Mô hình tổ chức bộ máy ktnn

  • Số trang: 36 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368 1 PHÂN TÍCH ƯU – NHƯỢC ĐIỂM CÁC NGUỒN TÀI TRỢ DAPT Nội Dung I. Những vấn đề chung về nguồn tài trợ DAPT:................................................................2 1.1. Nguồn tài trợ DAPT và vai trò của nguồn tài trợ DAPT.........................................2 1.2. Đặc điểm nguồn tài trợ cho DAPT...........................................................................3 1.3. Các cách huy động nguồn tài trợ cho DAPT...........................................................4 II. Các nguồn tài trợ cho DAPT........................................................................................5 2.1. Nguồn Ngân sách nhà nước (NSNN).......................................................................5 2.1.1. Vai trò.......................................................................................................................6 2.1.2. Vốn NSNN tài trợ cho DAPT.................................................................................6 2.1.3. Ưu – Nhược điểm nguồn NSNN.............................................................................9 2.2. Vay Ngân hàng phát triển ( NHPT)........................................................................14 2.2.1. Đặc điểm...........................................................................................................14 2.2.2. Ưu điểm..................................................................................................................15 2.2.3. Nhược điểm...........................................................................................................16 2.2.4. Ví dụ........................................................................................................................16 2.3. Vay Ngân hàng thương mại (NHTM)....................................................................17 2.3.1. Đặc điểm...........................................................................................................17 2.3.2. Ưu điểm............................................................................................................18 2.3.3. Nhược điểm......................................................................................................18 2.3.4. Ví dụ..................................................................................................................18 2.4. Nguồn tài trợ phát triển của các Chính phủ và tổ chức tài chính quốc tế............19 2.4.1. Đặc điểm...........................................................................................................19 2.4.2. Ưu điểm............................................................................................................21 2.4.3. Nhược điểm......................................................................................................24 2.4.4. Tìm hiểu về nguồn tài trợ từ WB, IMF...........................................................26 III. Thực trạng huy động và sử dụng các nguồn tài trợ DAPT tại Việt Nam..............33 I. Những vấn đề chung về nguồn tài trợ DAPT: Nguồn tài trợ DAPT và vai trò của nguồn tài trợ DAPT DAPT là những dự án có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia. Nó nhằm tới hai mục tiêu chính là hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội. Một DAPT phải trải qua chu trình của nó với 3 giai đoạn chính, từ giai đoạn chuẩn bị và phê duyệt dự án; đến giai đoạn đầu tư và đi vào vận hành quản lý, khai thác. Ngay từ khi dự án còn nằm trên những trang giấy, những nhà hoạch định dự án không chỉ quan tâm đến đầu ra mà còn đặt nhiều mối quan tâm ngay từ đầu vào cho dự án. Yếu tố đầu vào quan trọng nhất của DAPT chính là nguồn vốn tài trợ. Nguồn vốn tài trợ cho dự án hay lượng tư bản đóng góp vào để hình thành nên dự án. Nó đóng vai trò sống còn cho 1 DAPT, quyết định sự tồn tại của dự án và ảnh hưởng lớn tới tiến trình hoàn thành dự án. Vì vậy, việc thiết kế nguồn tài trợ hợp lý sẽ tạo ra được phương án huy động vốn tối ưu cho DAPT. Đặc điểm nguồn tài trợ cho DAPT Do bản thân DAPT mang những đặc trưng riêng biệt nên nó cũng đòi hỏi nguồn tài trợ có những yêu cầu phù hợp. Thứ nhất, DAPT thực hiện chiến lược phát triển tầm cỡ quốc gia, do đó, qui mô của 1 DAPT rất lớn. Vì vậy, nguồn tài trợ cho DAPT thường gồm nhiều nguồn khác nhau (hay còn được gọi là đồng tài trợ), để đảm bảo tập trung vốn với khối lượng lớn trong thời gian ngắn. Thứ hai, thời gian thực hiện DAPT thường kéo dài, dấn đến, vốn tài trợ cho DAPT được coi như là nguồn vốn trung và dài hạn. Vì thế, nguồn tài trợ cho 2 DAPT cũng phải là nguồn vốn trung và dài hạn, để đảm bảo thời gian hoàn trả vốn cho nhà đầu tư. Thứ ba, DAPT thường đặt lợi ích xã hội lên trên lợi ích kinh tế. Trong khi đó nguồn tài trợ cho DAPT không chỉ có mỗi nguồn từ vốn chủ sở hữu mà còn có nguồn vốn vay. Thậm chí, cơ cấu nguồn vốn vay chiếm phần nhiều. Việc trả lãi vay được rút ra từ lợi nhuận thu được từ dự án. Vì thế, những DAPT phục vụ lợi ích xã hội không hướng đến mục tiêu lợi nhuận đòi hỏi nguồn tài trợ với lãi suất thấp, lãi suất ưu đãi. Thứ tư, với những đặc điểm trên, nên ta thường thấy vốn tài trợ cho DAPT thường đến từ các tổ chức tài chính có tiềm lực lớn, các tổ chức tài chính nước ngoài hay của chính phủ trong và ngoài nước. Các cách huy động nguồn tài trợ cho DAPT Trên giác độ tài chính doanh nghiệp, nguồn tài trợ bao gồm nguồn vốn nợ và nguồn vốn chủ sở hữu. Theo đó, các cách huy động chủ yếu: - Sử dụng 100% vốn chủ - Sử dụng 100% vốn vay - Sử dụng kết hợp cả vốn chủ và vốn vay Nhưng với những đặc điểm yêu cầu đối với nguồn tài trợ DAPT đã phân tích ở trên, ta thấy, việc sử dụng 100% vốn chủ thường khó đạt được do hạn chế về năng lực tài chính trước đòi hỏi về qui mô của DA. Do đó, trên thực tế, các DAPT thường có sự góp mặt của vốn vay. Nếu trên tiêu thức về đối tượng tài trợ DAPT thì nguồn tài trợ DAPT gồm có: - Nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) - Vay Ngân hàng phát triển - Vay Ngân hàng thương mại - Nguồn tài trợ phát triển từ các chính phủ và tổ chức nước ngoài. 3 Dưới đây, nhóm sẽ đi sâu vào phân tích đặc điểm của các nguồn tài trợ DAPT theo cách tiếp cận thứ hai này. NSNN - thặng Hình thức tài trợ DA ưu tiên Qui mô vốn tài trợ Lãi suất Thời gian hoàn vốn NSNN - Phát TPCP NHPT dư hành DA sinh lời thấp, rủi ro cao hoặc DA k có khả năng hoàn trả NHTM CPNN & TC TCQT Cho vay trung – dài các chương trình Tài trợ ưu hỗ trợ phát triển đãi qua các chtr hạn - Vốn đầu tư trực tin dụng của Cp tiếp hoặc gián tiếp Huy động trên tt DA đầu tư và DA có hiệu quả kinh DAPT CSHT, XNK lớn, rr cao , tế, RR thấp môi trường, DA PT vùng. CBXH tại các DAPT có hiệu quốc gia đang quả TC phát triển, Hạn chế trong TLDTBB=0, Vốn Nhỏ, 1 phần của DA, kế hoạch thu – NN + Vốn huy tùy thuộc khả năng chi NS của NN động trên TT nên chịu rr của NH qui mô vốn tài trợ đc mở rộng 0% Thấp hơn tt, mức Tinh theo thị trường thế chấp thấp Lớn, qui đổi theo tỷ giá. Tùy thuộc vào chính sách tài trợ của TCQT. Không tính ls hoặc lãi suất ưu đãi dài Dài, được ân hạn Dài từ 10-15 năm Không dài Chủ dự án đứng trước những sự lựa chọn này, cần phải đưa ra những quyết định: - DAPT cần bao nhiêu vốn? - Vốn được huy động từ những nguồn nào? - Sử dụng nguồn vốn đó ntn để hiệu quả? Mức độ ưu tiên sử dụng vốn theo đó thường được các chủ dự án cân nhắc giữa lợi ích và chi phí theo tiêu chí tối đa lợi ích và giảm thiểu chi phí. - Vốn chủ  vốn vay - Vốn trong nước  vốn ngoài nước - Vốn có lãi suất thấp  vốn có lãi suất cao II. Các nguồn tài trợ cho DAPT 4 Nguồn Ngân sách nhà nước (NSNN) NSNN là một nguồn quan trọng đối với DAPT, nhất là đối với những DAPT tầm cỡ quốc gia và liên quan đến lợi ích xã hội. Theo Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua 16/12/2002 định nghĩa: NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của NN trong dự toán đã được cơ quan NN có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo các chức năng và nhiệm vụ của NN. 2.1.1. Vai trò - Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước . - Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát. - Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất. - Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư . Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của Ngân sách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế. 2.1.2. Vốn NSNN tài trợ cho DAPT Việc tài trợ cho DAPT là 1 khoản chi của NSNN. Việc cấp vốn cho DAPT, Nhà nước đã thể hiện vai trờ của mình là ngườ thiết kế và tạo động lực cho quá trình phát triển kinh tế. Vốn Ngân sách cho đầu tư sẽ được ưu tiên cho những dự án không có khả năng hoàn trả (giao thông miền núi, thủy lợi, trồng rừng phòng hộ…) hoặc có khả năng hoàn trả song mức sinh lời thấp, rủi ro cao, thời gian hoàn vốn dài. Nguồn ngân sách cho Dự án phát triển gồm: - Thặng dư NS (Thu Ngân sách > chi) 5 - Trái phiếu chính phủ: sử dụng trong trường hợp khả năng tài trợ của NSNN bị hạn chế.  Thặng dư NS (Thu NS > Chi):  Thu ngân sách nhà nước: Thu Ngân sách nhà nước phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để phân phối các nguồn tài chính của xã hội dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước. Như vậy, thu ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỹ ngân sách nhà nước đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thu ngân sách nhà nước bao g ồm: - Thu trong cân đối ngân sách : bao gồm các khoản thu mang tính chất Thuế (Thuế, Phí, Lệ phí)và thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước - Thu bù đắp thiếu hụt của ngân sách: Trong quá trình điều hành ngân sách, các chính phủ thường có nhu cầu chi nhiều hơn số tiền thu được và việc cắt giảm các khoản chi rất là khó khăn vì liên quan đến các hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội .... Do đó, bắt buộc chính phủ phải tính tới các giải pháp để bù đắp sự thâm hụt của ngân sách nhà nước. Giải pháp thường được chính phủ sử dụng là vay thêm tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, bao gồm vay trong nước và vay nước ngoài:  Chi ngân sách nhà nước: Chi ngân sách là một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Đ ó là việc phân phối, sử dụng nguồn Thu ngân sách vào các khoản chi tiêu khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu của Nhà nước. - Chi đầu tư phát triển: là những khoản chi mang tính chất tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế. (như 6 chi mua sắm máy móc, thiết bị và dụng cụ, chi cho xây dựng mới và tu bổ đường, trường, công sở, kiến thiết đô thị, chi cho thành lập các DNNN...) - Chi thường xuyên: Bao gồm các khoản chi cho tiêu dùng xã hội gắn liền với chức năng quản lý xã hội của nhà nước, khoản chi này được phân thành hai bộ phận: một bộ phận vốn được sử dụng để đáp ứng nhu cầu của dân cư về phát triển văn hóa xã hội, nó có mối quan hệ trực tiếp đến thu nhập và nâng cao mức sống của dân cư và một bộ phận phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh tế xã hội chung của nhà nước. Chi tiêu dùng thường xuyên bao gồm các khoản chi sau đây: o Chi quản lý hành chính o Chi văn hóa, giáo dục, y tế o Chi quốc phòng o Chi trợ cấp  Nhu cầu chi thường xuyên thường rất cấp bách tại các nước nghèo.Do vậy Khoản thặng dư (được hiểu là chi cho đầu tư phát triển) sẽ được ưu tiên dành cho các dự án không có khả năng hoàn trả  Trái phiếu Chính phủ  Trái phiếu: Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.  Trái phiếu chính phủ:. là những trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích, hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ. Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao.( Do có nguồn ngân sách Nhà nước đảm bảo). Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là 7 lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn. Trái phiếu Chính phủ, bao gồm 6 loại : o Tín phiếu Kho bạc. o Trái phiếu kho bạc. o Trái phiếu công trình trung ương. o Trái phiếu đầu tư. o Trái phiếu ngoại tệ. o Công trái xây dựng Tổ quốc. Nhưng theo dự thảo Nghị định về phát hành trái phiếu Chính phủ do Bộ Tài chính ban hành tháng 1 vừa qua, có thể TPCP sẽ giảm từ 6 xuống còn 4 loại là: Tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ và công trái xây dựng Tổ quốc. Như vậy là bỏ trái phiếu đầu tư và trái phiếu công trình trung ương. 2.1.3. Ưu – Nhược điểm nguồn NSNN  Đối với nguồn thặng dư ngân sách  Ưu điểm: Đối với nguồn vốn do ngân sách cấp, ưu điểm của nó là vốn ngân sách được sử dụng lâu dài, không phải trả lãi hoặc có nhưng rất thấp (Các DN sẽ không phải chịu áp lưc trả lãi)  Nhược điểm: - Đối với các nước đang phát triển, thu ngân sách nhỏ mà nhu cầu chi tiêu lớn, do đó tình trạng phổ biến thường là bội chi ngân sách . Bội chi ngân sách không chỉ diễn ra phổ biến đối với các nước nghèo, kém phát triển mà xảy ra ngay cả đối với những nước thuộc nhóm các nền kinh 8 tế phát triển nhất (nhóm OECD). Đối với các nước đang phát triển, bội chi ngân sách thường để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu như: Giao thông, điện, nước... Nhiều nước phát triển và đang phát triển trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng vẫn bội chi ngân sách. V í d ụ: Theo thống kê của Bộ Tài chính, thu NSNN 2009 cả năm ước đạt 390.650 tỉ đồng, bằng 100,2% dự toán (vượt hơn 750 tỉ đồng). Trong khi đó, tổng chi NSNN năm 2009 ước đạt 533.005 tỉ đồng.Như v ậy, bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2009 là 115.900 tỉ đồng, bằng 6,9% GDP, tăng 28.600 tỉ đồng so với dự toán.( Theo dự toán l à 4.82%GDP) Trong tổng chi NSNN, chi đầu tư phát triển ước đạt 135.500 tỉ đồng, chiếm 25,4% tổng chi NSNN và bằng 8,1% GDP, xấp xỉ mức thực hiện năm 2008; chi trả nợ và viện trợ cả năm ước đạt 64.800 tỉ đồng, tăng 10,2% so với dự toán; chi thường xuyên ước thực hiện cả năm đạt 332.605 tỉ đồng Cũng theo tính toán trên, bội chi NSNN năm 2010 dự kiến là 119.700 tỉ đồng, tương ứng 6,2% GDP. Khoản bội chi này sẽ được bù đắp từ: vay trong nước (98.700 tỉ đồng) và vay ưu đãi ngoài nước (21.000 tỉ đồng). - Chất lượng nhiều công trình từ nguồn ngân sách Nhà nước không đảm bảo chất lượng, nhanh chóng xuống cấp. Ví dụ: 31/3/2010: Dự án Sửa chữa mặt cầu Thăng Long (Hà Nội) do Ban Quản lý dự án 2, Cục Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư, với tổng kinh phí gần 100 tỷ đồng. Nhưng chỉ sau một tháng đưa vào sử dụng, mặt cầu đã xuất hiện nhiều vết nứt, lún. Dự án Sửa chữa mặt cầu Thăng Long do Ban Quản lý dự án 2, thuộc Cục Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư. Đơn vị thiết kế, và giám sát thi công là Viện Khoa học công nghệ (Bộ Giao thông Vận tải). Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Bảo Quân là đơn vị thi công. Công trình này đã sử dụng loại bê tông nhựa SMA, là loại vật liệu đạt tiêu chuẩn quốc tế và được nhiều nước trên thế giới sử dụng cho các công trình mặt cầu thép có tuổi thọ công trình nhiều năm. Nhưng với dự án sửa chữa mặt cầu Thăng Long, mới chỉ sau hơn một tháng đưa 9 vào sử dụng đã phát hiện các vết nứt có chiều rộng từ 3- 5cm, chiều dài từ 2- 4 mét. Không chỉ riêng dự án này, trong thời gian gần đây không ít các công trình cầu, đường mới hoàn thành đã xuống cấp nghiêm trọng. Xin lấy ví dụ: Cầu Khe Dầu ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình được bàn giao đưa vào sử dụng vào cuối năm 2008. Thế nhưng, hiện nay mố cầu bị sạt lở. Nghiêm trọng hơn, lớp bê tông phía trong mặt cầu không được sử dụng vật liệu xi măng cốt thép mà được bên thi công thay thế bằng cốt tre và cót ép. Như vậy sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn đi lại của nhân dân. Cũng bằng hình thức thi công gian dối này, trước đó là vụ Ban Quản lý dự án PMU 18 mà chủ đầu tư là Bộ Giao thông Vận tải lại sử dụng bê tông cốt tre để làm cọc tiêu trên quốc lộ 18.v.v… - Các công trình, dự án có nguồn vốn NS thường lãng phí và thất thoát lớn vì tình trạng “cha chung không ai khóc”.  Điều này thể hiện trên nhiều bình diện: lãng phí vì đầu tư sai mục đích, không đạt mục tiêu, bố trí vốn dàn trải, phân tán, thiếu tập trung ,… Có thể nói, những hạn chế trong việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án chính là thủ phạm gây thất thoát của công. Ví dụ : Có những dự án phải thay đổi tổng mức đầu tư, tổng dự toán nhiều lần. Có dự án quyết định đầu tư nhưng không có tiền để triển khai, quá thời gian quy định lại phải lập lại dự án; rồi lựa chọn địa điểm xây dựng không phù hợp, phải dừng cả dự án. Chẳng hạn, Dự án xử lý nước thải KCN Vĩnh Niệm - Hải Phòng vốn đã cấp phát 3 tỷ đồng và Dự án xử lý nước thải khu du lịch Vịnh Tùng Dinh - Cát Bà - Hải Phòng 23,52 tỷ đồng, hoàn thành rồi không hoạt động; Hạng mục vườn ươm Thanh Táo, Công trình tuyến tránh Hà Nội - Cầu Giẽ đầu tư 1,2 tỷ đồng đến nay bỏ hoang... 10 Ngoài ra, tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún chậm được khắc phục, dẫn đến nhu cầu vốn cho các dự án vượt quá khả năng ngân sách. Điều này dẫn đến tình trạng có dự án phải kéo dài gần 20 năm. Điển hình, Dự án đầu tư xây dựng trường Đại học Hàng Hải triển khai từ năm 1981 đến nay chưa xong do không bố trí đủ vốn. - Tình trạng giải ngân các dự án có nguồn vốn NS còn chậm. Ví dụ: Theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính - Ngân sách, việc giải ngân các khoản vốn đã được duyệt cho năm 2009 tại hầu hết các địa phương đều chậm. Tính đến hết ngày 31/5, vốn trái phiếu Chính phủ mới giải ngân được khoảng 5.336 tỷ đồng, bằng 18,4% kế hoạch. Trong đó, Trung ương đạt 3.771 tỷ đồng, đạt 21,6% kế hoạch, địa phương đạt 1.565 tỷ đồng, đạt 16,6% kế hoạch. Giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cũng chậm, kể cả huy động và tiến độ thực hiện, những dự án ưu tiên như y tế, trường học cũng đạt kết quả rất thấp. Nguyên nhân của tình trạng giải ngân chậm nguồn vốn. o Do công tác chuẩn bị đầu tư chậm. o Do giải phóng mặt bằng chậm. … o Do tổ chức thi công chậm. o Do nghiêm thu, thanh toán chậm. o Do công tác chỉ đạo, điều hành của cơ quan chủ quan đầu tư (các bộ, địa phương) chưa sát sao, kiên quyết - Nợ đọng XDCB ở nhiều dự án đầu tư thuộc nguồn NSNN còn lớn. - Quản lý tài chính trong dự án đầu tư còn lỏng lẻo gây thất thoát vốn NS. Bệnh thành tích. Chỉ coi trọng tăng trưởng về số lượng, tốc độ tăng trưởng mà không coi trọng chất lượng tăng trưởng kinh tế  Đối với nguồn trái phiếu chính phủ (TPCP)  Ưu điểm: 11 - Khối lượng vốn huy động trong nước thông qua phát hành TPCP đã đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. - Sử dụng TPCP huy động vốn tránh được những rủi ro mà việc in tiền và vay nước ngoài gây ra. Phát hành TPCP không làm tăng lượng tiền lưu thông, không phải chịu rủi ro về tỷ giá hối đoái, sự lũng đoạn của người nước ngoài  Nhược điểm: Sử dụng TPCP về dài hạn gây ra những hạn chế: - Tăng lãi suất khi CP vay càng nhiều, nguồn cung về vốn trong nước sẽ càng hạn chế - Vay nhiều dẫn đến nợ của CP tăng và nếu khả năng trả nợ thấp, lòng tin vào CP sẽ bị giảm - Vay trong nước thông qua phát hành TPCP để tài trợ cho các DAPT làm kìm hãm các hoạt động SXKD của nền kinh tế Kho bạc Nhà nước vừa có công văn gửi Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thông báo lịch phát hành các loại trái phiếu Chính phủ trong quý1/2010. Cụ thể, ngày 21/1, 4/2, 4/3, 18/3 sẽ đấu thầu trái phiếu qua Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội với khối lượng gọi thầu từ1.000-1.500tỷđồng/phiên. Ngày 15/1, 27/1, 10/3, 24/3 sẽ tổ chức đấu thầu trái phiếu từ 1.000 - 1.500 tỷ đồng/phiên qua kênh bảo lãnh phát hành.Đối với lịch đấu thầu tín phiếu qua Ngân hàng Nhà nước, khối lượng tín phiếu mỗi phiên là từ 1.000 - 1.500 tỷ đồng. Thời gian tổ chức vào các thứ 2, thứ 5 hàng tuần (ngày 11/1, 14/1, 18/1, 21/1, 25/1, 28/1, 1/2, 25/2, 1/3, 4/3, 8/3, 11/3, 15/3, 18/3, 22/3, 25/3, 29/3). Ngày 26/01/2010, Việt Nam đã phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu Chính Phủ thời hạn 10 năm trên thị trường quốc tế với lợi tức 6,95%. Số tiền thu được từ đợt phát hành 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế này được tập trung vào các mục tiêu: (i) hoàn trả vốn ngân sách Nhà Nước, (ii) giao Bộ Kế hoạch&Đầu tư phối hợp Bộ Tài chính lựa chọn dự án phù hợp (dự kiến cho các Tập đoàn Dầu khí, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà và Tổng Công ty 12 lắp máy Việt Nam đầu tư bổ sung các dự án lọc hóa dầu Dung Quất, dự án xây dựng thủy điện Xê Ca Mản 3, nhà máy thủy điện Hủa Na và mua tàu vận tải biển). Trước đó, vào tháng 10/2005, Việt Nam cũng đã hoàn thành đợt chào bán trái phiếu quốc tế đầu tiên với giá trị phát hành là 750 triệu USD, thời hạn 10 năm và lợi suất 7,125% sau đó cho Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam vay lại. Trái phiếu quốc tế do Việt Nam phát hành thành công nhưng TPCP bằng ngoại tệ phát hành trong những đợt gần đây, đặc biệt trong năm 2009 đều không thu được kết quả như mong muốn, nguyên nhân chính là do vấn đề lãi suất không hấp dẫn. Đợt phát hành thứ nhất vào tháng 3/2009, 3 lần đấu thầu chỉ huy động được 230,11 triệu USD trong tổng số 300 triệu USD được đưa ra mời thầu. Đợt 2 vào tháng 8/2009, trái phiếu ngoại tệ kỳ hạn dài số lượng bỏ thầu rất ít. Trong đó, cả 3 phiên chỉ huy động được 100 triệu USD/100 triệu USD trái phiếu chào bán kỳ hạn 1 năm; 47 triệu USD/100 triệu USD trái phiếu kỳ hạn 2 năm; và 10 triệu USD/50 triệu USD trái phiếu kỳ hạn 3 năm. Đợt phát hành thứ 3, và thứ 4 vào ngày 29/12/2009, kết quả chỉ huy động được 73 triệu USD trong tổng số 200 triệu USD giá trị trái phiếu gọi thầu, đạt 36,5%. Tỷ lệ huy động thành công có xu hướng giảm dần theo từng đợt phát hành kể từ đầu 2009 tới nay. Năm 2010, vốn trái phiếu Chính phủ là 56.000 tỷ đồng. Trong đó, bố trí vốn cho 5 Bộ: Quốc phòng, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Công an là 20.200 tỷ đồng; giao cho 63 tỉnh, thành là 35.800 tỷ đồng. Số vốn dành cho giao thông là 28.000 tỷ đồng, thủy lợi 13.600 tỷ đồng, y tế 5.600 tỷ đồng, kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên là 4.500 tỷ đồng, ký túc xá sinh viên là 2.000 tỷ đồng và di dân tái định cư thủy điện Sơn La 1.500 tỷ đồng. Vay Ngân hàng phát triển ( NHPT) Ngân hàng phát triển là một tổ chức tài chính của Chính Phủ, có nhiệm vụ tổ chức nguồn vốn cho dự án phát triển. 13 Ngân hàng Phát triển Việt Nam (Vietnam Development Bank - VDB) được thành lập trên cơ sở Quỹ Hỗ trợ Phát triển theo quyết định 108/2006/QĐTTG của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19/05/2006. Là một đơn vị cho vay chính sách phi lợi nhuận, với số vốn điều lệ lên tới 10 nghìn tỷ đồng. Cùng với Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, VDB có mục tiêu đóng góp vào quá trình xoá đói giảm nghèo thông qua các khoản vay cho các công trình xây dựng thuỷ lợi và giao thông nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các làng nghề, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cho các vùng sâu, vùng xa và hỗ trợ xuất khẩu. Đặc điểm - Ngân hàng Phát triển là tổ chức tài chính thuộc sở hữu 100% của Chính phủ, không nhận tiền gửi từ dân cư. - Nguồn tài trợ của Chính Phủ dưới hình thức cấp tín dụng (có hoàn trả gốc và lãi) được thực hiện thông qua NHPT. Ví dụ, Chính Phủ phát hành trái phiếu hoặc vay ưu đãi các tổ chức quốc tế và chuyển cho NHPT để cho vay dự án. - Ngoài ra, NHPT tự huy động trên thị trường để tài trợ dự án. NHPT tài trợ một cách đa dạng với nhiều loại lãi suất, hình thức khác nhau thích hợp cho những dự án khác nhau. - Do hoạt động của ngân hàng không vì mục đích lợi nhuận nên được hưởng một số ưu đãi đặc biệt như không phải dự trữ bắt buộc, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. - Tuy nhiên, ngân hàng vẫn chịu sự điều tiết của Luật các tổ chức tín dụng, do vậy vẫn phải chấp hành các quy định trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, và quản lý ngoại hối của Ngân hàng nhà nước. 2.2.2. Ưu điểm 14 - DN vay vốn của Ngân hàng Phát triển với lãi suất cho vay sẽ rẻ hơn vay của các NHTM khác. Bởi vì ngân hàng cho vay theo lãi suất thị trường, theo thông lệ quốc tế là lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng thêm một khoản phí nhất định (khoảng 1%/năm). - Thời hạn cho vay dài sẽ giúp cho đối tượng vay vốn chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất. Hơn nữa, việc khấu hao máy móc, nhà xưởng, v.v. cũng được dài hơn nên khách hàng vay vốn có điều kiện tích lũy để tái sản xuất và mở rộng đầu tư. Do vậy, thông qua NHPT, vốn ưu đãi được quay vòng có hiệu quả hơn. - Điều kiện cho vay của ngân hàng phát triển đơn giản hơn so với vay từ các NHTM khác như không phải thế chấp, hoặc nếu có thì tỷ lệ thế chấp ở mức tương đối thấp, bằng 30% giá trị khoản vay. Trong tương lai, ngân hàng có dự định trình Chính phủ giảm mức thế chấp xuống còn 15% giá trị khoản vay. DNNVV được VDB bảo lãnh sẽ mất 0,5% phí bảo lãnh trên tổng số vốn vay nhưng lãi suất vay vốn vẫn thấp hơn lãi suất trên thị trường, thậm chí ngân hàng có thể được hỗ trợ 4% lãi suất vay vốn. 2.2.3. Nhược điểm Nguồn vốn cho vay theo diện bảo lãnh này vẫn chưa nhiều; thậm chí có ngân hàng chưa cho vay được một đồng vốn nào, chỉ vì chưa có DN nào được VDB bảo lãnh vay vốn. Nguyên nhân là do: Chương trình bảo lãnh của VDB cho các DN vay vốn từ NHTM là một chương trình dành cho các tín dụng dưới chuẩn, mà đã là tín dụng dưới chuẩn thì các điều kiện cần phải nới lỏng. Tuy nhiên, điều kiện để áp dụng cho các DN được VDB bảo lãnh là những điều kiện rất khó khăn. Và thực ra, người ta đã vay đâu mà có tiền để thực hiện bảo lãnh cho VDB. 2.2.4. Ví dụ Theo tin từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), VDB sẽ cung ứng 15.000 tỷ đồng tín dụng cho xuất khẩu và 26.400 tỷ đồng tín dụng đầu tư để 15 phục vụ nền kinh tế trong năm 2010. Đặc biệt, tín dụng cho xuất khẩu năm 2010 sẽ có nhiều đổi mới, tập trung vào những lĩnh vực và doanh nghiệp trọng điểm. Dự kiến, doanh số cho vay năm 2009 đạt 33.000 tỷ đồng, tương đương với kim ngạch xuất khẩu 55.000 tỷ đồng. Vốn tín dụng xuất khẩu do VDB cho vay thường xuyên chiếm 35-60% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủy sản, 3555% mặt hàng tàu biển, 15-25% mặt hàng cà phê… Hiện có trên 60% doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản hàng đầu của Việt Nam có quan hệ tín dụng với VDB. Theo VDB, Ngân hàng sẽ tăng khoảng 30-50% tổng mức cho vay hỗ trợ xuất khẩu so với kế hoạch được Chính phủ giao. Cụ thể, trong 54.000 tỷ đồng vốn Chính phủ giao trong năm 2010, bao gồm cho vay tín dụng đầu tư 26.400 tỷ đồng, tín dụng xuất khẩu 15.000 tỉ đồng và cho vay lại vốn ODA là 10.000 tỷ đồng. Ngân hàng sẽ phấn đấu tăng trưởng khoảng 30-50% tổng mức cho vay hỗ trợ xuất khẩu so với kế hoạch được giao và dự kiến dư nợ bình quân cho vay đạt 20.000 tỉ đồng. Với vòng quay vốn trung bình 3 vòng/năm thì doanh số đưa ra phục vụ hỗ trợ xuất khẩu sẽ vào khoảng 50.000-60.000 tỷ đồng. VDB sẽ không giải ngân vốn đồng đều mà dự kiến chỉ tập trung cho những doanh nghiệp xuất khẩu có quy mô lớn, kim ngạch xuất khẩu lớn để giữ được thị trường và mở thị trường mới. Với chỉ tiêu này, VDB sẽ tiếp tục cải cách các thủ tục vay vốn, đồng thời triển khai rộng hơn các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, cho vay xuất khẩu bằng ngoại tệ và bảo lãnh thực hiện hợp đồng. VDB cũng sẽ phối hợp với các hiệp hội, Bộ Công Thương để đưa vốn ra theo chương trình và tín hiệu thị trường, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của doanh nghiệp, góp phần nâng cao giá trị của hàng hóa xuất khẩu. Đến thời điểm hiện nay, VDB đang thực hiện cho vay xuất khẩu đối với 27 mặt hàng sang trên 80 quốc gia trên thế giới, với tổng số vốn giải ngân đạt 76.000 tỉ đồng. Trong đó vốn giải ngân riêng trong năm 2009 đạt 31.000 tỉ đồng, 16 tập trung vào lĩnh vực nông, lâm và thủy - hải sản (77%). Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ tín dụng xuất khẩu giai đoạn 2006-2009 luôn ở mức trên dưới 2,5%. Nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu, VDB đang phối hợp cùng với các doanh nghiệp và các cơ quan liên quan lên kế hoạch thiết lập các kho ngoại quan tại nước ngoài để giảm chi phí lưu thông và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp cũng như ngân hàng. Dự kiến bước đầu phương án xây dựng một kho ngoại quan tại Mỹ bằng nguồn vốn nhà nước và các DN xuất khẩu sẽ được trình lên Thủ tướng Chính phủ. Việc xây dựng các kho ngoại quan tại nước ngoài sẽ giúp các DN xuất khẩu giảm chi phí lưu kho và chủ động trong việc cung ứng nguồn hàng cho đối tác... Vay Ngân hàng thương mại (NHTM) Đặc điểm Khác với NHPT, các NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận bằng cách huy động vốn trong dân chúng. Do đó, việc tài trợ cho các dự án nằm trong hoạt động tín dụng của các NHTM. Nguồn tín dụng này lại được tài trợ từ nguồn huy động vốn trung và dài hạn của chính các NHTM có được. Như vậy rủi ro cho việc tài trợ DA đối với NHTM là khá lớn. Vì thế chính bản thân các NHTM cũng phải cân nhắc rất kỹ khi đầu tư vào những DAPT căn cứ vào tiềm lực của mình. Vốn của NHTM vì thế có chi phí vốn lớn, nó tham gia 1 phần nhỏ vào tổng kinh phí đầu tư cho DAPT. Những DAPT đặt tính xã hội lên trên thường không thu hút được sự chú ý của nguồn tài trợ này. Ưu điểm - Nguồn vốn của NHTM kết hợp với các nguồn vốn khác là biện pháp hiệu quả đối với dự án phát triển có tính sinh lời và hiệu quả cao thông qua việc tạo áp lực trả lãi. - Tài trợ của NHTM sẽ hạn chế bao cấp của Nhà nước, hạn chế gánh nặng nợ nần của quốc gia, hạn chế tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác thường gắn liền với tài trợ của Nhà nước. 17 Nhược điểm - Thời gian sử dụng vốn ngắn, lãi suất cao. - So với các nguồn vốn khác, nguồn vốn vay từ NHTM thường kèm theo điều kiện vay vốn có tài sản đảm bảo Ví dụ Công trình thủy điện Sơn La là công trình thủy điện lớn nhất ở VN. Công suất đạt khoảng 10 ty Kwh/ năm góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong giai đoạn huy động vốn cho dự án vào năm 2007, tập đoàn điện lực VN (EVN) và 4 NHTM Việt Nam (Agribank, VCB, BIDB, Vietinbank.) đã ký hợp đồng vay vốn thương mại với tổng giá trị 17500 tỷ đồng. Thời hạn vay là 15 năm, thời gian ân hạn là 5 năm, lãi suất vay bằng lãi suất huy động tiết kiệm 12 tháng ( trả lãi sau) bình quân của các NH cho vay cộng với phí 2.5%/ năm. Dự án thủy điện Sơn La có công suất = 2400 MW do EVN làm chủ đầu tư, tổng đầu tư 43083 tỷ đồng. Bên cạnh vay vốn thương mại trong nước, nguồn vốn để thực hiện DA còn được thu xếp từ vay ngân sách 5000 tỷ đồng để đền bù di dân, vay NHPT 4000 tỷ đồng, vốn tự tích lũy và vốn trái phiếu 9823 tỷ đồng, vay thương mại nước ngoài để mua sắm thiết bị 6760 tỷ đồng. Hợp đồng này được kí giữa Ngân hàng Techcombank, Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC), Công ty Tài chính Cổ phần Hóa chất Việt Nam (VCFC) và Ngân hàng Oceanbank. Theo hợp đồng, Techcombank sẽ là tổ chức tín dụng đầu mối cùng các đơn vị đồng tài trợ PVFC, VCFC và Ngân hàng Oceanbank nhất trí tài trợ vốn trung dài hạn cho Công ty Cổ phần Năng lượng Hòa Phát thực hiện dự án xây dựng “Nhà máy sản xuất than Coke”.Tổng vốn mà các bên tham gia cam kết đồng tài trợ 600 tỷ đồng, được giải ngân trong vòng 6 năm. Đây là nguồn tín dụng quan trọng giúp chủ dự án thanh toán chi phí xây dựng công trình, đầu tư máy móc thiết bị và các chi phí khác trong quá trình xây 18 dựng Nhà máy sản xuất than Coke.Nhà máy có công suất 350.000 tấn/năm, được xây dựng tại xã Hiệp Sơn, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.Theo dự tính, dự án khi hoàn thành và đi vào hoạt động sẽ đáp ứng một phần nhu cầu nguyên liệu đầu vào than cốc cho Khu liên hợp sản xuất Gang thép Hòa Phát và một số nhà máy cán thép (công nghệ lò cao) tại ba miền Bắc, Trung, Nam. Nguồn tài trợ phát triển của các Chính phủ và tổ chức tài chính quốc tế. Đặc điểm Do xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, ngày nay, quan hệ kinh tế giữa quốc gia với quốc gia, giữa 1 quốc gia với các tổ chức quốc tế trở nên phổ biến. Trên phương diện kinh tế, điều này mở rộng và gia tăng nguồn vốn chảy vào trong nước. Đây chính là nguồn tài trợ rất tốt cho các DAPT. Nguồn tài trợ này di chuyển thường từ những nước phát triển sang những nước đang phát triển và kém phát triển. Đối với những nước phát triển, điều này giúp họ gia tăng hiệu quả sử dụng vốn. Còn đối với các nước kém phát triển, thì đây là nguồn vốn giúp cải thiện và phát triển nền kinh tế trong nước còn khó khăn. Nguồn tài trợ này luôn đi kèm với màu sắc chính trị biểu hiện ra thành những điều kiện trao đổi mà nước tài trợ đưa ra cho nước nhận tài trợ. Nguồi tài trợ từ nước ngoài bao gồm: - Nguồn tài trợ từ các Chính phủ nước ngoài qua hợp tác song phương hoặc đa phương. - Nguồn tài trợ từ các Tổ chức tài chính quốc tế như: WB, ADB, IMF… Hình thức tài trợ phổ biến nhất là thông qua hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là hoạt động hợp tác phát triển giữa 19 Nhà Nước hoặc Chính phủ một nước với các Chính Phủ nước ngoài, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia. - Lãi suất cho vay rất thấp khoảng từ 0.25-2%/năm, thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả, ân hạn từ 810năm) - Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA - Mục tiêu chính là giúp các nước tiếp nhận phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội. Các lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA bao gồm: Xoá đói, giảm nghèo, nông nghiệp và phát triển nông thôn; cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật như giao thông vận tải, thông tin liên lạc…  Căn cứ vào tính chất tài trợ: ODA không hoàn lại: Là hình thức cung cấp ODA mà nước tiếp nhận không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ. ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): Là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc. ODA vay hỗn hợp: Là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.  Căn cứ vào mục đích sử dụng: Hỗ trợ cơ bản: Là loại ODA dành cho việc thực hiện nhiệm vụ chính của các chương trình, dự án đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như đường sá, cầu, cảng,…. Loại ODA này thường là các khoản vay ưu đãi. 20
- Xem thêm -