Mối quan hệ giữa cung tiền, lãi suất, thanh khoản và giá chứng khoán ở việt nam và khu vực asean

  • Số trang: 50 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH Bài nghiên cứu với mục đích kiểm định mối quan hệ giữa cung tiền, lãi suất, tính thanh khoản và giá chứng khoán tại Việt Nam và khu vực ASEAN, chúng tôi đã sử dụng bộ dữ liệu thu thập theo tháng và quý từ năm 2001 đến 2013 cho Việt Nam và 5 nước ASEAN khác là Malaysia, Philippines, Singapore, Indonesia, Thailand. Chúng tôi tiến hành hồi quy bằng hệ phương trình đồng thời theo phương pháp 3-SLS. Đối với các nước ASEAN chúng tôi chay GMM cho từng phương trình. Kết quả thực nghiệm cho thấy ở Việt Nam cung tiền và giá chứng khoán có mối tương quan thuận, qua lại hai chiều cả khi có khủng hoảng và không có khủng hoảng. Lượng tiền trong lưu thông (thanh khoản) tác động tiêu cực đến giá chứng khoán; thu nhập của nền kinh tế có tác động ngược chiều đến giá chứng khoán. Thu nhập, lãi suất, lạm phát có tác động dương đến cung tiền. Trong khi đó, tại khu vực ASEAN cũng có những mối tương quan tương tự chỉ có một số điểm khác biệt so với Việt Nam, GDP (đại diện cho thu nhập) có tương quan ngược chiều với giá chứng khoán P trong trường hợp ở Việt Nam trong khi đó GDP có tác động tích cực đối với giá chứng khoán ở khu vực ASEAN MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG ........................................................................................................... 1 1. GIỚI THIỆU ................................................................................................................ 1 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY .................................................. 1 2.1. Cung tiền và giá chứng khoán ............................................................................... 1 2.1.1. Cung tiền tương quan dương với giá chứng khoán ..................................... 1 2.1.2. Một số quan điểm trái chiều ........................................................................ 6 2.2. Thanh khoản và giá chứng khoán .......................................................................... 8 2.3. Lãi suất và giá chứng khoán .................................................................................. 9 2.4. Mối quan hệ giữa các biến vĩ mô và giá chứng khoán ........................................ 11 2.5. Một số nghiên cứu về thị trường chứng khoán ở các nước thuộc khối ASEAN . 13 3. CÁC VẤN ĐỀ TRONG KINH TẾ LƯỢNG ............................................................ 16 3.1. Kiểm định tính dừng ............................................................................................ 16 3.2. Kiểm định đồng liên kết:...................................................................................... 16 3.3. Kiểm định quan hệ nhân quả Granger ................................................................. 17 4. DỮ LIỆU VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH. .................................................................. 18 4.1. Xây dựng giả thiết ................................................................................................ 18 4.2. Xây dựng hệ phương trình ................................................................................... 19 4.3. Dữ liệu.................................................................................................................. 20 5. KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH ........................................................................................... 21 5.1. Kết quả kiểm định trên Việt Nam ........................................................................ 21 5.1.1. Thống kê mô tả .......................................................................................... 21 5.1.2. Kiểm định tính dừng .................................................................................. 22 5.1.3. Kiểm định đồng liên kết theo Johansen ..................................................... 23 5.1.4. Kiểm định Granger .................................................................................... 23 5.1.5. Kết quả ước lượng hệ phương trình đồng thời bằng 3SLS ........................ 24 5.2 Kết quả kiểm định cho các nước khu vực ASEAN ............................................. 28 5.2.1 Kết quả kiểm định Singapore ........................................................................ 28 5.2.2 6 Kết quả kiểm định của các nước ASEAN ..................................................... 30 KẾT LUẬN ............................................................................................................... 34 PHỤ LỤC ............................................................................................................................ 1 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 1 DANH MỤC BẢNG Bảng 1. Thống kê mô tả các biến.................................................................................... 22 Bảng 2. Kiểm định tính dừng ......................................................................................... 22 Bang3. Kết quả kiểm đinh Granger .............................................................................. 24 Bảng 4. Kết quả hồi quy hệ phương trình khi không có biến giả ............................... 26 Bảng 5. Hồi quy hệ phương trình khi có biến giả dummy ........................................... 27 Bảng 6: Kết quả hồi qui Singapore không có kiểm soát khủng hoảng ....................... 29 Bảng 7. Kết quả hồi qui Singapore có kiểm soát khủng hoảng ................................... 30 Trang 1 1. GIỚI THIỆU Thị trường chứng khoán là một chủ thể chịu tác động của nhiều nhân tố, bao gồm các nhân tố kinh tế vĩ mô và vi mô. Mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô với giá chứng khoán đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Friedman (1961) là một trong những nhà nghiên cứu tiên phong đã xem xét tác động của cung tiền, lãi suất, thanh khoản đến giá chứng khoán , cho thấy đây là những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến thị trường chứng khoán. Tiếp nối theo ông, nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác về chủ đề này được tiến hành tuy nhiên các kết quả thực nghiệm trên các thị trường khác nhau vẫn là vấn đề có nhiều khác biệt, đôi khi trái ngược. Để làm cơ sở cho nghiên cứu, sau đây đề tài sẽ phân tích các lý thuyết và nghiên cứu trước đây liên quan đến các mối quan hệ này. 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1. Cung tiền và giá chứng khoán Giá của chứng khoán được xác định bằng hiện giá của dòng tiền trong tương lai, được tính toán bằng cách chiết khấu dòng tiền tương lai về hiện tại với một mức lãi suất chiết khấu. Theo lý thuyết kinh tế, cung tiền có mối liên kết chặt chẽ với lãi suất chiết khấu và do đó có tương quan với giá chứng khoán. Có quan điểm cho rằng cung tiền có tương quan cùng chiều với giá chứng khoán nhưng cũng có những quan điểm cho rằng mối quan hệ này là ngược chiều. 2.1.1. Cung tiền tương quan dương với giá chứng khoán Sellin (2001) cho rằng thay đổi trong cung tiền chỉ tác động tới giá chứng khoán khi thay đổi trong cung tiền làm thay đổi kỳ vọng về chính sách tiền tệ trong tương lai. Ông cho rằng cú sốc cung tiền dương trong hiện tại sẽ tạo ra một dự đoán về việc thắt chặt chính sách tiền tệ trong tương lai. Sự gia tăng sau đó trong cầu trái phiếu sẽ làm tăng lãi suất hiện hành. Khi lãi suất tăng lên, lãi suất chiết khấu cũng tăng, làm cho hiện giá của thu nhập trong tương lai giảm, giá chứng khoán giảm. Hơn nữa, Sellin (2001) cho rằng hoạt động kinh tế giảm do lãi suất tăng sẽ càng làm giá chứng khoán giảm thêm. Trang 2 Trái ngược với quan điểm của Sellin, các nhà kinh tế học theo trường phái nghiên cứu hoạt động kinh tế thực cho rằng cú sốc cung tiền dương sẽ làm giá chứng khoán tăng. Họ lập luận rằng thay đổi trong cung tiền sẽ cung cấp thông tin về cầu tiền, mà cầu tiền được tạo ra từ kỳ vọng về sản lượng trong tương lai. Nếu cung tiền tăng có nghĩa là cầu tiền tăng, điều này có ý nghĩa rằng sẽ có tăng trưởng. Và tăng trưởng có nghĩa là dòng tiền lớn hơn và giá chứng khoán cao hơn. Tiêu biểu cho trường phái này là Ben Bernanke và Kenneth Kutter (2005) cho rằng giá chứng khoán là một hàm số theo giá trị tiền tệ của chứng khoán và nhận thức về rủi ro của việc nắm giữ chứng khoán đó. Chứng khoán hấp dẫn khi giá trị tiền tệ nó chứa đựng cao. Ngược lại chứng khoán sẽ kém hấp dẫn khi chúng có rủi ro cao. Ben Bernanke và Kenneth Kutter cho rằng cung tiền ảnh hưởng tới giá trị tiền tệ của chứng khoán thông qua ảnh hưởng của nó đến lãi suất, cung tiền cũng ảnh hưởng đến nhận thức về rủi ro của chứng khoán. Hai tác giả này tin rằng chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm tăng lãi suất thực. Lãi suất tăng làm tăng lãi suất chiết khấu từ đó làm giảm giá trị của chứng khoán. Ngoài ra, chính sách tiền tệ thắt chặt là dấu hiệu của việc tăng trưởng kinh tế chậm lại và làm giảm khả năng sinh lợi của các công ty, nhà đầu tư sẽ phải gánh chịu nhiều rủi ro hơn, dẫn đến họ yêu cầu phần bù rủi ro lớn hơn trong việc nắm giữ chứng khoán có rủi ro. Điều này làm chứng khoán kém hấp dẫn, sẽ làm giảm giá chứng khoán. Như vậy mối quan hệ giữa cung tiền và giá chứng khoán là thuận chiều. Không chỉ cho rằng cung tiền tương quan dương với giá chứng khoán mà Bernanke và Kuttner (2005) còn phân tích những tác động dự đoán trước và không được dự đoán của cung tiền bằng cách xem xét ảnh hưởng của những thay đổi lãi suất quỹ Liên Bang lên giá cổ phần. Hai tác giả này cũng nhận thấy rằng ảnh hưởng của những thay đổi không báo trước lớn hơn so với những thay đổi được dự báo trước. Kết quả này được lý giải bằng lập luận của Lý thuyết thị trường hiệu quả, theo đó giá chứng khoán phản ánh thông tin có liên quan, do đó chỉ có thay đổi cung tiền ngoài dự đoán mới có ảnh hưởng tới giá chứng khoán. Eric Sorensen (1982) cũng ủng hộ cho quan điểm nêu trên bằng nghiên cứu thực nghiệm của mình về ảnh hưởng của cung tiền đến giá chứng khoán, trong đó đặc biệt quan tâm tới thay đổi cung tiền dự đoán trước và thay đổi chung tiền ngoài dự đoán. Ông Trang 3 đã sử dụng mô hình hồi quy hai giai đoạn trong phân tích của mình. Trong giai đoạn một, ông sử dụng mô hình cung tiền của Barro, trong đó cung tiền được hồi quy ngược với cung tiền quá khứ, tỷ lệ thất nghiệp, chi tiêu công thực. Trong giai đoạn hai, chỉ số chứng khoán được hồi quy trên tăng trưởng tiền dự đoán sử dụng ước lượng của hồi quy ở giai đoạn 1. Số dư của phương trình hồi quy giai đoạn 1 được sử dụng như là phần không được dự đoán, hồi quy trên chỉ số chứng khoán để tìm ảnh hưởng của phần không dự đoán. Sorensen kết luận rằng ảnh hưởng của thay đổi cung tiền không dự đoán trước có ảnh hưởng lớn hơn ảnh hưởng của thay đổi cung tiền không dự đoán trước, kết quả này ủng hộ lý thuyết thị trường hiệu quả. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu không đồng tình với lý thuyết thị trường hiệu quả. Họ cho rằng giá chứng khoán không chứa tất cả các thông tin, do đó sự thay đổi cung tiền dự đoán trước cũng tác động đến giá chứng khoán. Vì có nhiều bất đồng quan điểm như trên nên Biniv Maskay đã so sánh hai nhóm quan điểm này và tiến hành thực nghiệm nhằm tìm hiểu cung tiền thực sự ảnh hưởng đến giá chứng khoán như thế nào. Ngoài ra ông còn mở rộng nghiên cứu so sánh ảnh hưởng của thay đổi cung tiền được dự đoán trước và thay đổi của cung tiền ngoài dự đoán. Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy thực tiễn thiên về quan điểm cung tiền và giá chứng khoán có mối tương quan dương, tức là cú sốc cung tiền dương sẽ làm tăng giá chứng khoán và ngược lại. Kết quả nghiên cứu của Biriv Maskay cũng ủng hộ quan điểm rằng những thay đổi dự đoán trước có ảnh hưỏng lớn hơn những thay đổi không được dự đoán đến giá chứng khoán. Khi xem xét cung tiền, người ta còn thấy rằng kênh dẫn truyền quan trọng tác động của cung tiền đến giá chứng khoán là thông qua ảnh hưởng đến thu nhập mong đợi trong tương lai và hiện tại của doanh nghiệp, đặc biệt là tác động đến tính thanh khoản của dòng tiền doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến cổ tức và tốc độ tăng trưởng cổ tức kỳ vọng. Điều này được giải thích như sau: khi cung tiền tăng làm lãi suất giảm, công ty chọn các dự án có NPV khả quan hơn bởi vì chi phí sử dụng vốn thấp hơn, dẫn đến sự thay đổi dài hạn trong thu nhập công ty và làm cho tốc độ tăng trưởng của cổ tức trong mô hình Gordon tăng lên. Vì vậy giá chứng khoán sẽ tăng tương ứng. Do đó, có thể nói Trang 4 cung tiền tác động một cách gián tiếp đến giá chứng khoán thông qua kênh thu nhập. Chúng có mối tương quan cùng chiều. Một mô hình lý thuyết khác được đưa ra từ các nhà tiền tệ học thể hiện mối quan hệ giữa cung tiền và giá chứng khoán dưới dạng mô hình định lượng. Học thuyết định lượng tiền tệ (Brunner, 1961; Friedman &Swastz, 1963) chỉ ra rằng tăng cung tiền làm thay đổi vị trí cân bằng giữa tiền với các tài sản không phải là tiền (như chứng khoán) trong danh mục của người nắm giữ tài sản. Tác động này làm thay đổi cầu của các tài sản không phải là tiền. Học thuyết tiền tệ phát biểu như sau: Trong đó, M là tổng lượng tiền của nền kinh tế trong một thời kì, thường là theo năm; P là giá cả hàng hóa tương ứng; P. Q là giá trị đầu ra danh nghĩa của tiền; V là số vòng quay (vận tốc) của tiền và Q là chỉ số giá trị thực tế của lượng chi tiêu cuối cùng. Khi tăng trưởng trong cung tiền vượt quá mức cân bằng, có thể làm tăng cầu chứng khoán và do đó giá chứng khoán sẽ tăng. Sự phản ứng này được mô tả là kênh tương tác trực tiếp của cung tiền đến giá chứng khoán - được giới thiệu lần đầu tiên bởi Sprinkle (1964). Ông đã kiểm định rõ ràng mô hình định giá tài sản. Khi cung tiền tăng, danh mục mong đợi của việc nắm giữ tiền sẽ mất cân bằng. Do việc nắm giữ tiền của nhà đầu tư, giá của các tài sản khác, hàng hóa và dịch vụ cho tiêu dùng phải tăng lên để tạo ra mức cân bằng mới. Học thuyết này hiện nay vẫn được ưa chuộng mặc dù câu hỏi rằng cung tiền ảnh hưởng như thế nào đến giá tài sản đã có nhiều cách hiểu mới (Ariff và Khalid, 2012). Do đó, mối quan hệ giữa cung tiền và giá chứng khoán được cho là cùng chiều một cách tự nhiên thông qua cơ chế điều chỉnh này. Nếu những cá nhân nắm giữ tài sản dưới hai hình thức tiền và chứng khoán thông thường thì theo mô hình danh mục Cooper (1970) cũng như Palmer (1970) có thể nhận định rằng cung tiền có ảnh hưởng đến giá tài sản. Thu nhập biên tế từ chứng khoán quyết định lượng tài sản nắm giữ dưới dạng chứng khoán. Một danh mục được xem là cân bằng khi mà thu nhập biên từ việc nắm giữ hai loại tài sản trên là như nhau. Trang 5 ̅ ̅ Trong đó, vế trái là thu nhập từ tài sản bằng tiền và vế phải là thu nhập từ chứng khoán; Pt là phần trăm thay đổi mong đợi từ mức giá thông thường, rt là thu nhập bằng tiền thực tế của chứng khoán (cổ tức cộng với phần chênh lệch giá chứng khoán), MNPS là thu nhập biên bằng tiền của tài sản j– th. MNPS(M,t) hoàn toàn là một đặc tính của cầu tiền tệ ngoại trừ thu nhập từ tài sản thay thế. Tác động tích cực từ MNPS loại bỏ những yếu tố khác trong phương trình. Sự khác biệt giữa MNPS và MNPS chỉ đơn thuần là đặc tính của tiền tệ. Sự thay đổi lượng tiền dẫn đến sự điều chỉnh danh mục nắm giữ một phần tài sản của nhà đầu tư bằng cách thay đổi kế hoạch đầu tư và từ đó dẫn đến sự thay đổi về giá. Từ đó, cung tiền dẫn tác động đến thu nhập chứng khoán. Ta có thu nhập chứng khoán bằng cách chuyển vế phương trình: ̅ ̅ Mô hình của Cooper chỉ ra cách kết hợp thay đổi trong cung tiền với mô hình định giá tài sản. Do đó quan điểm của Friedman nên được mở rộng vì cung tiền có ảnh hưởng đến giá chứng khoán. Mô hình định giá tài sản (cổ phần) của Gordon rất thông dụng là: ∑ Trong đó: Po là giá trị hiện tại của chứng khoán. Do là cổ tức ở thời điểm năm 0, g là tốc độ tăng trưởng cố định của cổ tức, phần bù rủi ro tại thời điểm t. Khi cho là lãi suất phi rủi ro ở thời điểm t, và là EPS, phương trình sẽ cho thấy mối liên hệ giữa giá chứng khoán và EPS hoặc một yếu tố khác như sản lượng công nghiệp (chuỗi dữ liệu theo tháng) cũng như thể hiện thu nhập của công ty. Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có đồng quan điểm cung tiền có mối tương quan thuận với giá chứng khoán như: Homa và Jaffe (1971) ước lượng mối quan hệ giữa cung tiền và giá chứng khoán, thông qua công cụ dự báo trong các chiến lược đầu tư. Nghiên cứu của họ cho thấy giá Trang 6 chứng khoán thường sẽ được quyết định bởi 3 yếu tố: mức độ tăng trưởng cổ tức, lãi suất phi rủi ro và phần bù rủi ro. Lãi suất phi rủi ro là một đặc tính của cung tiền, từ đó đưa đến kết luận mức giá chứng khoán trung bình có tương quan thuận với cung tiền. Hamburger và Kochin (1972) cho rằng tốc độ tăng trưởng tiền tệ tạo ra một số tác động trực tiếp và gián tiếp lên thị trường chứng khoán thông qua thêm các mức giá hiện hành cũng như lãi suất thương phiếu vào mô hình định giá chuẩn ban đầu. Pesando (1974) tìm thấy những bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm về mối quan hệ giữa cung tiền và giá chứng khoán thường trong mô hình mà Hamburger – Kochin và Homa – Jaffe sử dụng. Gupta (1974) đưa ra cách dự đoán điểm gãy trong giá chứng khoán trong khoảng thời gian định trước. Sử dụng dữ liệu quan sát điểm gãy cung tiền hàng tháng qua 23 năm, ông đã tìm thấy rằng 59% trường hợp chạm đỉnh trên thị trường chứng khoán có thể đã được dự báo chính xác. 2.1.2. Một số quan điểm trái chiều Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu ủng hộ quan điểm cung tiền có mối tương quan dương với giá chứng khoán, tuy nhiên bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu đưa ra kết luận trái ngược. Trong bài nghiên cứu “Can Money Supply Predict Stock Prices”, Sara Alatiqi and Shokoofeh Fazel (2008) tìm hiểu mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa cung tiền và giá chứng khoán. Bằng cách sử dụng kiểm định đồng liên kết theo Engle –Granger (cointegration test) và kiểm định nhân quả Granger, những nhà nghiên cứu này cho rằng có mối tương quan nghịch (yếu) giữa cung tiền đến lãi suất và từ lãi suất đến giá chứng khoán, điều này chứng tỏ cung tiền không có mối quan hệ mật thiết với giá chứng khoán trong dài hạn. Kraft và Kraff (1977) sử dụng phân tích chuỗi thời gian để nghiên cứu vấn đề này và nhận thấy không có mối tương quan giữa cung tiền và giá chứng khoán. Tuy nhiên nếu Trang 7 tăng trưởng trong cung tiền là không dự kiến được thì Pearce và Roley (1985) lại cho rằng có mối tương quan nghịch nó và giá chứng khoán. Nếu cung tiền có mối quan hệ với giá chứng khóa thì có thể dựa trên cung tiền để dự báo cho giá chứng khoán hay không? Câu hỏi này là mối quan tâm đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu. Beryl Sprinkel (1964) so sánh điểm đáy của chỉ số chứng khoán với điểm đáy trong tốc độ tăng trưởng tiền tệ. Ông đã kết luận rằng mỗi lần chạm đỉnh tăng trưởng tiền tệ thì 15 tháng sau thị trường chứng khoán được dự đoán sẽ theo chiều giá xuống, và thị trường theo chiều giá lên được dự đoán là 2 tháng sau khi chạm đáy tăng trưởng tiền tệ. Khi ứng dụng lý thuyết của Friedman và Schwart, Beryl Sprinkel cho rằng điểm gãy chu kỳ kinh doanh đi cùng với những biến động chính trong tỷ lệ tăng trưởng chứng khoán tiền.Khi cung tiền của nền kinh tế tăng, các nhà đầu tư nhận thấy rằng tỷ lệ tài sản dưới dạng tiền của họ quá lớn và cố gắng khôi phục hỗn hợp danh mục mong muốn bằng cách mua các tài sản khác như chứng khoán, đẩy giá chứng khoán tăng lên. Sprinkel xem tiến trình này là khoảng thời gian tiêu hao vừa đủ (consuming sufficient time) mà một nhà đầu tư có thể dự đoán được biến động giá chứng khoán khi đã biết được diễn biến của cung tiền quá khứ. Từ đó ông đưa ra 2 đề xuất quan trọng: (1) với vai trò như một chỉ báo, chuỗi cung tiền dẫn dắt giá chứng khoán và (2) nhà đầu tư khôn ngoan có thể sử dụng chỉ báo dẫn đường này để kiếm mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình khi đầu tư vào thị trường chứng khoán. Sử dụng dữ liệu tỷ lệ tăng trưởng cung tiền và giá chứng khoán từ 1918 đến 1960, khi áp dụng chiến lược giao dịch của Spinkel, tỷ suất sinh lợi hằng năm là 12.5% (cao hơn 6.7% so với chiến lược nắm giữ thông thường) Palmer, Reilly và Lewis đã hỗ trợ cho quan điểm của Spinkel cho rằng biến động tiền tệ đi trước biến động giá chứng khoán và Homa và Jaffee đã phát triển một quy luật giao dịch sử dụng dữ liệu tiền tệ mà họ báo cáo là có lời hơn các chiến lược có cùng mức độ rủi ro, chiến lược giao dịch đơn giản mua và nắm giữ chứng khoán. Tuy nhiên không phải tất cả các nhà kinh tế đều đồng tình với quan điểnm của Spinkel. Bài nghiên cứu của Micheal S. Rozeff đã chỉ ra: Dữ liệu cung tiền trong quá khứ không thể cung cấp một chỉ dẫn hữu ích trong việc định thời điểm đầu tư hoặc cải Trang 8 thiện tỷ suất sinh lợi danh mục. Thông tin được phản ánh vào giá chứng khoán quá nhanh đến nỗi các dữ liệu công bố hầu như không cung cấp được gì về biến động giá chứng khoán tương lai. Quy luật giao dịch Spinkel, sử dụng cung tiền như là một chỉ báo cho diễn biến thị trường chứng khoán trong tương lai, không thể được thực hiện mà không có những hiểu biết trước đó về điểm gãy chu kỳ kinh doanh (business cycle turning points), và khi bị áp dụng một cách máy móc, không thể cho ta một chiến lược mua và nắm giữ giản đơn tốt hơn. 2.2. Thanh khoản và giá chứng khoán Thanh khoản là thuật ngữ có hai nghĩa: Thứ nhất, tính thanh khoản là khả năng bán nhanh một tài sản sau khi mua nó mà không phải tốn chi phí giao dịch cũng như giảm giá. Thứ hai, thanh khoản được sử dụng với nghĩa là tổng lượng tiền trong lưu thông để chi tiêu và đầu tư một nền kinh tế. Trong đề tài nghiên cứu này, thanh khoản được hiểu theo nghĩa thứ hai. Friedman (1961) cho rằng thanh khoản (hay lượng tiền trong lưu thông) có mối tương quan dương với lượng tiền cung ứng (còn gọi là cung tiền). Quan điểm này của ông nhận được nhiều sự ủng hộ, nhất trí thông qua các nghiên cứu thực nghiệm từ xưa cho đến những năm gần đây, như nghiên cứu của Cagan và Gandolfi (1969), Gibson (1970a,b), Christiano và Martin (1992a,b), Christiano và cộng sự (1996), Hamilton (1997), Carpenter và Demiralp (2006). Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu khác như Leeper và Gordon (1992), Pagan và Robertson (1995), Goodfriend (1997), Edmond và Weill (2005), Thornton (2007a) lại không thành công trong việc xác minh quan điểm này bằng số liệu thực nghiệm. Trong các lý thuyết truyền thống về cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ, tiền có vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng thực nghiệm về tác động của thanh khoản đạt ý nghĩa thống kê hoặc mang ý nghĩa về kinh tế trong những nghiên cứu trước đây. Những nghiên cứu phổ biến về chủ đề này thường tập trung trong những năm thập niên 70 đến thập niên 90. Từ năm 2000 đến nay, các nghiên cứu về vấn đề này ít được thực hiện. Những nghiên cứu trước đây thất bại trong việc xác định tác động của thanh Trang 9 khoản bởi vì hầu hết các nhà nghiên cứu sử dụng dữ liệu có tần suất thấp. Hamilton (1997) đã phát triển một phương pháp đo lường tác động của thanh khoản đầy thuyết phục, đó là ước lượng sự phản ứng của lãi suất các quỹ liên bang trước những cú sốc cung tiền ngoại sinh, ông sử dụng dữ liệu theo ngày để ước lượng tác động thanh khoản theo ngày. Trong khi đó, những nhà nghiên cứu khác do dữ liệu có tần suất thấp nên thiếu cơ sở ủng hộ cho lập luận, có thể là vì thu nhập danh nghĩa và lạm phát kỳ vọng phản ứng chậm trước những cú sốc cung tiền, hoặc là do phương pháp nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu đã cố gắng vượt qua những trở ngại này bằng cách sử dụng mô hình SVAR để khắc phục (Mohamed và cộng sự, 2012). Bên cạnh những quan điểm ủng hộ, cũng có những quan điểm cho rằng không tìm thấy bằng chứng thuyết phục về tác động thanh khoản (như Leeper và Gordon, 1992; Pagan và Robertson, 1995). Các nhà nghiên cứu khác lập luận rằng tác động thanh khoản phản ánh phần nào sự phối hợp tương tác trong một nền kinh tế để đạt một mức cân bằng cụ thể khi có nhiều giải pháp đồng thời khả thi. Vì vậy, Goodfriend (1997) cho rằng một mô hình trong đó các công ty cạnh tranh không hoàn hảo sẽ phải đương đầu với các đường cầu bị lệch. Sự phản ứng chậm của giá cả xuất hiện một cách nội sinh và tạo ra các tác động thực sự của chính sách tiền tệ, trong đó bao hàm tác động thanh khoản. 2.3. Lãi suất và giá chứng khoán Phát biểu về ảnh hưởng của thanh khoản lên lãi suất đã được trình bày bởi Friedman (1961) trong bài nghiên cứu của ông về ba tác động gây ra bởi thay đổi ngoại sinh trong cung tiền (hai tác động còn lại là thu nhập và hiệu ứng kỳ vọng lạm phát). Trong khi còn tồn tại nhiều tranh cãi (Bryant, Holtham & Hooper, 1988) về việc liệu thay đổi cung tiền nghịch biến với thay đổi lãi suất như một số tác giả kết luận (Laidler, 1985), hay nó hỗ trợ mạnh cho hiệu ứng này thì mối liên hệ giữa cung tiền và lãi suất đã được các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách công nhận trên cơ sở các bằng chứng về ảnh hưởng của sự thay đổi tiền tệ đến lãi suất. Bản thân tiền là một tài sản trong danh mục đầu tư của những người nắm giữ tài sản. Việc tăng lượng tiền cung ứng sẽ dẫn đến sụt giảm sinh lợi của người nắm giữ danh mục. Vì vậy thay đổi trong cung tiền là nhân tố Trang 10 làm thay đổi lợi nhuận từ tiền. Đến lượt cầu về tiền lại chịu tác động của lãi suất và tỷ suất sinh lợi của chứng khoán (gồm chứng khoán và trái phiếu). Bất kỳ sự gia tăng nào trong cung tiền cũng sẽ ảnh hưởng đến lãi suất và tỷ suất sinh lợi, và thông qua đó làm cho cầu về tiền giảm. Tốc độ phản ứng của tỷ suất sinh lợi trước những thay đổi của cung tiền (còn gọi là các cú sốc cung tiền) thì phụ thuộc vào tỷ lệ điều chỉnh giảm của lượng tiền vượt trên mức cân bằng sao cho danh mục quay về mức cân bằng. Tỷ lệ phản ứng của giá các tài sản khác cũng phụ thuộc vào việc những người mua tiềm năng của tài sản thay đổi danh mục nhanh đến mức nào khi nắm giữ quá nhiều tiền. Nếu những người mua tiềm năng như các định chế trung gian, các nhà kinh doanh và những người nắm giữ tài sản cá nhân đáp lại những thay đổi trong cân bằng tiền trong việc tái cân bằng danh mục đầu tư, thì thu nhập từ chứng khoán của các công ty cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy giá chứng khoán phải phản ứng với cung tiền với một hệ số tương quan âm thông qua kênh lãi suất. Trong bài nghiên cứu “Relationship between Interest Rate and Stock Price: Empirical Evidence from Developed and Developing Countries” của Mahmudul Alam & Md. Gazi Salah Uddin (2009) trình bày nghiên cứu dựa trên những lý thuyết ủng hộ thị trường hiệu quả,sử dụng dữ liệu hàng tháng từ 1/1988 đến 3/2003, qua đó cho thấy mối quan hệ thực nghiệm của lãi suất và chỉ số giá chứng khoán trên 15 quốc gia phát triển và đang phát triển như: Australia, Bangladesh, Canada, Chile, Colombia, Germany, Italy, Jamaica, Japan, Malaysia, Mexico, Philippine, S. Africa, Spain, và Venezuela. Họ đã kiểm định tính dừng của thu nhập và nhận thấy rằng không có chứng khoán nào tuân theo lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (tức là thị trường không hiệu quả). Điều này được giải thích thông qua mối liên hệ giữa giá chứng khoán và sự thay đổi trong lãi suất theo chuỗi thời gian và mô hình hồi quy dạng bảng. Cụ thể lãi suất có tương quan âm với giá chứng khoán ở tất cả các quốc gia nhưng sự thay đổi của lãi suất thì chỉ có tác động lên giá chứng khoán ở 6 quốc gia mà thôi. Ologunde, Elumilade, and Asaolu (2006) cho rằng giá chứng khoán có khả năng đảm bảo cam kết giá trị vốn thực trong dài hạn. Lãi suất là một trong những yếu tố quan Trang 11 trọng liên quan đến tốc độ phát triển kinh tế. Những nhà đầu tư tốt luôn tìm kiếm cơ hội ở thị trường hiệu quả. Ở thị trường không hiệu quả, một số ít người có khả năng gia tăng thêm thu nhập bởi vì thiệt hại do thiếu tự tin đầu tư. Trong những trường hợp này, nếu lãi suất tiền gửi tăng lên, nhà đầu tư sẽ chuyển đổi vốn từ chứng khoán sang cho ngân hàng. Điều này làm giảm cầu chứng khoán và từ đó làm giảm giá chứng khoán. Nói cách khác, khi lãi suất tiền gửi tăng, lãi suất cho vay cũng tăng làm giảm đầu tư và từ đó làm giảm giá chứng khoán. Đây chính là mối quan hệ giữa lãi suất và giá chứng khoán. 2.4. Mối quan hệ giữa các biến vĩ mô và giá chứng khoán Có nhiều cách để đo lường mối tác động của các biến vĩ mô và thu nhập lên thị trường chứng khoán, có thể kể đến một số phương pháp như thông qua mô hình ATP, qua đó các yếu tố rủi ro có thể giải thích thu nhập của tài sản (Ross, 1976). Một cách tiếp cận khác đó là chiết khấu dòng tiền hay mô hình hiện giá tài sản (PVM). Giá chứng khoán sẽ phụ thuộc vào dòng tiền mong đợi và lãi suất chiết khấu trong tương lai. Ưu điểm của mô hình PVM là nó có thể được sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa các biến vĩ mô và giá chứng khoán trong dài hạn. Bên cạnh đó Engle, Granger (1987) và Granger (1986) cũng cho rằng mức độ biến động của cân bằng trong dài hạn giữa các biến số có thể được tính toán bằng việc sử dụng các kỹ thuật đồng liên kết. Bằng cách thực hiện nhiều phương pháp khác nhau các nhà nghiên cứu đã có những kết luận đáng chú ý về mối liên hệ giữa các biến vĩ mô và giá chứng khoán. Nelson (1976), Jaffe và Mandelker (1976), Fama và Schwert (1977) đã phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô với TTCK Mỹ và kết luận rằng các biến số kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng tới giá chứng khoán. Fama (1981) đã tìm thấy bằng chứng về mối tương quan dương giữa tỷ suất sinh lợi của chứng khoán với các biến số kinh tế như: chi tiêu vốn, sản lượng công nghiệp, GNP thực. Ngược lại, ông cũng phát hiện rằng cung tiền, lạm phát (trong điều kiện xem xét có độ trễ), và lãi suất tác động nghịch chiều đến TTCK. Chen, Roll, và Ross (1986) cho rằng các nhân tố kinh tế vĩ mô vừa tác động đến dòng cổ tức trong tương lai vừa làm thay đổi mức lãi suất chiết khấu. Do đó, chúng làm thay đổi giá chứng khoán. Malliaris và Urrutia (1991) cho rằng thị trường chứng khoán là Trang 12 nhân tố thúc đẩy các hoạt động kinh tế thực của Mỹ, nghĩa là thị trường chứng khoán có tác động đến các biến kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, Mok (1993) cho thấy không có quan hệ gì giữa lãi suất và suất sinh lợi chứng khoán trên thị trường Hang Seng (Hồng Kông). Sarbapriya Ray đã nghiên cứu ảnh hưởng của những biến kinh tế vĩ mô khác nhau đến giá chứng khoán ở Ấn Độ bằng cách sử dụng dữ liệu thường niên từ năm 1990-1991 đến năm 2010-2011. Một mô hình hồi quy đa biến được dùng để kiểm tra tác động của các biến kinh tế vĩ mô đến giá chứng khoán và dùng kiểm định nhân quả Granger để xác định xem có bao nhiêu mối quan hệ nhân quả giữa giá chứng khoán và các biến kinh tế vĩ mô.Ước lượng của ông về nhân quả Granger đa biến chỉ ra rằng không có mối quan hệ nhân quả giữa giá chứng khóan và lãi suất, giá chứng khoán và chỉ số sản xuất công nghiệp, nhưng tồn tại mối quan hệ một chiều giữa giá chứng khoán và lạm phát, giá chứng khoán và đầu tư nước ngoài, giá chứng khoán và GDP, giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái, giá chứng khoán và tổng vốn cố định. Tuy nhiên mối quan hệ nhân quả hai chiều tồn tại giữa giá chứng khoán và dự trữ ngoại hối, giá chứng khoán và cung tiền, giá chứng khoán và giá dầu thô, giá chứng khoán và chỉ số giá thị trường bán buôn. Mô hình đa hồi quy cho thấy giá dầu và giá vàng có tác động nghịch biến đáng kể đến giá chứng khoán trong khi đó cán cân thương mại, dự trữ ngoài hối, GDP, chỉ số sản xuất công nghiệp và cung tiền có tác động đồng biến đến giá chứng khoán. Ngược lại lạm phát, đầu tư trưc tiếp nước ngoài, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá bán buôn không có ảnh hưởng đáng kể đến giá chứng khoán. Dựa vào mô hình định giá chiết khấu, Andreas Humpe and Peter Macmillan đã tìm hiểu tác động của một số biến số vĩ mô lên giá chứng khoán ở Mỹ và Nhật Bản. Phân tích tính đồng liên kết đánh giá mối liên hệ trong dài hạn giữa chỉ số công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, lãi suất dài hạn lên giá chứng khoán ở Mỹ & Nhật. Ở Mỹ, họ tìm thấy dữ liệu đồng nhất với vector đồng liên kết đơn, giá chứng khoán có tương quan dương đến chỉ số công nghiệp và tương quan âm với chỉ số giá tiêu dùng và lãi suất dài hạn. Họ cũng nhận thấy mối tương quan không đáng kể (mặc dù dương) giữa giá chứng khoán và cung tiền. Tuy nhiên, với dữ liệu của Nhật Bản, các nhà nghiên cứu này nhận Trang 13 thấy có 2 mối liên hệ đồng liên kết. Mối liên hệ thứ nhất thể hiện rằng giá chứng khoán tương quan dương với chỉ số công nghiệp và âm đối với cung tiền. Mối liên hệ đồng liên kết thứ hai, họ nhận thấy chỉ số công nghiệp tương quan âm với cả chỉ số giá tiêu dùng và lãi suất dài hạn. Kết quả đối lập này có thể do khủng hoảng kinh tế Nhật suốt thập niên 1990 tạo ra bẫy thanh khoản. 2.5. Một số nghiên cứu về thị trường chứng khoán ở các nước thuộc khối ASEAN Trong bài nghiên cứu “Stock market and macroeconomic fundamental dynamic interactions: ASEAN-5 countries”, tác giả Praphan Wongbangpo và Subhash C. Sharma (2002) nghiên cứu mối quan hệ cơ bản giữa giá chứng khoán và các biến số cơ bản tại 5 nước thuộc khối ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore và Thái Lan). Nghiên cứu này khảo sát vai trò của một số biến kinh tế chọn lọc như GNP, CPI, cung tiền, lãi suất, tỷ giá hối đoái đối với giá chứng khoán tại 5 thị trường khác nhau thuộc khối ASEAN từ năm 1985 đến năm 1996.Tác giả đã quan sát mối quan hệ ngắn hạn cũng như dài hạn giữa các biến kinh tế và giá chứng khoán. Phân tích trong ngắn hạn cho thấy chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán trong việc nhận diện các thanh đổi của điều kiện kinh tế hoặc cung cấp tín hiệu về hiệu suất kinh tế vĩ mô trong tương lai. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ năm 1985 đến năm 1996, trong giai đoạn này thị trường chứng khoán tăng trưởng song song với tăng trưởng kinh tế tại cả 5 thị trường đang nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu tìm thấy tương quan cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn giữa các nhân tố vĩ mô này với giá chứng khoán. Giá chứng khoán có tương quan cùng chiều với sự tăng trưởng của sản lượng quốc gia. Tương quan âm được tìm thấy giữa lãi suất và giá chứng khoán tại 3 nước Philippines, Singapore và Thái Lan. Tuy nhiên, hai nhân tố này thể hiện mối tương quan dương ở Indonesia, Malaysia. Lạm phát cao tại Indonesia và Philippines được giải thích là nguyên nhân gây ra tương quan âm trong dài hạn giữa giá chứng khoán và cung tiền, trong khi đó sự gia tăng trong cung tiền lại tạo ra tác động tăng cho giá chứng khoán của các nước này. Những nhà nghiên cứu còn ghi nhận rằng sự cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu thế giới giải thích cho mối tương quan dương giữa giá chứng khoán và tỷ giá hối đoái, mối tương quan âm có thể giải thích qua góc nhìn tài Trang 14 sản của tỷ giá hối đoái, hàng hóa và các biến số trên thị trường tiền tệ là những nhân tố quyết định ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá chứng khoán tại các nước ASEAN này, trong khi đó mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán ở Philippines yếu đi do chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi ở nước này. Trong bài nghiên cứu “Macroeconomic variables and stock prices in a small open economy: The case of Singapore”, tác giả Rajen Mookeijee và Qiao Yu (1997) đã sử dụng các biến kinh tế vĩ mô (cung tiền rộng và cung tiền hẹp, tỷ giá hối đoái danh nghĩa, dự trữ ngoại hối) đặc biệt phù hợp ở các nền kinh tế mở cửa và quy mô nhỏ để kiểm tra sự tồn tại của bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Singapore. Bài nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật đồng liên kết và nhân quả cùng với các phương trình dự đoán để kiểm tra bất cân xứng thông tin cả trong ngắn hạn và dài hạn. Cuối cùng tác giả phát hiện ra rằng cung tiền hẹp, cung tiền rộng và dự trữ ngoại hối thể hiện một mối quan hệ cân bằng dài hạn với giá chứng khoán trong khi đó tỷ giá hối đoái không có tính chất này. Nghiên cứu này cũng phát hiện ra thông tin hiệu quả trên thị trường chứng khoán Singapore với bốn biến kinh tế vĩ mô này trong ngắn hạn. Kiểm định nhân quả và các phương trình dự đoán cho ra các kết quả khác nhau.Trong khi kiểm định nhân quả cho thấy thị trường không hiệu quả với cung tiền rộng, hiệu quả với cung tiền hẹp và tỷ lệ dự trữ ngoại hối, các phương trình dự đoán cho thấy thị trường không hiệu quả với cung tiền hẹp và dự trữ ngoại hối và không chứa thông tin về cung tiên rộng. Sự khác nhau này cũng xuất hiện trong trường hợp tỷ giá hối đoái. Do đó tác giả kết luận rằng chỉ một trong hai cách tiếp cận của các nghiên cứu trước đây là đúng và cần được xem xét cẩn trọng. Nghiên cứu về thị trường chứng khoán Thái Lan, Chaiporn và Yaowaluk (2012) sử dụng mẫu gồm 50 lãi suất chiết khấu công bố bởi Bank of Thailand từ 2003 tới 2009, kết quả hồi quy cho thấy những thay đổi thô của lãi suất chiếu khấu có ảnh hưởng nghịch biến đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán mở mức độ thị trường, điều này không phù hợp với lý thuyết trước đây.Trái ngược với kết quả của một số nghiên cứu trước đó, tác giả nhận ra rằng ở mức độ thị trường thay đổi kỳ vọng của lãi suất chiết khấu có tác động nghịch biến đến giá chứng khoán và thay đổi không mong đợi của lãi suất chiết khấu Trang 15 không ảnh hưởng đến giá chứng khoán.Tuy nhiên, ảnh hưởng của thay đổi lãi suất chiết khấu không mong đợi đến giá chứng khoán tồn tại ở mức độ công ty.Tác giả cũng cho rằng phản ứng của thị trường chứng khoán đối với thay đổi lãi suất chiết khấu là không cân xứng.Thay đổi lãi suất chiết khấu không mong đợi được xem như là một dấu hiệu tốt và có ảnh hưởng nghịch biến đến thu nhập của chứng khoán.Cuối cùng, các bằng chứng ủng hộ lý thuyết công bố chính sách tiền tệ có ảnh hưởng đáng kể đến giá chứng khoán. Trang 16 3. CÁC VẤN ĐỀ TRONG KINH TẾ LƯỢNG 3.1. Kiểm định tính dừng Kiểm định tính dừng được thực hiện hiện trên các biến nhằm chuẩn bị bộ dữ liệu cho kiểm định đồng liên kết và kiểm định quan hệ nhân quả. Đối với chuỗi thời gian, việc kiểm định tính dừng (stationary) là hết sức thiết yếu vì hai chuỗi thời gian không dừng hồi quy với nhau có thể cho ra một kết quả hồi quy giả mạo. Một chuỗi dữ liệu thời gian có tính dừng thì trung bình và phương sai của nó không đổi theo thời gian, đồng thời hiệp phương sai của Yt tại hai thời điểm t và (t-s) không phụ thuộc vào t mà chỉ phụ thuộc vào s. Tính dừng sẽ được thực hiện bằng kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test) theo Augumented Dickey-Fuller với đặc trưng phương trình kiểm định theo xu hướng và có hệ số chặn. Chọn chiều dài độ trễ SIC. Maximun chiều dài độ trễ là 13. Đồng thời kiểm định Phillips and Perron với Bandwidth là Newey-West Bandwidth 3.2. Kiểm định đồng liên kết: Có nhiều phương pháp để kiểm định đồng liên kết. Nghiên cứu này sẽ thực hiện kiểm định bằng hai phương pháp: theo Engle- Granger và theo Johansen. Phương trình đồng liên kết Johansen được áp dụng: ∑ Trong đó p là thay đổi độ trễ trong Xt cần thiết để khiến cho ut không còn tương quan chuỗi. Kiểm định giả thiết không chống lại với giả thiết thay thế Ha: a1<0, giả thiết không của kiểm nghiệm đơn vị bị loại bỏ nếu thống kê t được thấy âm đủ lớn và thấp hơn đáng kể so với cận dưới MacKinnon (1996). Hạng của ma trận hệ số thể hiện số vector đồng liên kết. Kiểm định giả thiết không bằng Likelihood cho rằng có tối đa vector đồng liên kết được sử dụng trong kiểm định Trace. ∑ ̂
- Xem thêm -