp giữa các phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp so sánh trong các phần trình bày lý luận cũng như thực tiễn công tác tổ chức thu thuế ở Chăm Pa Sắc. 6. Đóng góp của luận văn - Luận văn có giá trị tham khảo đối với học viên cũng những cán bộ công chức trong ngành thuế riêng chung và trong ngành quản trị kinh doanh nói chung; - Đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về thu thuế; - Đã phân tích những thực trạng về thu thuế ở tỉnh Chăm Pa Sắc trong giai đoạn từ năm 2006 - 2012. Từ đó chỉ ra những kết quả đạt được và những tồn tại cần được khắc phục và hoàn thiện trong thời gian tới. Đồng thời cũng đã đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thu thuế tại tỉnh Chăm Pa Sắc. 7. Kết cấu của đề tài Luận văn bao gồm các nội dung sau: Phần mở đầu: Nêu tính cấp thiết của đề tài; tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài; mục tiêu nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài; các phương pháp nghiên cứu; những đóng góp của đề tài; giới thiệu cấu trúc bố cục các phần chính của Luận văn: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thuế và tổ chức thu thuế 3 Chương này tác giả muốn trình bày sơ qua về vấn đề thu thuế chẳng hạn như: khái niệm, đặc điểm thuế và tổ chức thu thuế. Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức thu thuế và quản lý thu thuế tại Chăm Pa Sắc Đối với phần này thì tác giả nghiên cứu về thực thi các quy định pháp luật thuế và những quy trình của công tác tổ chức thu thuế và đánh giá tình hình chấp hành luật thuế của các doanh nghiệp. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thu thuế đối với Sở thuế Chăm Pa Sắc Chương này tác giả rút ra những kinh nghiệm từ phân tích, so sánh trên để hoàn thiện việc thực thi các quy định về công tác tổ chức thu thuế của tỉnh trong thời gian tới. Phần kết luận: Khái quát nội dung chính, khẳng định kết quả của việc thực hiện đề tài, qua đó thể hiện kiến nghị, giải pháp, đóng góp mới của đề tài có giá trị khoa học và thực tiễn. 4 Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thuế và tổ chức thu thuế 1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế 1.1.1.1 Sự hình thành và phát triển của thuế Theo C.Mác: Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội: Xã hội cộng sản nguyên thuỷ, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ đầu xã hội cộng sản nguyên thủy, hình thái kinh tế - xã hội hết sức thấp kém, trình độ sản xuất hết sức lạc hậu, công cụ lao động thô sơ, con người chủ yếu sống thành tập đoàn cộng đồng, nhận thức con người hết sức đơn giản, chưa có sự phân chia giai cấp, của cải thặng dư trong xã hội không đáng kể, cho nên nhà nước và thuế chưa xuất hiện. Nhưng đến cuối thời kỳ cộng sản nguyên thủy đầu thời kỳ xã hội chiếm hữu nô lệ thì xã hội đã có sự phát triển và tiến bộ hơn. Nhận thức của con người về thuế gián thu ngày càng đúng đắn hơn, kinh nghiệm tích luỹ nhiều hơn, công cụ lao động hoàn thiện hơn, do đó năng suất lao động cao hơn. Đó chính là động lực cơ bản đòi hỏi thay thế phương thức xã hội cộng sản nguyên thủy bằng một phương thức sản xuất mới đồng thời phân công lao động tự nhiên đòi hỏi cũng phải được thay thế bằng phân công lao động xã hội. Trải qua nhiều lần phân công lao động xã hội trong lịch sử đã nảy sinh sự phân chia giàu nghèo. Chính sự phân chia giàu nghèo này là tiền đề làm xuất hiện giai cấp, đó là giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột. Khi ra đời hai giai cấp này đã có mâu thuẫn với nhau và mâu thuẫn này ngày càng gay gắt, dẫn đến đấu tranh giai cấp một cách quyết liệt. Lúc này, xã hội đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức để dập tắt cuộc xung đột giữa các giai cấp. Đồng thời, cũng có vai trò lập lại trật tự xã hội mà tổ chức đó chính là nhà nước. Như vậy, nhà nước đã ra đời trong xã hội chiếm hữu nô lệ, có thể nói rằng nhà nước ra đời trong điều kiện mà xã hội nảy sinh chế độ tư hữu, có sự phân chia giai cấp và có đấu tranh giai cấp trong xã hội. Khi ra đời nhà nước là một hệ thống có nhiều cấp, nhiều cơ quan chức năng có nhiệm vụ khác nhau. Nhưng hoạt động theo một mục đích, một phương hướng đó là cai quản xã hội. Vì có nhiều cấp, nhiều cơ quan có chức năng nhiệm 5 vụ khác nhau cho nên việc nuôi dưỡng để các cơ quan bộ máy nhà nước hoạt động bình thường là đòi hỏi nhà nước phải có một nguồn tài chính nhất định. Hay nói cách khác, nhà nước muốn tồn tại và phát triển thì cần phải có một nguồn tài chính cần thiết để đảm bảo cho việc chi tiêu nuôi dưỡng bộ máy của mình được hoạt động bình thường từ cấp trên đến cấp dưới. Mặt khác, trong bộ máy nhà nước bao gồm những người không tham gia trực tiếp sản xuất, không tạo ra thu nhập nhưng lại rất cần nguồn tài chính để chi tiêu. Như vậy, vấn đề đặt ra là nhà nước chỉ có thể lấy nguồn tài chính này từ việc động viên đóng góp một phần thu nhập xã hội do các tầng lớp và thành viên dân cư trong xã hội tạo ra. Nhưng lấy bằng cách nào? Đây là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp. Trong thực tế có rất nhiều hình thức để nhà nước động viên một phần thu nhập xã hội. Nhưng một hình thức động viên có hiệu quả và đảm bảo được nhu cầu chi tiêu của nhà nước là: Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để buộc dân đóng góp. Đây là một hình thức cơ bản nhất và hiệu quả nhất, hình thức dùng quyền lực đó chính là thuế. Từ sự phân tích trên, có thể khẳng định: Thuế ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra đời, phát triển của Nhà nước, do Nhà nước, vì Nhà nước. Nhà nước ra đời là một tất yếu khách quan nên thuế cũng ra đời với tính tất yếu khách quan và chức năng chủ yếu, đầu tiên, là nhằm bảo đảm nguồn tài chính, phục vụ nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng theo chức năng của Nhà nước và thuế và Nhà nước gắn bó mật thiết với nhau như hình với bóng. Ăngghen đã nói: "Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của công dân đó là thuế". Thuế là một nguồn tài chính quan trọng đảm bảo phần lớn trong việc chi tiêu của nhà nước, thuế xuất hiện nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nhà nước. C. Mác viết: "Thuế là cơ sở kinh tế của nhà nước, là thủ đoạn gián tiếp cho kho bạc thu được bằng tiền hay hiện vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của nhà nước". Thời kỳ đầu khi sản xuất hàng hoá chưa phát triển thuế thường được thu bằng hiện vật, cho đến khi nền sản xuất hàng hoá phát triển thuế thường được thu bằng tiền là chủ yếu. 6 Ngày nay, trong xu hướng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường thì việc thu thuế hầu hết là bằng tiền. Nền kinh tế thị trường có thể được coi là một yếu tố để làm cho các sắc thuế khác nhau lần lượt ra đời, làm cho thuế ngày càng đa dạng, phong phú linh hoạt đáp ứng được nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Ngày nay, để đảm bảo được nguồn thu, cũng như để thuế có vai trò ngày càng quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế thì nhà nước đã sử dụng rất nhiều các sắc thuế khác nhau, đồng thời việc sử dụng nhiều sắc thuế cũng rất phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Vì nền kinh tế thị trường là nền kinh tế có nhiều chủ thể và nhiều thành phần, nhiều ngành nghề tham gia, nên mỗi sắc thuế có thể tác động đến các thành phần kinh tế khác nhau. Ở các quốc gia người ta có thể chia thuế thành nhiều loại khác nhau, người ta có thể phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế, phân loại thuế theo tên gọi của các sắc thuế. Nhưng nếu phân loại thuế theo phương thức đánh thuế thì người ta phân chia chúng làm hai loại đó là thuế trực thu và thuế gián thu. - Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của các đối tượng là cá nhân, tổ chức kinh tế. Thuế này người chịu thuế cũng đồng thời là người nộp thuế. Loại thuế này thường bao gồm các sắc thuế sau: Thuế thu nhập, thuế lợi tức, thuế tài sản... . Ưu điểm của thuế trực thu là nó động viên trực tiếp vào thu nhập cho nên nó đảm bảo được tính công bằng xã hội, người có thu nhập nhiều phải nộp thuế nhiều, người có thu nhập ít nộp thuế ít, người không có thu nhập thì không phải nộp thuế. Bên cạnh đó, thuế này còn có những hạn chế nhất định như: Việc tính toán phức tạp, việc xác định thu nhập lại rất khó, dễ bị phản ứng. Mặt khác, nếu chỉ thu mỗi thuế trực thu thì diện quản lý thu thuế rất rộng, tốn nhiều công sức, hiệu quả mang lại chưa chắc đã cao. Vì vậy, để đảm bảo động viên nguồn thu vào tất cả mọi người thì người ta đã sử dụng thuế gián thu. Vì thế, thuế gián thu cùng với thuế trực thu sẽ hợp thành một hệ thống thuế thống nhất. 7 1.1.1.2 Khái niệm thuế Sự ra đời của thuế là một việc tất yếu khách quan nó gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Mỗi Nhà nước ở mỗi gian đoạn lịch sử có bản chất, chức năng và nhiệm vụ cụ thể không giống nhau, nhưng có nhiệm vụ về quốc phòng - an ninh, môi trường pháp luật, tu sửa đê điều, phòng chống dịch bệnh, … để đảm bảo lợi ích chung của đất nước. Vì vậy, Nhà nước đã sử dụng quyền lực của mình, trước hết là quyền lực chính trị, để quy định các khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước đối với các thể nhân và pháp nhân trong xã hội nhằm đảm bảo điều kiện vật chất duy trì sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, một trong những khoản đóng góp bắt buộc đó gọi là thuế. Thuế có thể thu bằng tiền, bằng hiện vật, hoặc bằng ngày công lao động, với sự mở rộng không ngừng về chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hoá - tiền tệ hệ thống thuế của các quốc gia đã không ngừng phát triển và thuế thu bằng tiền trở thành hình thức thu phổ biến. Như vậy, có thể khẳng định Nhà nước và thuế khoá là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế để đảm bảo điều kiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Đồng thời, sự phát triển hệ thống thuế của các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển về chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ. Xét về nội dung vật chất, thuế Nhà nước là một bộ phận của cải cách xã hội tập trung vào quỹ ngân sách Nhà nước, mà thực chất là một bộ phận của cải cách từ khu vực tư được chuyển vào khu vực công nhằm trang trải các chi phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy Nhà nước và các chi phí công cộng đem lại lợi ích chung cho cộng đồng. Về bản chất kinh tế - xã hội, thuế Nhà nước có phạm trù phân phối của cải cách xã hội chứa đựng các quan hệ kinh tế - xã hội giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội. Các quan hệ kinh tế này nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt là các thể nhân, pháp nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho Nhà nước theo đúng quy định do chính Nhà nước ban hành mà không gắn với bất kỳ sự ràng buộc nào về sự hoàn trả số thuế đã nộp theo luật định hoặc cung cấp trực tiếp hàng hoá và dịch vụ cho người nộp thuế từ phía Nhà nước. 8 Như vậy, có thể hiểu thuế là một hình thức động viên bắt buộc của Nhà nước theo luật định, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và phục vụ cho lợi ích công cộng. 1.1.1.3 Đặc điểm của thuế Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối và được thể hiện ra là các đặc điểm của thuế. Nghiên cứu các đặc điểm của thuế cho phép chúng ta hiểu rõ hơn bản chất của thuế và phân biệt thuế với các khoản thu khác của NSNN. Thứ nhất, thuế là một khoản thu của NSNN mang tính bắt buộc Tính bắt buộc của thuế là tất yếu khách quan xuất phát từ đặc tính của hàng hoá công cộng. Với đặc tính của hàng hoá công cộng là có thể sử dụng chung và có khi có thể loại trừ, NN luôn là chủ thể cung cấp đại bộ phận hàng hoá công cộng cho xã hội nhằm đảm bảo độ thoả dụng tối đa của xã hội. Song không ai tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hàng hoá công cộng do NN đầu tư cung cấp như: quốc phòng, môi trường pháp luật, phòng dịch bệnh, tu sửa đê điều... Vì vậy, để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, tất yếu NN phải sử dụng quyền lực của mình để bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải nộp thuế cho NN. Tính bắt buộc của thuế thể hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp của mọi thể nhân và pháp nhân đối với lợi ích công cộng của toàn xã hội và được thể chế hoá trong hiến pháp của mỗi quốc gia. NN ấn định, ban hành các luật thuế và tổ chức bộ máy quản lý thu thuế; các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ thực hiện theo đúng luật định. Thể chế hoá thu nộp thuế bằng các văn bản pháp luật một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác nhằm tránh tuỳ tiện trong việc thu thuế và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Thứ hai, thuế là khoản thu của NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp. Thuế không gắn trực tiếp với lợi ích cụ thể mà người nộp thuế được hưởng từ hàng hoá công cộng do NN cung cấp. Các thể nhân, pháp nhân thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho NN theo luật định không có quyền đòi hỏi NN phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hoá dịch vụ nào đó hoặc hoàn trả số thuế họ đã nộp đúng theo luật định. Mức độ chuyển giao thu nhập của các thể 9 nhân và pháp nhân cho NN thông qua thuế được xác định dựa trên cơ sở thực trạng kinh tế - xã hội, mục tiêu phát triển đất nước và nhu cầu tài chính chung của NN trong từng giai đoạn cụ thể. Đặc điểm này giúp ta phân biệt thuế với các khoản thu phí, lệ phí của NSNN. Phí và lệ phí cũng là các khoản thu mang tính bắt buộc của NSNN, nhưng tính bắt buộc của phí và lệ phí gắn trực tiếp với việc khai thác và hưởng thụ lợi ích từ những dịch vụ công cộng nhất định do NN cung cấp mà theo quy định của pháp luật có thu phí hoặc lệ phí. Tuy vậy, thuế là một khoản động viên của NN mang tính chất hoàn trả gián tiếp. Sự hoàn trả này được thể hiện thông qua việc khai thác hưởng thụ lợi ích từ hàng hoá công cộng do NN đầu tư cung cấp của các thể nhân và pháp nhân trong xã hội. Thứ ba, thuế là một hình thức phân phối của cải xã hội chứa đựng các yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội. Nhà nước đánh thuế thực chất là NN tham gia vào phân phối thu nhập của các thể nhân, pháp nhân nhằm tập trung một bộ phận tổng sản phẩm quốc dân vào trong tay NN và điều tiết thu nhập giữa các thể nhân, pháp nhân. Nhà nước và thuế khoá là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau, chính sách thuế của một quốc gia luôn gắn liền với bản chất chính trị của NN và lợi ích của mọi thể nhân, pháp nhân; vì vậy chính sách thuế luôn chứa đựng yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội rộng lớn. Nguồn thu của thuế là kết quả của các hoạt động kinh tế - xã hội và thuế có tác động đến lợi ích của mọi chủ thể trong xã hội, tác động đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội như tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, giá cả, thị trường, việc làm, thất nghiệp, công bằng xã hội... 1.1.2 Vai trò của thuế Với những đặc điểm vốn có như đã phân tích ở trên, thuế có vai trò là công cụ chủ yếu trong việc tập trung nguồn lực vào NSNN đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của NN và thực hiện điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước có thể thực hiện phát hành tiền, vay trong nước hoặc vay ngoài nước, bán tài sản quốc gia và đánh thuế để huy động nguồn lực nhằm duy trì sự tồn tại của bộ máy và trang trải các chi phí thực hiện các chức năng nhiệm vụ mình. Phát hành tiền để chi tiêu là biện pháp đơn giản nhất, song việc phát hành 10 tiền thiếu cơ sở vật chất đảm bảo sẽ gây hậu quả tiêu cực đối với các quá trình kinh tế xã hội. Vay nợ trong nước hay ngoài nước, suy cho cùng thì cũng phải tìm nguồn để trả nợ, không chỉ nợ gốc mà cả tiền lãi và nếu vay ngoài nước còn bị lệ thuộc vào bên ngoài về chính trị - kinh tế ở mức độ nhất định. Tài sản quốc gia cũng chỉ có giới hạn nhất định, nên việc bán tài sản quốc gia không thể được coi là biện pháp chủ yếu để huy động nguồn lực cho NN. Do vậy, ở hầu hết các quốc gia, thuế là công cụ giữ vai trò chủ yếu trong việc huy động nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của NN. Quá trình phát triển thuế qua các thời đại cho thấy khi Nhà nước nhận thức về thuế ngày càng đầy đủ thì càng sử dụng thuế một cách thành thạo và linh hoạt và do đó càng phát huy vai trò của thuế đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Nếu như ở thời gian đầu thuế đúng vai trò tạo khoản thu chủ yếu cho NSNN thì đến nay thuế đó được sử dụng như một công cụ sắc bén để điều chỉnh hoạt động kinh tế vĩ mô và là một công cụ góp phần tạo ra công bằng xã hội, thể hiện qua các lĩnh vực dưới đây. 1.1.2.1 Tạo nguồn thu chủ yếu cho NSNN Với mục đích tìm nguồn vật chất tài trợ cùng chi, Chính phủ có thể sử dụng nhiều phương thức ngoài thuế như: quyên góp dân chúng, xin viện trợ từ nước ngoài, vay trong và ngoài nước, cho thuê công sản, bán tài nguyên thiên nhiên, khai thác được đầu tư kinh doanh, phát hành tiền... Song chúng không thể tạo ra số thu nhập vừa dồi dào, bền vững kịp thời cho Nhà nước. Chỉ duy nhất thuế tạo ra được nguồn thu như vậy. Chúng ta khẳng định tạo nguồn thu chủ yếu cho Nhà nước là vai trò độc tôn của thuế. Để giữ đúng vai trò tạo số thu quan trọng nhất vào NSNN, thuế phải bao quát hầu hết mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, chế biến, sửa chữa, chế tạo, khai thác, xây dựng, vận tải, buôn bán, ăn uống, dịch vụ... mọi nguồn thu nhập thường xuyên, không thường xuyên và mọi hoạt động tiêu dùng xã hội. Một nền tài chính quốc gia chỉ lành mạnh khi dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ nền kinh tế, nguồn thu đó chính là thu nhập quốc dân nội địa. Mọi sự trông cậy dựa vào bên ngoài chỉ mang lại những hiệu quả xấu và kéo dài. Nhằm đảm bảo nguồn vật chất, cung ứng kịp thời cho nhu cầu chi thường xuyên ngay cả khi nền kinh tế có những biến động không thuận lợi. Thuế gián thu luôn được coi trọng bởi tính ổn định của nó tốt hơn tính ổn định của thuế 11 trực thu. Thuế gián thu dựa trên cơ sở tiêu dùng xã hội mà xã hội thì không thể ngừng tiêu dùng cho dân nếu kinh tế sẽ bị khủng hoảng. Việc coi trọng thuế gián thu còn xuất phát từ nguyên lý đánh thuế vào những gì mà người thu thuế lấy đi của xã hội sẽ có tác dụng tốt hơn là đánh vào những gì mà đối tượng chịu thuế nhập vào cho xã hội. hơn nữa, do cơ chế thuế đánh thuế vào giá bán nên thuế gián thu được người chịu thuế dễ dàng chấp nhận. Thông qua thuế một phần tổng sản phẩm quốc nội được động viên để hình thành NSNN. Tuy nhiên, nếu Nhà nước dùng sức mạnh để phân phối quá mức GDP thì phần thuộc về doanh nghiệp và gia đình giảm xuống. Họ sẽ cảm thấy công sức bỏ vào kinh doanh và làm việc được đền bù không thỏa đáng và từ đó sẽ chuyển sang kinh doanh ngầm nhằm trốn thuế hoặc chấm dứt kinh doanh. Nói một cách khác, nếu Nhà nước ngày càng tăng áp lực thu thuế, người nộp thuế càng bị thôi thúc trốn thuế bởi một mãnh lực vô hình. Do đó khi tái phân phối thu nhập xã hội bằng thuế phải chú ý đến khả năng thu thuế của từng doanh nghiệp và cá nhân. Khả năng thu thuế tùy thuộc vào bản chất và trạng thái kinh tế truyền thống của mỗi quốc gia. Sự hiểu biết và thái độ của dân chúng đối với các chương trình hành động và sức mạnh quyền lực của Nhà nước. Khả năng thu thuế là một khái niệm lý thuyết được dùng để phân định ranh giới phân chia hợp lý thu nhập xã hội giữa khu vực công và khu vực tư. Nhà nước động viên thuế chưa đạt giới hạn khả năng thu thuế thì nguồn lực xã hội tập trung vào tay Nhà nước chưa thật đầy đủ. Nếu Nhà nước động viên vượt ra giới hạn khả năng thu thuế thì sẽ hao mòn khả năng tích lũy tái sản xuất mở rộng tại doanh nghiệp và làm giảm số thu tương lai. 1.1.2.2 Thuế là công cụ tài chính chủ yếu của Nhà nước để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Như đã nêu trên, để thực hiện được vai trò điều tiết nền kinh tế của mình, Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau. Song các nhà kinh tế đều gặp nhau ở một điểm chung là: Công cụ phổ biến và quan trọng nhất (hàng đầu) chỉ có thể kể đến thuế khóa. GS.TSKH Tào Hữu Phùng đã lập luận khá xác đáng khi cho rằng: "Thuế - về bản chất kinh tế, là một công cụ tài chính hết sức quan trọng, không chỉ tạo nguồn thu chi ngân sách nhà nước mà có tác dụng điều chỉnh nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Hơn nữa trong thuế luôn tồn tại mối quan hệ lợi 12
- Xem thêm -