Môn quốc sử cho cấp tiểu học trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906 - 1919

  • Số trang: 370 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 59 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------- NGUYỄN ĐỨC BÁ MÔN QUỐC SỬ CHO CẤP TIỂU HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ 1906 -1919 (Qua nghiên cứu Quốc sử Tiểu học lược biên 國 史 小 學 略 編 LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hán Nôm Hà Nội - 2013 4 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------- NGUYỄN ĐỨC BÁ MÔN QUỐC SỬ CHO CẤP TIỂU HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ 1906 -1919 (Qua nghiên cứu Quốc sử Tiểu học lược biên 國 史 小 學 略 編 LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hán Nôm Mã số : 60.22.40 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Phạm Văn Khoái Hà Nội - 2013 5 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 4 CHƢƠNG I CẤP TIỂU HỌC CỦA CHƢƠNG TRÌNH ................................ 13 CẢI LƢƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ 1906 – 1919 VÀ MÔN QUỐC SỬ .. 13 1.1. CẢI LƢƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ CHỮ HÁN (1906-1919) ........ 13 1.1.1. Chính sách cai trị về phƣơng diện giáo dục của thực dân Pháp sau 1884 ......................................................................................................... 13 1.1.2. Sự đòi hỏi của xã hội cho sự thay đổi giáo dục khoa cử ................. 17 1.1.3. Cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán .............................................. 23 1.1.4. Hệ thống trƣờng của giáo dục khoa cử cải lƣơng (1906-1019) ...... 24 1.2. MÔN QUỐC SỬ TRONG CHƢƠNG TRÌNH CẢI LƢƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ CHỮ HÁN(1906-1919) ................................................... 27 1.2.1. Môn Quốc sử và Sách giáo khoa cho môn Quốc sử ....................... 27 1.2.2. Cải lƣơng thi Hƣơng, thi Hội và môn Quốc sử ............................... 29 1.3. QUỐC SỬ TIỂU HỌC LƯỢC BIÊN – VĂN BẢN VÀ KẾT CẤU .... 33 1.3.1. Văn bản “Quốc sử Tiểu học Lƣợc biên” ........................................ 33 1.3.2. Kết cấu của “Quốc sử Tiểu học lƣợc biên” .................................... 34 1.4.2. Tác giả Phạm Huy Hổ / 范 輝 琥 ................................................... 39 CHƢƠNG II MÔN QUỐC SỬ CỦA CẤP TIỂU HỌC THỂ HIỆN TRONG SÁCH “QUỐC SỬ TIỂU HỌC LƯỢC BIÊN 国史小學略編”....................... 40 2.1. Mƣời nguyên tắc biên soạn của “ Quốc sử Tiểu học Lược biên” ........ 40 2.2. Sự dẫn nhập cận đại của “Quốc sử Tiểu học Lược biên” về lịch sử .... 43 2.2.1. Dẫn nhập cận hiện đại về Quốc sử ................................................. 44 1 2.2.2. Dẫn nhập cận hiện đại về Quốc hiệu .............................................. 46 2.2.3. Dẫn nhập cận hiện đại về Quốc dân, dân tộc .................................. 48 2.2.4. Dẫn nhập cận hiện đại về Quốc giới ............................................... 49 2.3. Hệ thống hóa diên cách địa danh theo bảng .......................................... 50 2.3.1. Bảng Hùng Vương phân rõ 15 bộ:.................................................. 50 2.3.2. Bảng đất Giao Chỉ cũ ..................................................................... 51 2.3.3. Bảng 3 quận do nhà Tần đặt ........................................................... 52 2.3.4, Bảng Triệu Vũ Đế phân quận Tượng làm hai, rồi hợp với Nam Hải, Quế Lâm gọi là nước Nam Việt ................................................................ 53 2.3.5. Bảng nhà Hán phân Nam Việt làm 9 quận gọi là Giao Chỉ ........... 53 2.3.6. Cương giới thời Trưng Nữ Vương phục quốc ................................ 53 2.3.7. Bảng phân chia ra Giao Châu và Quảng Châu của Tôn Hạo nhà Ngô ......................................................................................................... 54 2.3.8. Bảng Giao Châu thời Tấn ............................................................... 54 2.3.9. Bảng cương giới thời vua Lý Bí phục quốc .................................... 54 2.3.10. Bảng Đường đặt An Nam Đô Hộ Phủ làm 12 châu ..................... 54 2.3.11. Bảng cương giới thời Ngô Vương Quyền dựng nước ................... 55 2.3.12. Bảng cương giới phía Nam của triều Lý, Trần về sau ................. 56 2.3.13. Giải thích thêm địa danh Giao Chỉ, Giao Châu ........................... 56 2.4. Kết cấu “Chƣơng”, “Tiết” và thời lƣợng cho môn Quốc sử ................. 56 2.4.1. Kết cấu “Chƣơng” của Quốc sử Tiểu học Lược biên ..................... 56 2.4.2. Kết cấu “tiết” của Quốc sử Tiểu học Lược biên ............................. 59 2.4.3. Thời lượng cho môn Quốc sử cho cấp Tiểu học ............................ 61 2.5. Đôi điều về lƣợc biên Quốc sử Tiểu học Lược biên ............................ 62 2.5.1. Nguyên tắc cho lược biên............................................................... 62 2.5.2. Lược biên và tóm tắt lược biên ...................................................... 65 2 2.5.3. “Quốc sử Tiểu học Lược biên” với bộ sử trước đó ........................ 67 2.6. Tính chất cận đại, nhà trƣờng của “Quốc sử Tiểu học Lƣợc biên 國 史 小 學 略 編” ................................................................................................ 73 KẾT LUẬN ...................................................................................................... 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 81 3 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chƣơng trình cải lƣơng nền giáo dục khoa cử Hán học cũ theo định hƣớng giáo dục phổ thông đƣợc đánh dấu bằng việc ra đời của đạo Dụ ngày 31 tháng 5 năm 1906. Đó là bƣớc quá độ và cũng là cách thức và thực tế cho sự chuyển đổi từ giáo dục khoa cử truyền thống sang giáo dục phổ thông hiện đaị ở Việt Nam trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam lúc bấy giờ, khi Việt Nam nằm dƣới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và phong kiến còn cuộc đấu tranh cho nền độc lập của nƣớc nhà của nhân dân ta diễn ra theo xu hƣớng duy tân và cách mạng. Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán bao gồm tổng thể các vấn đề liên quan đến mục đích chuyển đổi và quá độ giáo dục, các yêu cầu của xã hội và lịch sử thúc đẩy bắt buộc phải có cải lƣơng và quá độ giáo dục, các cách thức bố trí chƣơng trình cấp học, các yêu cầu về kiến thức cho các cấp học, các hệ thống chƣơng trình cho các cấp học, các ngôn ngữ và văn tự đƣợc sử dụng trong chƣơng trình, các môn học, các hình thức thi cử và văn bằng, giá trị của các văn bằng đó trong xã hội biện pháp và cách thức Trong những biểu hiện cho chính sách cải lƣơng giáo dục ấy, cần phải kể đến sự phân chia cấp học, thiết lập chƣơng trình cũng nhƣ soạn lại sách giáo khoa, xác định môn thi, chƣơng trình thi … là những vấn đề có tính trọng tâm nhất. Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906, quy định có 3 cấp học: Ấu học (tuổi học từ 6 tuổi đến 12 tuổi), Tiểu học(tuổi học dƣới 27 tuổi), Trung học(tuổi học dƣới 30). Tƣơng ứng với các cấp học ấy là hệ thống sách giáo 6 khoa đƣợc Hội đồng biên soạn sách duyệt. Trong số các môn học bằng chữ Hán có hệ thống sách giáo khoa cần phải kể đến môn lịch sử Việt Nam. Môn Lịch sử Việt Nam mà lúc bấy giờ gọi là Quốc sử, Nam sử, Việt sử là một trong những môn học chủ yếu ở cả 3 cấp của hệ thống chƣơng trình này, đƣợc học bằng chữ Hán, sách giáo khoa cho môn học này cũng đƣợc biên soạn. Mỗi cấp có chƣơng trình học, sách giáo khoa và các yêu cầu riêng của mình. Với cấp Tiểu học có 國 史 小 學 略 編 - Quốc sử Tiểu học Lược biên. 國 史 小 學 略 編 - Quốc sử Tiểu học Lược biên là bộ sách giáo khoa môn Lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán cho cấp tiểu học của Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán kéo dài trong quãng thời gian dài 13 năm, từ 1906 đến 1919, đƣợc 范 輝 琥 Phạm Huy Hổ, một tác gia Hán văn cận đại biên soạn năm Duy Tân Đinh Mùi (1907). Hiện nay văn bản của bộ sách này vẫn còn đƣợc lƣu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang ký hiệu A. 1327, gồm 2 quyển, dầy 286 trang, kích thƣớc 29 x 15,5. Tuy lịch sử Việt Nam đã đƣợc biên soạn từ khá sớm nhƣ: Đại Việt Sử ký 大越史記 của Lê Văn Hƣu đƣợc biên soạn dƣới thời Trần Thái Tông (1225 – 1258), Đại Việt Sử ký Toàn thư 大越史記全書 đƣợc Ngô Sĩ Liên viết dƣới thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497), Đại Việt thông giám 大越通監 và Đại Việt Thông giám Tổng luận 大越通監總論 đều đƣợc viết dƣới thời vua Lê Tƣơng Dực (1509 – 1516) (…), song, đó là những bộ quốc sử đƣợc biên soạn theo tinh thần “minh chính thống”, “thông giám”, đề cập đến đạo trị nƣớc an dân của các bậc đế vƣơng, thuộc phạm trù “đế vƣơng chi học-cái học của đế vƣơng”. Các bậc đế vƣơng qua các bài học lịch sử để định đạo tu tề, trị bình, chính tam cƣơng, tuân thủ ngũ thƣờng. Quán thông, dẫn dắt lịch sử là đạo 7 cƣơng thƣờng. Đối tƣợng hƣớng vào của các bộ sách ấy trƣớc tiên là các bậc đế vƣơng chứ tuyệt nhiên không nhằm thể hiện cái học phổ thông. Do vậy, sự có mặt của những bộ sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho các cấp học của chƣơng trình Hán học cải lƣơng (1906 – 1919) có một ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu các vấn đề liên quan đến một loạt phƣơng diện nhƣ: bản chất của chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán; những nội dung cụ thể của quá độ và chuyển đổi giáo dục; những vấn đề về văn hóa xã hội đƣơng thời thể hiện trong cả cải lƣơng giáo dục khoa cử nói chung, trong môn quốc sử nói riêng; sự phổ thông hóa lịch sử; tính chất quốc dân của các tri thức lịch sử; giáo dục lịch sử cho quốc dân; tính chất cận hiện đại của môn quốc sử (….). Điều đó không chỉ có ý nghĩa cho việc khảo cứu lịch sử mà còn có ý nghĩa cho cuộc sống hiện tại, giáo dục hiện tại. Về mặt chuyên ngành, nghiên cứu bộ sách này giúp cho chúng ta hiểu thêm về Hán văn cận đại, mà cụ thể là Hán văn giáo dục, Hán văn cho môn Quốc sử. Từ những điểm nêu trên cho thấy, việc đề cập đến hệ thống sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cũng nhƣ việc phân tích văn bản Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 có ý nghĩa trong việc tìm hiểu giáo dục chữ Hán cải lƣơng, và tìm hiểu bƣớc quá độ từ giáo dục khoa cử chữ Hán sang giáo dục Pháp – Việt những thập niên đầu thế kỷ XX trong một môn học cụ thể-môn Quốc sử. Nhận thấy đây là bộ sách giáo khoa lịch sử chữ Hán không chỉ có ý nghĩa cho việc nghiên cứu Hán văn giáo dục trong hệ thống giáo dục cải lƣơng 1906 – 1919 mà còn có ý nghĩa liên quan đến một loạt các vấn đề nhƣ: quá độ và chuyển đổi giáo dục nói chung; quá độ và chuyển đổi văn hóa từ truyền thống sang hiện đại; quá độ từ cái học khoa cử sang cái học phổ thông cận hiện đại, cho nên chúng tôi đã chọn Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 nhƣ là 8 một minh chứng cho sự cải lƣơng giáo dục Hán văn làm đề tài cho luận văn Cao học Hán Nôm của mình. 2. Mục đích, ý nghĩa của đề tài: Đề tài trên đƣợc thực hiện nhằm có những mục đích sau đây: - Xác định vị trí môn Quốc sử trong Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906-1919 thông qua việc hệ thống hóa các sự kiện liên quan đến sự ra đời cũng nhƣ những điểm chính yếu nhất của chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán này; Hệ thống hóa sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho 3 cấp học của giai đoạn nghiên cứu. - Giới thiệu văn bản Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 về mặt văn bản học và kết cấu. Phiên âm, dịch nghĩa văn bản làm cơ sở tài liệu cho mọi phân tích về môn Quốc sử cho cấp Tiểu học trong Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906-1919. - Phân tích Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 từ góc nhìn nhƣ là một bộ sách giáo khoa lịch sử Việt Nam cho cấp Tiểu học trong Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử, chƣơng trình cho sự quá độ và chuyển đổi giáo dục từ khoa cử truyền thống sang giáo dục phổ thông hiện đại theo kết cấu của sách nhƣ: Các nguyên tắc của Phàm lệ; Sự dẫn nhập cận đại về Quốc sử; Bảng diên cách địa danh qua các đời; Các “chƣơng”, “tiết” của nó. 3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Đã có nhiều công trình về lịch sử giáo dục Việt Nam đề cập đến chƣơng trình giáo dục cải lƣơng, song do các yêu cầu của công tác viết lịch sử giáo dục, các nhà viết lịch sử giáo dục ấy không thể đi sâu vào phân tích tình hình 9 giáo dục Hán văn cho môn lịch sử Việt Nam. Hơn nữa, các công trình nghiên cứu lịch sử ấy, do những khó khăn về tƣ liệu nên thƣờng mới chỉ đề cập đến giáo dục Hán văn cho môn lịch sử Việt Nam dƣới góc nhìn phê phán quá nghiêm khắc. Do vậy, các công trình đó đã tự hạn chế mình, chúng không thể đi sâu vào phân tích tình hình của môn học lịch sử trong bƣớc chuyển văn hóa. Hơn nữa, tuy đã có một số công trình đề cập đến sách giáo khoa dạy lịch sử Việt Nam bằng chữ Hán, chữ Nôm (Nguyễn Thị Hƣờng, 2009, 2011) hay cũng có báo cáo về Quốc sử Tiểu học Lược biên nhằm giới thiệu bộ sách này (Đào Thị Huệ, 2012), song do xuất phát từ các mục đích và phạm vi nghiên cứu, vấn đề Quốc sử Tiểu học Lược biên đƣợc nhìn nhận nhƣ là một trƣờng hợp phục vụ cho nghiên cứu môn Quốc sử trong Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa của 1906-1919 vẫn là một vấn đề còn bị bỏ trống. Đó là một trong những lý do thúc đẩy chúng tôi đi vào đề tài này. 4. Đối tƣợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là môn Quốc sử cho cấp Tiểu học của hệ thống giáo dục khoa cử cải lƣơng ở Việt Nam 1906-1919 thể hiện trong văn bản Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Do đề tài này liên quan đến giai đoạn lịch sử khá đặc biệt của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nói chung, giáo dục chữ Hán cải lƣơng nói riêng nên phải quán triệt các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong việc nhận thức và đánh giá các sự kiện, cũng nhƣ các tình huống cụ thể. 10 Đồng thời, đề tài cũng yêu cầu vận dụng các phƣơng pháp trong nghiên cứu Hán Nôm và văn bản học, ngữ văn Hán Nôm, phân tích văn bản Hán Nôm nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề về văn học của văn bản Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編, bƣớc đầu nêu ra những nhận xét về bộ sách giáo khoa lịch sử này với tƣ cách nhƣ là bộ sách minh chứng cho môn Quốc sử của cấp Tiểu học trong Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử chữ Hán 1906-1919. 6. Đóng góp của luận văn - Luận văn đã đặt Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 trong mối liên hệ với Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906-1919. - Luận văn đã giới thiệu và phân tích kết cấu của Quốc sử Tiểu học Lược biên để làm rõ mối liên hệ với Quốc sử truyền thống và tính chất cận hiện đại cũng nhƣ tính quá độ giáo dục của Chƣơng trình cải lƣơng giáo dục khoa cử 1906-1919 thể hiện trong bộ sách này. - Luận văn cung cấp bản dịch Quyển thứ nhất của bộ sách nhƣ là một sự đóng góp và cống hiến cho học giới về mặt tƣ liệu. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Tài liện tham khảo, luận văn bao gồm 2 chƣơng và phần Phụ lục kèm theo. Chƣơng 1, với tiêu đề: CẤP TIỂU HỌC CỦA CHƢƠNG TRÌNH CẢI LƢƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ 1906 – 1919 VÀ MÔN QUỐC SỬ, nhằm nêu lên một cái nhìn chung về hệ thống trƣờng 3 cấp của nền cải lƣơng giáo dục chữ Hán 1906-1919 nói chung, cấp Tiểu học nói riêng, đồng thời bƣớc 11 đầu giới thiệu Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 về mặt văn bản học, làm cơ sở cho những phân tích của chƣơng sau. Chƣơng 2, với tiêu đề : MÔN QUỐC SỬ CỦA CẤP TIỂU HỌC THỂ HIỆN TRONG SÁCH “QUỐC SỬ TIỂU HỌC LƢỢC BIÊN 国史小學略編”, nhằm phân tích các vấn đề về các nguyên tắc của biên soạn Quốc sử nhƣ là một môn học, các mục bài có tính dẫn nhập và các bảng biểu có tính hệ thống hóa về Quốc sử, hệ thống chƣơng, tiết và sơ bộ về tính chất lƣợc biên của Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 để qua đó làm rõ những nội dung chủ yếu của môn Quốc sử cho cấp Tiểu học nền cải lƣơng giáo dục chữ Hán 1906-1919 . Phụ lục kèm theo luận văn này là nguyên văn chữ Hán và bản dịch Phần đầu và Quyển nhất của Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 ký hiệu A.1327 hiện đang lƣu trữ viện Viện nghiên cứu Hán Nôm. 12 CHƢƠNG I CẤP TIỂU HỌC CỦA CHƢƠNG TRÌNH CẢI LƢƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ 1906 – 1919 VÀ MÔN QUỐC SỬ Chƣơng này nhằm nêu lên một cái nhìn chung về hệ thống trƣờng 3 cấp của nền cải lƣơng giáo dục chữ Hán 1906-1919 nói chung, cấp Tiểu học nói riêng, vị trí của môn Quốc sử trong cấp Tiểu học của chƣơng trình đó, đồng thời bƣớc đầu giới thiệu Quốc sử Tiểu học Lược biên 国史小學略編 về mặt văn bản học và kết cấu. 1.1. CẢI LƢƠNG GIÁO DỤC KHOA CỬ CHỮ HÁN (1906-1919) 1.1.1. Chính sách cai trị về phƣơng diện giáo dục của thực dân Pháp sau 1884 Năm 1884 và các năm sau đó, đất nƣớc chúng ta có một số sự kiện chính yếu nhƣ sau: Hoà ƣớc Pa-tơ-nốt (Patennôtre)đƣợc ký vào năm 1884; cuộc 13 chiến của vua Hàm Nghi và sau đó là phong trào Cần vƣơng (1885-1897) của văn thân yêu nƣớc theo đƣờng nho học kiểu cũ, trung quân, dựa trên đạo cƣơng thƣờng, nghĩa quân thần (….). Trƣớc tình hình đó, chính quyền thực dân với các tổng trú sứ và toàn quyền nhƣ Paul Bert (1886), De Lanessan (1891-1894) đã nghiêng về đƣờng lối mua chuộc nho sĩ, dùng triều đình Huế phục vụ cho các âm mƣu của chúng [lập Viện Hàn Lâm Bắc Kỳ, tiếp tục giữ nguyên khoa cử từ chƣơng, tiếp tục dùng chữ Hán trong hành chính, cung cấp tiền cho tu sửa đền miếu, tổ chức lễ bái trong các đền miếu...]. Đƣờng lối cai trị có tính chất “association - hợp tác” ấy đã đƣợc áp dụng nhằm ổn định xã hội, dẹp yên phong trào Cần vƣơng. Bên cạnh chính sách thực dân “association - hợp tác” , chính quyền thực dân lại thực hiện cả chính sách đồng hoá (assimilation) nhằm Pháp hoá Việt Nam theo liều lƣợng và tiến trình phù hợp. Bên cạnh việc duy trì giáo dục khoa cử, thực dân Pháp lại mở hệ thống trƣờng Pháp Viêt. Ở Việt Nam lúc đó tồn tại hai loại giáo dục: a. Hệ thống giáo dục khoa cử b. Hệ thống giáo dục Pháp Việt Hai hệ thống giáo dục này khác nhau về một loạt vấn đề. Hệ thống giáo dục khoa cử vốn là hệ thống giáo dục nho học, lấy thánh kinh hiền truyện làm đối tƣợng, lấy Hán văn làm ngôn ngữ, lấy Quốc Tử Giám là trƣờng trung tâm, lấy dân gian làm trƣờng thiên thành, lấy Hƣơng, Hội, Điện làm kỳ thi, lấy cử nghiệp (chọn ngƣời ra quan) làm mục đích. Hệ thống giáo dục Pháp Việt lấy khoa học châu Âu làm đối tƣợng, lấy Pháp ngữ làm mục đích, lấy quốc ngữ làm chuyển ngữ, lấy chia trƣờng làm cấp học (trƣờng sơ cấp - trƣờng tiểu học - trƣờng trung học). Nền giáo dục ấy chia làm hai loại: giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp. Giáo dục phổ thông là giáo dục cho mọi ngƣời dân, cả nam cả nữ, với 3 cấp học (sơ cấp 14 - tiểu học - trung học). Giáo dục chuyên nghiệp gồm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục cao đẳng - đại học theo từng chuyên môn. Dù trong hoàn cảnh của chế độ thực dân, nhƣng giáo dục trong hệ thống trƣờng Pháp-Việt là giáo dục hiện đại, là lối thoát, lối đi lên cho giáo dục bản xứ. Hai loại giáo dục ấy khác nhau về chiều hƣớng phát triển. Sau Hoà ƣớc 1884, những kinh nghiệm trong việc giáo dục ở Nam Kỳ đã đƣợc áp dụng ở Bắc Kì và Trung Kì. Từ năm 1886, Paul Bert đã cho mở một hệ thống các trƣờng thuộc hệ thống giáo dục Pháp-Việt ở Hà Nội nhƣ: trƣờng thông ngôn, 9 trƣờng Tiểu học cho nam sinh, 4 trƣờng tiểu học cho nữ sinh, 2 trƣờng dạy nghề, 1 trƣờng dạy vẽ... nhƣ trên đây chúng tôi đã nêu. Vào cuối thế kỷ XIX, hầu hết các tổng xã Nam Kì có trƣờng Tiểu học Pháp-Việt. Ở Bắc Kì và Trung Kì hệ thống trƣờng này còn ít. Năm 1900, Hà Nội: 15 trƣờng; Hải Phòng: 5 trƣờng; Nam Định: 4 trƣờng; Thanh Hoá: 2 trƣờng; Vinh: 3 trƣờng; Huế: 2 trƣờng. Hội An, Nha Trang mỗi nơi 1 trƣờng. Ngày 27-4-1904, thực dân Pháp ra Nghị định thiết lập Chƣơng trình giáo dục hệ Pháp-Việt ở Bắc Kì. Cần lƣu ý một đôi lời rằng, giáo dục Pháp-Việt đã khởi đầu từ năm 1867 ở sáu tỉnh Nam Kì. Học quốc ngữ và qua chuyển ngữ quốc ngữ ở đây để tiến tới Pháp hóa Pháp ngữ. Lúc đầu, loại trƣờng này bị tẩy chay. Thực dân Pháp phải bắt ngƣời đi học, cấp tiền, cấp mọi vật liệu, sách vở cho ngƣời đi học, thuê tiền cho ngƣời đi học nhƣng vẫn chẳng có mấy ngƣời. Ngƣợc lại, trƣờng chữ nho, trƣờng của thầy đồ dù bị cấm đoán, hạn chế nhƣng lại đông ngƣời đến học vì đi học ở đây đƣợc coi là “giữ đạo nhà”. Trong khoảng gần 10 năm việc giáo dục ở Nam Kỳ lục tỉnh dùng dằng giữa hai loại trƣờng tây - trƣờng ta nhƣ thế. Nhƣng tình hình đã thay đổi từ năm 1874 khi Pháp thành lập cơ quan Học chính Nam Kì, đƣa ra quy chế giáo dục. Thầy đồ muốn mở trƣờng phải xin phép chính quyền. Trƣờng thầy đồ 15 nếu dạy quốc ngữ và chữ Pháp sẽ đƣợc nhận tài trợ. Giáo dục gồm 2 cấp. Tiểu học và Trung học. Tiểu học học các môn: chữ quốc ngữ, chữ Hán, chữ Pháp, toán, khoa học. Thời gian học là 3 năm. Cuối khoá có thi. Thi đậu sẽ đƣợc tuyển vào làm ở các công sở Pháp hoặc học lên. Học xong Tiểu học thì vào trƣờng Trung học bảo hộ với các môn nhƣ ở Tiểu học nhƣng ở cấp học cao hơn và học cả lịch sử địa lý... Tốt nghiệp trƣờng trung học bảo hộ - Trƣờng Chasseloup Laubat sẽ có lƣơng gấp đôi so với có bằng Tiểu học. Năm 1879, qui chế giáo dục thứ hai ra đời. Giáo dục chia làm 3 cấp: Sơ học, Tiểu học, Trung học. Sơ học học 3 năm với các môn: chữ quốc ngữ, tiếng Pháp, làm toán. Học xong Sơ học phải thi tốt nghiệp mới lên Tiểu học. Tiểu học học các môn: chữ quốc ngữ, tiếng Pháp, chữ nho, toán, khoa học, lịch sử, địa lý... Cuối cấp phải thi tốt nghiệp. Tốt nghiệp Tiểu học mới đƣợc vào Trung học. Trung học học 4 năm. Học xong, thi tốt nghiệp Trung học. Tuy có kinh nghiệm giáo dục nhƣ thế ở Nam Kì, nhƣng chính quyền thực dân vẫn duy trì chế độ khoa cử sau năm 1884 với một khoảng thời gian hơn 20 năm vì các tính toán nham hiểm để đánh lừa, ru ngủ nhân dân ta, nhất là với tầng lớp “thức tự ”. Những năm đầu thế kỉ XX, một bộ phận nhà Nho ƣu tú, yêu nƣớc, nhiều ngƣời trong số họ từng tham gia cử nghiệp đã nhận ra âm mƣu nham hiểm của thực dân Pháp khi chúng duy trì khoa cử cặn bã, lạc hậu, bảo thủ. Chịu ảnh hƣởng của những tác động khu vực và quốc tế, họ nhận ra những sai lầm khi theo đuổi cử nghiệp. Họ đã đứng dậy phê phán cử nghiệp, đả đảo khoa cử từ chƣơng. Họ đòi thực hiện một nền giáo dục thực nghiệp, có ích. Chính họ đã tạo ra một áp lực xã hội đòi hỏi chính quyền thực dân phải thay đổi chế độ giáo dục. 16 1.1.2. Sự đòi hỏi của xã hội cho sự thay đổi giáo dục khoa cử Những năm đầu thế kỉ XX, tình hình thế giới và khu vực đã ảnh hƣởng đối với Việt Nam. Nhật Bản Duy tân, những năm cuối thế kỷ XIX ; Cuộc vận động Duy tân ở Trung Quốc vào những năm 1895 – 1898; Hải chiến Giáp Ngọ giữa Nhật Bản và Trung Quốc nhà Thanh; Chiến tranh Nga Nhật 1905 mà Nga bại Nhật thắng; Tân thƣ, Tân văn, Tân báo đã mang đến cho ngƣời Việt Nam một cách nhìn mới, một tƣ tƣởng mới. Biết bao ngƣời đã từng qua vòng cử nghiệp, khi họ giác ngộ, nhận thấy trong cuộc “tân vận hội” cần phải: “Đúc gan sắt để dời non lấp bể”, “Lấy máu nóng rửa vết dơ nô lệ”, “Ghé vai vào xốc vác cựu giang sơn” xả thân vì nghĩa lớn. Họ kêu gọi anh em hãy cảnh giác, hãy nhận ra âm mƣu của thực dân, hãy tránh xa bùa mê thuốc lú của khoa cử (…). Chính điều đó đã tạo nên một làn sóng duy tân sôi nổi, bồng bột khắp các miền đất nƣớc. Xin dẫn ra ở đây một đoạn trích từ “Hòa lệ cống ngôn-Hòa lệ dâng lời” của Phan Bội Châu năm 1906 để làm rõ tinh thần ấy. “Kính gửi 6500 thí sĩ đồng bào túc hạ! Nƣớc mất 30 năm rồi! Giống nòi ta 10 phần bị tiêu diệt đến 6,7 phần rồi. Lũ giặc dị chủng lợi dụng những ngƣời biết chữ, đọc sách chúng ta diệt giống nòi ta. Thế nào là nƣớc mất? Từ khi bọn giặc dị chủng đến phá kinh thành nƣớc ta, đoạt quốc quyền của chúng ta, vua hãm trong cung sâu, không khác tù đày; quan lại nhân dân bị đánh roi đòn, khác gì trâu ngựa. Hết thảy chính quyền, không kể lớn bé, nằm trong tay giặc. Các anh em hãy nhìn lá cờ cắm trong trƣờng thi là lá cờ ta chăng? hay là cờ ba sắc của giặc nhỉ? Lúc này là lúc nào nếu không phải là lúc đồng bào chúng ta, phàm là ngƣời có huyết khí đều vật vã khóc lóc, dấn thân vì nạn nƣớc, gối đất phủ sƣơng để chịu tang nƣớc, nếm mật nằm gai báo quốc đó sao? Các anh em còn mặt mũi nào mà tham gia ứng thí nữa? Thế nào là giống nòi bị diệt? Dã tâm của giặc nhƣ hổ 17 ngoạm, tằm ăn, thực không sao kể xiết, nhƣng âm mƣu đoạt lấy mệnh mạch của chúng ta, đó là cái chính. Chính phủ giặc thu thuế chúng ta đến muôn hình vạn trạng, thƣơng nhân giặc cƣớp đoạt lợi quyền của chúng ta đến muôn ức vạn, ngay cả cứt đái dơ bẩn cũng vơ vét hết, nên dân ta, kẻ nghèo chết trƣớc, ngƣời giàu chết sau, đói rét đến thân, tinh khí hao tổn, giống nòi chẳng sinh, dẫu có sinh nhƣng chẳng có dƣỡng. Các anh em hãy xem của cải trong nhà, trai gái sinh nở, so với 10 năm trƣớc đây thế nào? Đã không binh hỏa, lại không thiên tai, mà tình cảnh lại đến mức nhƣ thế là do ai nhỉ? Lúc này là lúc nào, nếu không phải là lúc mà những ngƣời có huyết khí trong số đồng bào chúng ta chau mày, nhăn trán, đêm ngày dằn vặt, mƣu tính gìn giống giữ nòi, vì liệt tổ liệt tông của chúng ta đang yên nghỉ nơi chin suối, vì cha mẹ hiền từ mang nặng đẻ đau mà rửa mối nhục mất nƣớc hay sao? Các anh em còn mặt mũi nào mà tham gia ứng thí với giặc?”. Trên cơ sở lƣu ý anh em thức tự biết về tâm trạng của đất nƣớc giống nòi, Phan Bội Châu đi vào phân tích âm mƣu của bọn giặc diệt chủng mà anh em thức tự hoặc vô thoặc hữu ý vì đam mê cử nghiệp đã bị giặc lợi dụng để đi đến một luận điểm có tính chất mấu chốt rằng, giặc đã lợi dụng những ngƣời thức tự cho âm mƣu diệt chủng của chúng: “Sao lại nói giặc lợi dụng những ngƣời biết chữ chúng ta diệt giống nòi ta? Nƣớc ta gần đây, ngƣời có thể nắm quyền bính ở trên dân chúng, ấy là kẻ sĩ; ngƣời có thể hút máu liếm mủ cũng là kẻ sĩ. Ôi kẻ sĩ, tự cho mình nhiệm vụ “lấy đạo giác ngộ dân, thác không dời dối, đạo may vẹn toàn”, đó là điều muôn dân trông mong ở nơi kẻ sĩ. Há lại có thể muối mặt theo giặc, táng tận lƣơng tâm, điên khùng mất trí, không điều xấu nào không làm, để đến nỗi nhƣ bây giờ ƣ? Thế mà chính phủ giặc đối xử với kẻ sĩ, bóc tƣớc tất cả những gì là quốc túy, chỉ lƣu lại thứ khoa cử cặn bã này, dụ để rồi hãm hại anh em, dỗ anh em bằng hƣ hàm, lấy lộc mỏng nhử an h em, biến anh em thành chó săn, bắt anh em làm kẻ thu thuế vơ vét, tróc thuế 18 thu đòi, bày đặt móc moi, gây bao oan ngục, cắn cả chú bác, cậu mợ, cha mẹ anh em để bồi dày túi tham cho giặc. Đem cả đời làm chó săn, nịnh bợ lũ sài lang dị chủng để rồi cái mình thu đƣợc chẳng qua cũng chỉ là những cục xƣơng thừa, thịt thối mà thôi. Sao anh em chẳng nghĩ “thỏ đã hết chó săn phải chết” vốn là lẽ thƣờng có xƣa nay. Nƣớc mất, giống nòi bị diệt ấy là do thế cục tạo nên. Các anh em còn mặt mũi nào mà tham gia ứng thí của giặc nữa. “Gái điếm hay đâu hờn mất nƣớc. Cách sông còn hát Hậu đình hoa” thật là câu đáng đƣợc ngâm vì anh em đấy. Này Tiến sĩ, này Cử nhân, này Tú tài, quả là những mồi nhử độc ác khiến giống nòi ta bị tiêu diệt, nƣớc ta bị mất. Sau đây chục năm nữa, cháu con tuyệt diệt, phần mộ hoang vu, lúc ấy hƣ danh Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài gửi cho ai nhỉ? Cho ai nhỉ? Liệt tổ liệt tông ngậm hờn dƣới suối hoàn toàn chẳng muốn nhận hƣ danh do chính phủ giặc phong tặng, hơn nữa các cụ lại còn sụt sùi nhỏ lệ đến mức khạc nhổ cả ra”. Nƣớc mất giống nòi bị diệt là do cục thế tạo nên. Trong cái cục thế nƣớc mất khiến chủng diệt, vậy mà sĩ tử - những ngƣời tự nhiệm “lấy đạo giác dân” mà chính mình lại chƣa giác ngộ. Vì vậy, Phan Bội Châu đã viết nhiều câu nhằm cho họ tỉnh ngộ lại. “Các anh em còn mặt mũi nào mà tham gia ứng thí nữa … Tiến sĩ cử nhân để làm gì khi mà nƣớc mất chủng diệt, mồ mả cha ông bị giày xéo …”. “Sau đây vài chục năm nữa, con cháu tuyệt diệt, phần mộ hoang vu, lúc ấy hƣ danh Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài giữ cho ai nhỉ …”. Từ sự giác ngộ sĩ tử về tình thế đất nƣớc chủng tộc, vạch trần các âm mƣu thâm độc của giặc, Phan Bội Châu kêu gọi và cổ động họ hãy gánh vác trách nhiệm của kẻ sĩ trong hoàn cảnh thời thế bấy giờ. “Ôi! Đọc sách, làm sáng tỏ nghĩa lý là kẻ sĩ mà thôi, có tƣ tƣởng vĩ đại cũng là kẻ sĩ, gánh nặng đƣờng xa cũng là kẻ sĩ. Các anh em hãy xem rộng các sách Âu Á tân thƣ, tiểu sử các anh hung vĩ đại, nhƣ Cát Tô Sĩ, nhƣ Lƣ Thoa, nhƣ Cát Điền Tùng Âm, Đại Ôi Trọng Tín. Đổi mới để tạo thời thế, không nhờ sức của kẻ sĩ thì nhờ ai? 19 Anh em ơi! Anh em ơi! Nếu anh em làm thì cũng đƣợc nhƣ thế đấy! Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy đạo đức phụ trợ, tự chính mình để khiến ngƣời khách cũng chính theo, tự lo cho mình để rồi lo cho ngƣời khác, tẩy rửa tập quán nô lệ xấu xa, gây tiếng vang độc lập trƣớc, ấy là trách nhiệm của ngƣời đức sĩ. Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy hung biện phụ trợ, tìm nơi diễn thuyết, khiến ngƣời yếu trở nên mạnh, kẻ ngu thành trí, khơi dậy nhân tâm đã chết, hô hào tinh thần yêu nƣớc, ấy là trách nhiệm của những ngƣời chí sĩ. Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy dũng khí phụ trợ, vẫy áo đứng dậy, bôn tẩu khắp hoàn cầu, chọn lựa văn minh, mƣu đồ khôi phục, ấy là trách nhiệm của những ngƣời nghị sĩ. Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy ý tƣởng phụ trợ, trƣớc thƣ, lập ngôn, theo bệnh bốc thuốc, cố gắng, khuyến học, chung đức anh hùng, ấy là trách nhiệm của kẻ triết sĩ đó. Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy mƣu lƣợc hỗ trợ, xét muốn biến còn trong mầm non, thu núi song trong tàn cục, làm cho kẻ mạo hiểm không nhầm phƣơng châm, ấy là trách nhiệm của kẻ sách sĩ đó. Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy sảng khoái hỗ trợ, theo Kinh Kha, theo Sĩ Nhiếp, vì ngƣời dân nƣớc rửa sạch bất bình, khiến thù trong giặc ngoài chạy đâu cũng không thoát khỏi búa rìu, ấy là trách nhiệm cảu hiệp sĩ đó. Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy khoa học phụ trợ, sƣu tập máy móc, chấn hƣng công nghiệp, vì tổ quốc đổi lợi quyền, ấy là trách nhiệm của kẻ mỹ thuật sĩ đó. Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy thao lƣợc phụ trợ, gạn lọc tinh thần, tập binh nghiệp cho đại thành, kích thích tinh thần thƣợng võ, dạy dỗ quân sự cho quốc dân, ấy là trách nhiệm cảu tƣớng sĩ mƣu lƣợc. Lấy nhiệt thành làm chủ, lấy ái quốc làm mục đích, liên kết đoàn thể, trao đổi tri thức, phục tòng công lý, tu công dân đức, giữ công dân nghĩa, lập công dân ƣớc, xƣớng công dân quyền, cùng làm thầy, cùng bảo vệ nhau, cùng giúp đỡ, thƣơng xót nhau, không ghen ghét kiêu ngạo với nhau, không lừa dối, khinh nhờn nhau, không nghi kỵ nhau. Cho nhau trách nhiệm thì ai ai cũng đều tự lập, gộp nhau vào thì khối hợp quần. Đó là trách nhiệm chung của 20
- Xem thêm -