Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự việt nam

  • Số trang: 96 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 72 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC Trang TRANG PHỤ BÌA Lời cam đoan MỤC LỤC Danh mục các bảng MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH 6 SỰ VÀ HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1. Một số vấn đề chung về trách nhiệm hình sự 6 1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự, cơ sở trách nhiệm hình sự và những điều kiện của trách nhiệm hình sự 6 1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự 6 1.1.1.2. Cơ sở trách nhiệm hình sự và những điều kiện của trách nhiệm hình sự 9 1.1.1.3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự 14 1.1.2. 18 Một số vấn đề chung về hình phạt 1.1.2.1. Khái niệm và các đặc điểm của hình phạt 18 1.1.2.2. Hệ thống hình phạt theo Luật hình sự Việt Nam 21 1.1.2.3. Quyết định hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam 23 1.1.2.4. Các căn cứ quyết định hình phạt 25 1.1.2.5. Mục đích và hiệu quả của hình phạt 34 Chương 2: Nội dung phản ánh Mối liên hệ giữa Trách nhiệm Hình 38 sự và Hình phạt trong luật hình sự việt nam 2.1. Những đặc điểm cơ bản của mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt 38 2.2. Nội dung phản ánh mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và 40 3 hình phạt trong luật hình sự Việt Nam 2.2.1. Trách nhiệm hình sự và hình phạt với tích chất là hai chế định cơ bản trong luật hình sự Việt Nam 40 2.2.2. Hình phạt là một dạng của trách nhiệm hình sự và một hình thức để thực hiện trách nhiệm hình sự 42 2.2.3. Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt thể hiện qua việc áp dụng hình phạt và quyết định hình phạt 43 2.2.4. Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt thể hiện qua một số chế định luật hình sự cụ thể 44 2.2.4.1. Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội là người chưa thành niên 44 2.2.4.2. Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong trường hợp đồng phạm 50 2.2.4.3. Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt 55 2.2.4.4. Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 58 2.2.4.5. Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội 64 2.2.4.6. Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam 68 Chương 3: Đánh giá mối liÊn hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình 73 phạt qua thực tiễn áp dung và một số kiến nghị hoàn thiện các chế định trách nhiệm hình sự và Hình phạt 3.1. Đánh giá mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong thực tiễn áp dụng 73 3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện các chế định trách nhiệm hình sự và hình phạt 74 3.2.1. Đối với chế định trách nhiệm hình sự 74 3.2.2. Đối với miễn trách nhiệm hình sự 77 3.2.3. Đối với chế định hình phạt 81 3.2.4. Đối với chế định miễn hình phạt 83 Kết luận 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 4 DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng 2.1 Tên bảng Phân biệt giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt 5 Trang 43 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, trước hết phải có năng lực trách nhiệm hình sự. Nói cách khác, người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình đã gây ra. Khi trách nhiệm hình sự được đặt ra đối với một người, thì nguy cơ người đó có thể phải chịu hình phạt là khó trách khỏi. Trong luật hình sự Việt Nam, chế định trách nhiệm hình sự và chế định hình phạt là hai chế định có vị trí quan trọng hàng đầu. Nó có ý nghĩa rất lớn trong công tác đấu tranh, phòng và chống tội phạm; bảo vệ trật tự pháp luật và pháp chế, đồng thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân. Thực tế trong khoa học luật hình sự, xung quanh hai chế định này còn nhiều vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu và cũng còn có những quan điểm chưa thống nhất, như: định nghĩa pháp lý về trách nhiệm hình sự, hình phạt, thẩm quyền áp dụng cùng như thời điểm phát sinh, thực hiện và chấm dứt trách nhiệm hình sự v.v... Đặc biệt giữa hai chế định này có mối liên hệ hữu cơ và tác động đến nhau trong thực tiễn áp dụng (giải quyết vụ án hình sự cụ thể) pháp luật hình sự. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình (đề tài) khoa học nào nghiện cứu về "Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam" một cách thống nhất và toàn diện. Để thấy rõ mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt, đồng thời làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận - khoa học các quy định về trách nhiệm hình sự và hình phạt; cơ sở của trách nhiệm hình sự; phân biệt rõ trách nhiệm hình sự và hình phạt; mục đích và hiệu quả của hình phạt; hệ thống hình phạt v.v... 6 trong pháp luật hình sự Việt Nam. Cấp thiết hơn, khi Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì việc nghiên cứu đề tài này càng có ý nghĩa. Tất cả những điều nêu trên là lý do luận chứng để chúng tôi lựa chọn vấn đề "Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu khoa học cho luận văn thạc sỹ Luật học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Ở Việt Nam, cho đến nay có khá nhiều công trình khoa học và bài viết chuyên sâu liên quan đến trách nhiệm hình sự và hình phạt. Trước hết, về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau: 1) GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên), Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; 2) TS. Trương Quang Vinh, Trách nhiệm hình sự và hình phạt, trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000; 3) GS.TS. Võ Khánh Vinh, Tìm hiểu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ, Nxb Chính trị quốc gia, 1996; 4) GS.TS. Võ Khánh Vinh, Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1994; 5) GS.TSKH. Lê Cảm, Chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam, năm 1999, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 4/2000; 6) GS.TSKH. Lê Cảm (Chủ biên), TS. Phạm Mạnh Hùng và TS. Trịnh Tiến Việt, Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, năm 2005; 7) TS. Trịnh Tiến Việt, Chế định miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tháng 11/2010; 8) TS. Mai Bộ, Chế định hình phạt và quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, Tạp chí Kiểm sát, số 7/2000; 9) TS. Trịnh Quốc Toản, Một số vấn đề về quyết định hình phạt theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, Chuyên đề - Năm 2010 và 10) ThS. Đinh Văn Quế, Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000. 7 Về công trình khoa học: 1) TS. Nguyễn Sơn, Các hình phạt chính trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, bảo vệ năm 2003; 2) TS. Trịnh Quốc Toản, Các hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, bảo vệ năm 2010; 3) ThS. Lưu Ngọc Cảnh, Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn thạc sĩ Luật học, bảo vệ năm 2010. Các công trình khoa học và bài viết chuyên sâu nêu trên đã đưa ra bàn luận và giải quyết nhiều vấn đề bức xúc mà lý luận và thực tiễn áp dụng luật hình sự đặt ra liên quan đến trách nhiệm hình sự và hình phạt. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của những công trình và bài viết kể trên xuất phát từ chính yêu cầu của đề tài hay chuyên mục riêng nên chưa làm rõ giữa chúng có mối liên hệ thế nào, tác động đến nhau ra sao; đan xen giữa hai chế định này trong thực tiễn áp dụng còn những tồn lại như thế nào?! Vì vậy, càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nếu có một đề tài nghiên cứu tổng thể, toàn diện về "Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam". 3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận văn là nghiên cứu và phát triển những vấn đề lý luận mới về mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt, phân tích các quy định về trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự thực định; tình hình vận dụng mối liên hệ này trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự tại Tòa án; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt nói chung, cũng như hiệu quả áp dụng từng chế định trách nhiệm hình và hình phạt nói riêng trong thực tiễn. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 8 Trên cơ sở mục đích đã nêu, đề tài cần làm sáng tỏ các nhiệm vụ chính như sau: 1) Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề chung về trách nhiệm hình sự và hình phạt, khái niệm, đặc điểm, bản chất và sự phân biệt giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt; 2) Phân tích các quy định của pháp luật thực định để thấy rõ đặc điểm, nội dung phản ánh của mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt; 3) Phân tích một số chế định cụ thể trong luật hình sự Việt Nam liên quan đến trách nhiệm hình sự và hình phạt, thông qua sự phân tích thực tiễn xét xử và áp dụng pháp luật hình sự tại Tòa án để làm rõ mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt; 4) Đánh giá tình hình áp dụng chế định trách nhiệm hình sự và chế định hình phạt trong một số trường hợp cụ thể để chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, đề xuất những giải pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự tại Tòa án. 3.3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của đề tài là "Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam". 4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu đề tài 4.1. Phương pháp luận Để giải quyết những nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra, Luận văn đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, chính sách hình sự và vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian 9 tới", Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 05 năm 2005 "Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020" và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 "Về chiến lược cải cách công tác tư pháp đến năm 2020" của Bộ Chính trị. 4.2. Các phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận như trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù, phổ biến của khoa học luật hình sự như: phân tích, tổng hợp và thống kê, phương pháp so sánh, đối chiếu, lịch sử v.v... để phân tích các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề chung về trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Nội dung phản ánh mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam. Chương 3: Đánh giá mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam qua thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện các chế định trách nhiệm hình sự và hình phạt. 10 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự, cơ sở trách nhiệm hình sự và những điều kiện của trách nhiệm hình sự 1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự Khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự, vấn đề cơ bản và đầu tiên cần được giải quyết là phải đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm trách nhiệm hình sự. Qua các tài liệu nghiên cứu khoa học về pháp lý hình sự, nhận thấy xung quanh vấn đề khái niệm "Trách nhiệm hình sự" các nhà hình sự học Việt Nam còn nhiều quan điểm khác nhau, như: - GS.TSKH. Đào Trí Úc có quan điểm: "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước" [40, tr. 41]. - GS. TS. Đỗ Ngọc Quang có quan điểm: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện [25, tr. 14]. - GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS. Lê Thị Sơn trong cuốn "Trách nhiệm hình sự và hình phạt" có quan điểm: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm 11 hình sự, chịu sự kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích [20, tr. 122]. - GS.TSKH. Lê Cảm có quan điểm: "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định" [6, tr. 122]. Qua một số quan điểm nêu trên, chúng ta thấy trách nhiệm hình sự được hiểu theo nghĩa tích cực và tiêu cực. Theo nghĩa tích cực - Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm phải xử sự hợp pháp của một người trong việc ý thức được nghĩa vụ của mình là không được thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm. Cách hiểu này không truyền thống, ít được các nhà hình sự học thừa nhận và không có tích chất phổ biến. Theo nghĩa tiêu cực - Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và hậu quả pháp lý ấy được thể hiện trong việc Tòa án nhân danh Nhà nước kết án người đã bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đó, còn người bị kết án phải chịu sự tác động về mặt pháp lý hình sự theo một số trình tự (pháp luật tố tụng hình sự) riêng. Ngược lại với cách hiểu "tiêu cực" đây là quan điểm truyền thống, có tích chất phổ biến được thừa nhận rộng rãi trong các nhà hình sự học nói riêng và các nhà luật học nói chung [6, tr. 610]. Nhằm đảm bảo sự nhận thức khoa học thống nhất khi áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và thông qua đó thấy rõ sự khác nhau giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm pháp lý khác của các ngành luật tương ứng phi hình sự. Chúng ta phải chỉ được các đặc điểm của trách nhiệm hình sự. Qua nghiên cứu các quan điểm nêu trên về khái niệm trách nhiệm hình sự, theo cả hai nghĩa tích cực và tiêu cực, đồng thời căn cứ vào các quy phạm phạm pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình 12 sự cũng như thực tiễn áp dụng các quy phạm ấy. Chúng ta nhận thấy trách nhiệm hình sự có các đặc điểm mà GS.TSKH Lê Cảm đã đưa ra như sau: [6, tr. 610-612] - Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, Một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, khi đó trách nhiệm hình sự sẽ phát sinh đối với họ. Nói cách khác khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, thì đồng thời trách nhiệm hình sự được đặt ra để giải quyết hậu quả của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, giữa họ với một bên là Nhà nước. Người thực hiện tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự, có thể đưa đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng - khi hình phạt được áp dụng đối với họ, có thể họ bị hạn chế hoặc tước bỏ quyền, tự do, thậm chí có thể bị tước bỏ cả tính mạng. - Trách nhiệm hình sự luôn luôn được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tích chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định - một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội. Nhà nước có quyền truy tố, xét xử và buộc người phạm tội phải chịu hình phạt nhất định tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm. Đồng thời Nhà nước cũng có nghĩa vụ đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội không bị xâm phạm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, thông qua các cơ quan tố tụng đại diện Nhà nước (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án) để thực hiện trách nhiệm hình sự. - Trách nhiệm hình sự được xác định bằng một trình tự đặc biệt bởi các cơ quan Tư pháp hình sự có thẩm quyền mà trình tự đó phải do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Khi một công dân thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì chỉ có một số cơ quan được pháp luật quy định rõ ràng với các chức năng và nhiệm vụ của mình mới có quyền tiến hành những thủ tục nhất định để thực hiện trách nhiệm hình sự. Cụ thể các cơ quan này được Bộ luật tố 13 tụng quy định rất cụ thể - Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Bản thân các cơ quan này cũng không phải là có "siêu quyền", mà phụ thuộc vào từng giai đoạn giải quyết vụ án hình sự có những quyền tương ứng, bản thân các cơ quan này cũng có sự phụ thuộc, kiểm chế, giám sát nhau. - Trách nhiệm hình sự chỉ được thể hiện trong bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định. Đặc điểm này của trách nhiệm hình sự đã được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định rất rõ ràng - "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Như trên đã trình bày, khi xác định trách nhiệm hình sự thì có thể bao gồm cả Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, song việc khẳng định và thực hiện trách nhiệm hình sự thì chỉ duy nhất Tòa án. Tòa án thực hiện trách nhiệm hình sự bằng việc tuyên bố người phạm tội phải chịu hình phạt bằng việc tuyên trong bản án đã có hiệu lực pháp luật. - Trách nhiệm hình sự chỉ mang tính chất cá nhân (thể nhận). Trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ quy định đối với bản thân người phạm tội mà chưa quy định đối với pháp nhân và các tổ chức. Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước ta với chủ trương hội nhập sâu rộng trong các mối quan hệ quốc tế về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, vấn đề trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân và tổ chức đang được các nhà luật học quân tâm. 1.1.1.2. Cơ sở trách nhiệm hình sự và những điều kiện của trách nhiệm hình sự - Cơ sở trách nhiệm hình sự Điều 2 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự như sau: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự". 14 Nhà làm luật quy định cơ sở của trách nhiệm hình sự như đã viện dẫn trên, chính là thể hiện các nguyên tắc pháp chế và công bằng trong luật hình sự Việt Nam. Với nguyên tắc pháp chế, - chính là sự thể hiện cơ sở duy nhất, rõ ràng và dứt khoát nội dung "... phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định..." của trách nhiệm hình sự, còn với nguyên tắc công bằng, - thể hiện ở chỗ có nghĩa bảo đảm sự bình đẳng ngang nhau trong đánh giá hành vi phạm tội của những người phạm tội, bình đẳng trước pháp luật đối với tất cả mọi người với nội dung "người nào..." (không trừ một ai trong xã hội). Tuy nhiên, như đã đề cập, để công tác đấu tranh, phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả cao, cùng với việc phân loại tội phạm, đa dạng hóa hệ thống các hình phạt, tội danh, căn cứ quyết định hình phạt, chế tài... luật hình sự nước ta cũng đồng thời phân hóa các trường hợp phạm tội, các đối tượng phạm tội khác nhau để có đường lối xử lý phù hợp. Theo đó, phân hóa các trường hợp phạm tội và người phạm tội còn thể hiện ở chỗ: bên cạnh các trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự thì còn có một số trường hợp khi có đầy đủ những điều kiện nhất định, thì một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự, chịu mức độ hạn chế hay có thể được (hoặc phải được) miễn trách nhiệm hình sự [42, tr. 60]. Cũng chính từ cơ sở pháp lý này cho phép chúng ta hiểu "hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ " là cơ sở của việc xác định trách nhiệm hình sự. Đây là cơ sở có tính bắt buộc khi xác định trách nhiệm hình sự của một người. Từ nội dung của điều luật đã viện dẫn trên, quy định "...chỉ người nào phạm một tội...". Vì vậy, chúng ta càng có căn cứ để khẳng định hành vi của một người phải chịu trách nhiệm hình sự - bị coi là có tội khi có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể. Ngoài ra, qua nghiên cứu các quan điểm về trách nhiệm hình sự, các công trình nghiên cứu về trách nhiệm hình sự và thực tiễn giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, chúng ta nhận thấy cơ sở trách nhiệm hình sự còn được đặt ra dưới góc độ, như: cơ sở khách quan, cơ sở hình thức. 15 Cơ sở khách quan của trách nhiệm hình sự được hiểu là những dấu hiệu do luật định về một tội phạm cụ thể mà khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thỏa mãn các dấu hiệu để cấu thành tội phạm. Các dấu hiệu đó có thể là: lỗi, hành vi, mục đích v.v... Cơ sở hình thức của trách nhiệm hình sự được hiểu là những căn cứ chung mang tính bắt buộc được quy định trong luật hình sự do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặt ra để xác định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có phải chịu tách nhiệm hình sự hay không? Những điều kiện của trách nhiệm hình sự Điều kiện là cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra. Vậy điều kiện của trách nhiệm hình sự là gì? Qua nghiên cứu khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự cũng như cơ sở của trách nhiệm hình sự, chúng ta nhận thấy: điều kiện của trách nhiệm hình sự là những căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất bắt buộc được quy định trong luật hình sự, mà khi hội đủ các căn cứ đó thì một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải chịu trách nhiệm hình sự. Những điều kiện (căn cứ) của trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình sự Việt Nam có một số quan điểm đưa ra các điều kiện, như: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa cho rằng chính là "sự thỏa mãn cấu thành tội phạm là điều kiện cần và đủ của trách nhiệm hình sự" [17, tr. 9-10] hoặc; có quan điểm cho rằng những điều kiện của trách nhiệm hình sự là: con người cụ thể có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi này bị pháp luật hình sự cấm (được quy định trong luật hình sư). Quan điểm này có nội hàm rộng và đầy đủ, đó cũng là quan điểm được đông đảo các nhà khoa học luật hình sự ủng hộ. Từ khái niệm (về mặt nội dung) điều kiện của trách nhiệm hình sự đã nêu trên cho thấy, hệ thống của những điều kiện trách nhiệm hình sự gồm có 16 các điều kiện dưới đây để buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự, mà GS.TSKH Lê Cảm đã chỉ ra như sau: [6, tr. 636-638] - Người đó phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Chủ thể của trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ có thể là thể nhân. Nếu như xuất hiện bất kỳ sự nghi ngờ nào về năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể, thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền tương ứng không được truy cứu trách nhiệm hình sự người ấy mà nhất thiết phải trưng cầu giám định tâm thần pháp y để có kết luận chính xác về năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể và; Chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự ấy phải là người mà tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm ở trong trạng thái bình thường và hoàn toàn có khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, cũng như khả năng điều khiển được đầy đủ hành vi đó. Khi xem xét những điều kiện của trách nhiệm hình sự, chúng ta cũng thấy rằng, khái niệm "người có năng lực trách nhiệm hình sự" này chỉ là quan điểm khoa học pháp lý, còn khái niệm pháp lý của nó thì vẫn chưa được ghi nhận trong Bộ luật hình sự năm 1999. - Người đó phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành. Cụ thể Điều 12 của Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy, có thể hiểu định nghĩa khoa học của khái niệm người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là người mà tại thời điểm phạm tội đã đạt đến độ tuổi do luật hình sự quy định để có thể có khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, cũng như có khả năng điều khiển được đầy đủ hành vi đó; theo chính sách hình sự của Nhà nước ta, người ở độ tuổi chưa thành niên phạm tội do sự phát triển chưa đầy đủ về thể chất và tinh thần nên 17 bao giờ cũng được hưởng sự khoan hồng của nhà làm luật. Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội bao giờ cũng chịu mức độ trách nhiệm hình sự nhẹ hơn người đã thành niên phạm tội. - Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải có lỗi. Điều kiện này của trách nhiệm hình sự, nói nên người đó phải có thái độ tâm lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm và đối với hậu quả do hành vi đó gây nên được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Nếu như thiệt hại gây ra mà không phải do lỗi của chủ thể (như: trường hợp sự kiện bất ngờ), thì dù hành vi đó tuy có dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định trong Bộ luật hình sự nhưng các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền cũng không được truy cứu trách nhiệm hình sự chủ thể của hành vi đó. - Hành vi của người đó phải nguy hiểm cho xã hội. Ngay trong khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã thể hiện rất rõ điều kiện này. Trong thực tế khách quan phải có sự kiện của chủ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; Hành vi đó phải gây nên hoặc có khả năng thực tế đe dọa gây nên thiệt hại cho các quan hệ xã hội (các lợi ích của con người, của xã hội hay của Nhà nước) được bảo vệ bằng pháp luật hình sự và; Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà chủ thể đã thực hiện phải đáng kể đến mức phải áp dụng biện pháp xử lý về hình sự (vì nếu như áp dụng các biện pháp phi hình sự của các ngành luật tương ứng khác thì không đảm bảo đủ sức ngăn chặn). Tuy nhiên không thể đưa ra một "mức nguy hiểm" nào để làm chuẩn mực cho mỗi hành vi bị coi là nguy hiểm cho xã hội, mà "mức nguy hiểm" này được pháp luật hình sự Việt Nam quy định riêng cho mỗi tội phạm. - Hành vi của người đó bị luật hình sự cấm, tức là hành vi mà người đó thực hiện phải bị luật hình sự cấm (trái pháp luật hình sự). Khi xem xét cơ sở trách nhiệm hình sự, chúng ta đều thống nhất, tội phạm phải được quy định 18 trong luật hình sự (Điều 2 của Bộ luật hình sự năm 1999 - Cơ sở của trách nhiệm hình sự). Ví dụ: Thông thường hành vi đó phải là hành vi có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, nhưng có những trường hợp nó cũng có thể là hành vi chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, hay hành vi phạm tội chưa đạt được đề cập trong Phần chung nhưng tương ứng với tội phạm cụ thể nào đó trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự. Do vậy, theo nguyên tắc pháp chế được thừa nhận chung của luật hình sự (không có tội phạm, không có hình phạt nếu không có luật quy định), mặc dù tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi có lớn như thể nào đi chăng nữa nhưng nếu như nó vẫn chưa bị nhà làm luật tội phạm hóa, tức là hành vi đó vẫn chưa được khẳng định bằng một cấu thành tội phạm cụ thể tại điều tương ứng nào đó trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, thì cũng không được truy cứu trách nhiệm hình sự chủ thể thực hiện hành vi đó. Trên đây là những điều kiện để buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện. Chỉ khi nào người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có tất cả các điều kiện của trách nhiệm hình sự nêu trên, thì người đó mới phải chịu trách nhiệm hình sự. 1.1.1.3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự - Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Hiệu quả và ý nghĩa của việc truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như áp dụng hình phạt đối với người phạm tội phụ thuộc rất nhiều vào khoảng thời gian giữa thời điểm thực hiện tội phạm và thời điểm áp dụng hình phạt. Theo PGS.TS. Trần Văn Độ, "khoảng thời gian đó càng nhỏ thì hiệu quả đạt được của việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt càng cao; và ngược 19 lại, khoảng thời gian đó càng dài thì hiệu quả đạt được càng thấp" [14, tr. 102]. Vì vậy, nếu giữa thời điểm thực hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đã trải qua một thời hạn tương đối dài; đồng thời người đó đáp ứng được những điều kiện nhất định, như: người đó không phạm tội mới, không cố tình trốn tránh thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó không hợp lý và rõ ràng không còn cần thiết từ góc độ giáo dục, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, đi ngược lại nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và ở một chừng mực nào đó, gây lãng phí cho Nhà nước từ việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự bao giờ cũng phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng từ khi thực hiện hành vì đó đã trải qua một thời hạn nhất định, đáp ứng được các điều kiện nhất định, thì một người đã phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa. Vấn đề thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 23 của Bộ luật hình sự năm 1999, nội dung điều luật quy định: 1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; 2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau: a. Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng; b. Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trong; c. Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng; d. Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. 3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại 20 khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới. Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn trách và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn trách không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú [31]. Qua sự phân tích về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và nội dung Điều 23 của Bộ luật hình sự năm 1999, chúng ta nhận thấy thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, có một số điểm cần hoàn thiện hơn nữa, như: Luật hình sự thực định vẫn chưa khẳng định dứt khoát hậu quả pháp lý của việc không truy cứu trách nhiệm hình sự. Vấn đề này hiện nay, có nhiều nhà luật hình sự cho rằng đó là một dạng miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu là một dạng miễn trách nhiệm hình sự thì cũng cần sớm được quy định dứt khoát trong luật hình sự. Một hành vi được coi là tội phạm, thường bao giờ cũng gây ra thiệt hại nhất định về vật chất cho người bị hại. Vậy, vấn đề gây thiệt hại về vật chất hay các nguyên đơn dân sự và người thực hiện hành vi đó có tranh chấp dân sự, nhưng theo luật họ đã được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu thì được giải quyết như thế nào? Theo chúng tôi vấn đề này sớm được bổ sung trong luật hình sự về quy định thời hiệu, nhằm đảm bảo nghĩa vụ bồi thường của người này cũng như giải quyết vấn đề dân sự để duy trì trật tự xã hội chung và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người bị hại hay các nguyên đơn dân sự. - Miễn trách nhiệm hình sự Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, các quy định pháp luật thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự nói 21 chung và các quy định pháp luật thuộc về luật hình sự nói riêng, bên cạnh công tác nhằm mục đích đấu tranh và phòng chống tội phạm còn phải thực hiện tốt các nguyên tắc nhân đạo và nguyên tắc công bằng trong chính sách hình sự. Vì vậy, một Nhà nước pháp quyền thực sự, trong chính sách pháp luật hình sự không thể không có các quy phạm pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự. Đối với nguyên tắc nhân đạo, miễn trách nhiệm hình sự thể hiện sự khoan hồng, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội (phi hình sự) trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, không buộc phải cách ly người phạm tội ra khỏi cộng đồng. Trong các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, thì việc miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá là một trường hợp mang tính nhân đạo sâu sắc nhất. Đối với nguyên tắc công bằng, miễn trách nhiệm hình sự thể hiện thái độ từ phía Nhà nước và xã hội đối với người có hành vi phạm tội. Người được miễn trách nhiệm hình sự, bản thân họ cũng đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm. Song, với người này tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng, các cơ quan tiến hành tố tụng thấy rằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự người đó lại không cần thiết mà vẫn đáp ứng (đạt) được các yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội, và nếu đáp ứng được những điều kiện nhất định họ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự mà được miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, mặc dù họ được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng vẫn có thể họ phải chịu áp dụng một số các biện pháp cưỡng chế phi hình sự, thuộc các ngành luật tương ứng khác. Với cơ sở và ý nghĩa như trên về miễn trách nhiệm hình sự, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm như sau: Miễn trách nhiệm hình sự là hủy bỏ hậu quả pháp lý hình sự của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị 22
- Xem thêm -