Mô hình quản lý tài chính công ở các quốc gia và bài học kinh nghiệm cho việt nam

  • Số trang: 15 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 30 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC  TIỂU LUẬN KẾ TOÁN CÔNG TÊN ĐỀ TÀI SỐ 28 MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG Ở CÁC QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM HVTH: Lê Thị Mỹ Nương Nhóm 2 Lớp: Kế toán Ngày – K.20 TPHCM, Ngày 07 Tháng 11 Năm 2012 0 LỜI NÓI ĐẦU. Quản lý tài chính công gắn liền với hoạt động của nhà nước. Nó vừa là nguồn lực để nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình , vừa là công cụ để thực hiện các dịch vụ công, chi phối , điều chỉnh các mặt hoạt động khác của đất nước. Trong tiến trình đổi mới, thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia, Đảng và nhà nước ta coi đổi mới quản lý tài chính công là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu. Chính sách tài chính công nói chung, hay chính sách thu chi ngân sách nhà nước, cũng như cơ chế quản lý nhà nước nói riêng, luôn là mối quan tâm trong nghiên cứu cải cách kinh tế của các nước phát triển và đang phát triển. Ở nước ta việc đổi mới quản lý công đã bắt đầu được nghiên cứu từ giữa năm 1980, trong thời gian tiếp đó nhiều luật mới được ban hành, thể chế hóa, và cụ thể hóa đường lối, chính sách của đảng, nhà nước. Cơ chế chính sách ngày càng được hoàn thiện và bắt đầu phát huy một cách tích cực trong quản lý kinh tế và đời sống xã hội .Trong quá trình cải cách này để việc quản lý tài chính công được hiệu quả chúng ta nên đi vào nghiên cứu các mô hình quản lý công của các nước và từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam, do đó bài tiểu luận này sẽ đi vào nghiên cứu đề tài “ Mô hình quản lý tài chính công ở các quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” qua đó để thấy được ưu điểm, nhược điểm các nước này để hoàn thiện chính sách quản lý tài chính công của nhà nước, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy nền kinh tế trong thời gian tới. 1 PHẦN 1 NHỮNG VẤN VỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG 1.1 Khái niệm về tài chính công Trong tác phẩm “ Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, của nhà nước” Ăng-ghen đã chỉ ra rằng, nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp. Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan quyền lực công cộng, đứng ra quản lý, duy trì và phát triển xã hội, đất nước. Để làm được điều đó nhà nước cần phải có tiềm lực tài chính. Bằng quyền lực công , nhà nước quy định các khoản thuế bắt buộc các tổ chức, dân cư phải đóng góp tạo nên các khoản thu của nhà nước. Đồng thời nhà nước cũng có những khoản chi tiêu cần thiết về quân đội, nhà tù, bộ máy quản lý…nhằm duy trì quyền lực của nhà nước. Tạo nên các khoản chi của nhà nước. Từ đó phạm trù tài chính nhà nước bắt đầu xuất hiện. Theo Harvey S.Rsen Tài chính công là một lĩnh vực của kinh tế học phân tích việc đánh thuế và chính sách chi tiêu của chính phủ Theo ông tài chính công đồng nghĩa với kinh tế học công cộng và kinh tế học khu vực công. Thuật ngữ “ Tài chính công tập chung vào các hoạt động đánh thuế và chi tiêu của chính phủ và nó ảnh hưởng đến sự phân bổ của các nguồn lực và phân phối thu nhập”. Ông cho rằng vấn đề then chốt của các hoạt động này gắn với việc sử dụng các nguồn lực thực tế, có nghĩa là tập chung vào các chức năng kinh tế của chính phủ, cách thức mà chính phủ tác động đến việc phân bổ các nguồn lực. 1.2 Lý luận chung về quản lý tài chính công. 1.2.1/ Sự cần thiết quản lý tài chính công. Quản lý là quá trình chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức chỉ đạo, tác động , kiểm tra, điều chỉnh của chủ thể quản lý đến đối tượng, khách thể quản lý nhằm làm cho đối tượng quản lý vận động theo ý đồ của của chủ thể quản lý…Quan hệ chủ thể và đối tượng quản lý trong tài chính công được xác định: - Nhà nước là chủ thể quản lý. Tuỳ theo tổ chức bộ máy của nền hành chính tổng quốc gia, mỗi nước có cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý tài chính công phù hợp. - Đối tượng quản lý là tài chính công. Như vậy quản lý tài chính công là quá trình tác động, điều chỉnh của nhà nước đến tài chính công nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước một cách có hiệu quả nhất. Như vậy khái niệm quả lý tài chính công bao hàm những khía cạnh sau đây: 2 Đối tượng quản lý của tài chính công là các hoạt động thu chi của các quỹ tài chính - công, trong đó quan trọng nhất là ngân sách nhà nước. Hệ thống quản lý tài chính công là sự liên kết hữu cơ giữa chủ thể quản lý là cơ quan - nhà nước với khách thể quản lý là các tổ chức ,doanh nghiệp, dân cư… Phương pháp quản lý tài chính công mang tính tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác - nhau trong đó xuất phát điểm là phục vụ lợi ích nhà nước, lợi ích quốc gia, cộng đồng. Quản lý tài chính công được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan - về kinh tế – tài chính một cách phù hợp với điều kiện của quá trình đổi mới về kinh tế xã hội của đất nước. Mục tiêu của quản lý tài chính công là phục vụ việc thực hiện tốt các chức năng của - nhà nước. Từ sự nhận thức này cho thấy quản lý tài chính công là tất yếu cần thiết đối với mọi nhà nước ở tất cả các quốc gia. Sự cần thiết này còn được thể hiện ở các vấn đề sau đây:  Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ quản lý của nhà nước.  Tài chính công là tài sản của nhà nước hay nói một cách khác đó là tài sản của dân, của cộng đồng mà nhà nước là người đại diện chủ sơ hữu. Nguồn tài sản đó phải được khai thác và sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả. Đó là yêu cầu khách quan trong mọi chế độ xã hội đặc biệt làchế độ chính trị của nhà nước ta.  Hoạt động và quan hệ tài chính công được thực hiện ở mọi cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội.  Tài chính công dược hình thành và vận hành theo chuẩn mực pháp lý cụ thể nhất định của nhà nước.  Quan hệ tài chính công phản ánh quan hệ gữa nhà nước và các chủ thể có liên quan. 1.2.2/Đặc điểm của quản lý tài chính công Đặc điểm của quản lý tài chính công tạo nên các yếu tố tác động đến hệ thống phương thức và công cụ cũng như hiệu quả quản lý tài chính công. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì tài chính công có những đăc điểm chủ yếu sau:     Tài chính công được quản lý bằng pháp luật và theo kế hoạch. Quản lý tài chính công đặc biệt coi trọng biện pháp tổ chức – hành chính. Quản lý tài chính công là sự quản lý kết hợp yếu tố con người và yếu tố tài chính. Quản lý tài chính công phải bảo đảm sự thống nhất giữa mặt giá trị và hiện vật. 1.2.3/ Quan điểm, mục tiêu, phương hướng quản lý tài chính công. 3 a/ Quan điểm : Tài chính công là tài sản quốc gia, là tiềm lực vật chất có vai trò quyết định chi phối đến hiệu lực hiệu quả việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với xã hội. Do đó quản lý tài chính công phải quán triệt các quan điểm sau:     Quan điểm phục vụ chính trị. Quan điểm thúc đẩy phát triển kinh tế , ổn định xã hội. Quan điểm phát huy nội lực. Quan điểm tiết kiệm. b/ Mục tiêu của quản lý tài chính công.  Làm cho bộ máy hành chính nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của tổ chức và công dân.  Tạo động lực khuyến khích các cơ quan hành chính và sự nghiệp tích cực chủ động tự xác định số biên chế cần có…tổ chức và phân công lao động hợp lý, nâng cao chất lượng công việc, sử dụng kinh phí có hiệu quả cao, hạn chế những đòi hỏi về tăng biên chế và chi phí hành chính.  Nâng cao ý thức tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí và tăng cường đấu tranh chống các hiện tượng lãng phí tham ô.  Tạo điều kiện để công chức phát huy khả năng của minh, nâng cao chất lượng công tác và tăng thu nhập vật chất cho tập thể và cá nhân. c/ Phương hướng đổi mới quản lý tài chính công.  Tiếp tục đổi mới chính sách và cơ chế quản lý ngân sách nhà nước theo hướng ngân sách nhà nước phải bảo đảm đầy đủ nguồn lực tài chính cần thiết để duy trì hoạt đông bình thường của bộ máy hành chính.  Đổi mới và hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước theo nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, tập trung cho ngân sách trung ương một sức mạnh tài chính phù hợp, vưa bảo đảm tính độc lập, tự chủ và quyền hạn của chính quyền địa phương.  Chi ngân sách phải bảo đảm thực sự tiết kiệm , hiệu quả, trong đó phải ưu tiên chi cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, đầu tư có lựa chọn cho phát triển khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực …  Xây dựng cơ sở pháp lý chặt chẽ trong việc sử dụng các nguồn kinh phí từ ngân sách( định mức chi tiêu).  Xây dựng cơ chế chính sách về tự bảo đảm chi phí thường xuyên, tiền lương và phụ cấp lương đối với một số tổ chức công trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế , bảo hiểm xã hội… 4  Mở rộng quyền chủ động của các cơ quan, đơn vị trong việc sử dụng kinh phí ngân sách bằng việc chuyển quản lý đầu vào về biên chế và kinh phí đối với bộ máy hành chính nhà nước sang quản lý đầu ra để khuyến khích các đơn vị tiết kiệm và sử dụng hiệu quả kinh phí…  Chuyển đổi phương thức quản lý cấp phát và thanh toán kinh phí ngân sách nhà nước đối với các cơ quan hành chính nhà nước như lương , các khoản có tính chất lương, chi phí hành chính sự nghiệp, các khoản mua sắm sửa chữa thương xuyên, sửa chữa lớn… PHẦN 2 MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 1. Quản lý tài chính công ở một số nước phát triển a. Ngân sách nhà nước Mỹ 5 Hệ thống ngân sách nhà nước Mỹ được coi là mô hình điển hình của các nước công nghiệp phát triển. Tương ứng với mô hình tổ chức hệ thống nhà nước, NSNN được chia thành ba cấp: ngân sách liên bang, ngân sách chính quyền liên bang, ngân sách địa phương. Nguyên tắc phân cấp của Mỹ được viết dưới tên Fiscal Federalim dùng để chỉ hệ thống các khoản trợ cấp từ ngân sách trên cơ sở đó phân định các nguồn thu của liên bang, các ban và các cấp tự quản của địa phương, mỗi cấp chính quyền điều có quyền quyết định trong việc định sắc thuế và mức thuế. Nhà nước với vai trò chỉ can thiệp vĩ mô nền kinh tế và sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ để tạo môi trường thu hút khuyến kích đầu tư tư nhân cho việc phát triển và tăng trưởng nền kinh tế. Với chính sách chạy đua vũ trang, chi quốc phòng ngày càng tăng về quy mô và tỷ trọng, chi đầu tư chiếm tỷ trọng nhỏ chi đảm dảo xã hội và phúc loại chiếm tỷ trọng lớn. Bên cạnh chính sách tài khóa tùy biến, Mỹ cũng như các nước khác, thường sử dụng cơ chế ổn định tự động. Cơ chế chủ yếu là những thay đổi tự động trong doanh thu thuế và thanh toán chuyển nhượng. Các sắc thuế được thiết kế để tạo ra những thay đổi tự động ( giảm hoặc tăng ) doanh thu thuế, khi thu nhập bắt đầu thay đổi ( giảm hoặc tăng). Mặc dù quốc hội không tiến hành thay đổi thuế suất. Một trong những biện pháp tạo ra cơ chế này là sử dụng thuế lũy tiến. Trong thời kỳ bùng nổ kinh tế, thu nhập tăng lên và thuế lũy tiến đã làm cho gánh nặng thuế tương đối đã tăng lên, làm giảm kích thích sản xuất, và làm nguội dần nền kinh tế. Ngược lại trong thời kỳ suy thoái kinh tế thu nhập giảm, thuế suất tương đối cũng giảm theo làm giảm gánh nặng thuế, kích thích sản xuất. Một trong những cơ chế ổn định khác là chương trình thanh toán chuyển nhượng như bảo hiểm thất nghiệp, phúc lợi và những chương trình tương tự. Bảo hiểm thất nghiệp làm tăng giảm thu nhập theo phương thức ổn định hóa, chống lại chu kỳ. Trong thời kỳ suy thoái như những năm hiện nay, thất nghiệp tăng lên, nhiều người ăn lương thất nghiệp, và chi tiêu của chính phủ cũng tăng lên, và ngược lại trong thời kỳ hưng thịnh các khoản chi tiêu này sẽ tự động giảm đi do số người ăn lương thất nghiệp giảm đi. b. Tài chính công của thụy điển Mục tiêu của chính phủ Thụy Điển là đảm bảo cao nhất các nhu cầu phúc lợi xã hội cho nhân dân thông qua ngân sách nhà nước. Với chính sách huy động tối đa nguồn thu ngân sách, nhằm phân bổ một cơ cấu chi ngân sách nhà nước chủ yếu là phục vụ lại nhu cầu người dân. Mô hình ngân sách nhà nước của Thụy Điển là mô 6 hình ngân sách có định hướng xã hội nhất trong các nước có nền kinh tế xã hội phát triển. Tổng chi NSNN, 56% dành cho mục đích xã hội và được ưu tiên hàng đầu. Với chính sách huy động nguồn lực hợp lý, hàng năm chi tiêu đầu tư cho xây dựng rất thấp ( chi bảo chì đường xá 4,4%, chi cấp phát vốn cho các doanh nghiệp 3,5%). Thụy điển là một trong những nước có tỷ trọng chi quốc phòng thấp nhấp (chiếm 4,2%). 2. Chính sách quản lý tài chính công của một số nước đang phát triển Nhằm tạo điều kiện cho tăng trưởng và phát triển kinh tế ở mức độ cao nhằm nhanh chóng đuổi kịp các nước phát triển, hầu hết các nước phát triển điều chú trọng đến việc chi cho hoạt động đầu tư phát triển và giảm thiểu các khoản chi thường xuyên. a. Ngân sách nhà nước của Thái Lan Kể từ năm 1980 chi NSNN Thái Lan đã mở rộng phục vụ cho chính sách điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế với mục tiêu nâng lương cho công chức chính phủ, tài trợ vốn cho phát triển nông thôn, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tằng, và đô thị hóa nông thôn. Để thực hiện được mục tiêu đó, chính phủ Thái Lan chấp nhận với mức thâm hụt NSNN với tỷ lệ cao vào năm 1975 – 1980 tỷ lệ thâm hụt thường xuyên dưới 6% tỷ lệ GDP, đến năm 1981 thâm hụt tăng lên 7,54%, sau giai đoạn này tăng trưởng kinh tế của Thái Lan đạt tốc độ cao và chính phủ Thái Lan thực hiện chính sách tài khóa “ thắt chặt chi tiêu “ chi ngân sách nhà nước chiếm 22,15%, điến năm 1990 tỷ lệ này chỉ còn 14,7%. Năm 2011 do ảnh hưởng của lũ lụt chính phủ Thái Lan năng mức thâm hụt ngân sách lên 350 tỷ baht. Chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng chi NSNN và có xu hướng ngày càng tăng. Tỷ lệ chi đầu tư ngày càng giảm và chiếm tỷ trọng rất nhỏ cho việc thực hiện chính sách huy động vốn của tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài. b. Ngân sách nhà nước của Trung Quốc. Theo nhiều cách khác nhau, Trung Quốc có vẻ như là một mô hình để Việt Nam học tập. Tương tự như Việt Nam, Trung Quốc là một nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, chỉ khác là Trung Quốc chuyển đổi sớm hơn Việt 7 Nam gần một thập kỷ. Trên phương diện các vấn đề chuyển đổi như sự trở lại với sản xuất nông nghiệp hộ gia đình, những vấn đề liên quan tới cải cách DNNN, và những khó khăn trong quá trình xây dựng nền tài chính hiện đại và lành mạnh, có nhiều điều Việt Nam có thể học từ kinh nghiệm của Trung Quốc. Trung Quốc cũng đã rất thành công trong việc xây dựng một nhóm trường đại học và viện nghiên cứu tinh hoa. Ngày nay, những trường đại học tốt nhất của Trung Quốc đang thực hiện nhiều nghiên cứu có tính tiên phong và ngày càng xây dựng được những mối liên kết hiệu quả với khu vực công nghiệp. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vục khác, Trung Quốc tỏ ra rất đặc biệt và do vậy, kinh nghiệm của Trung Quốc trong những lĩnh vực này tỏ ra không thích hợp với Việt Nam. Phần này sẽ chứng minh rằng bản thân chính phủ Trung Quốc cũng đã đi đến kết luận rằng chiến lược phát triển của Trung Quốc đã thất bại trong một số khía cạnh quan trọng, và do vậy cần được điều chỉnh một cách cơ bản. Trên thực tế, nếu so sánh Trung Quốc với các nước Đông Á khác như Nhật Bản Hàn Quốc và Đài Loan thì ngay lập tức chúng ta sẽ thấy những khác biệt rõ ràng về kinh tế, chính trị, và xã hội. Nhưng khi so sánh Trung Quốc với các nước Đông Nam Á thì lại thấy có nhiều điểm tương đồng, chẳng hạn như sự can thiệp sâu của chính phủ vào nền kinh tế, tham nhũng, thiếu đầu tư của nhà nước cho giáo dục và sự gia tăng bất bình đẳng. Kinh nghiệm cải cách ở Trung Quốc cho thấy quốc gia này chỉ thành công ở trong các lĩnh vực mà tại đó họ cương quyết loại bỏ những di sản tiêu cực của hệ thống kế hoạch hóa tập trung, đồng thời không lặp lại những sai lầm của các nước Đông Nam Á. Chẳng hạn như, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh của Trung Quốc có suất sinh lợi của đầu tư cao nhất và tạo ra gần như toàn bộ việc làm mới cho nền kinh tế; việc chấm dứt cơ chế hai giá đã loại trừ được một kênh tham những phổ biến, và tiến trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu đã giúp tăng cường tính kỷ luật cho các DNNN. Tại Đại hội Đảng khóa XVII, các nhà lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc nhận định rằng mô hình tăng trưởng thành công trong quá khứ không còn thích hợp cho giai đoạn phát triển sắp tới của đất nước và vì vậy cần có những điều chỉnh quan trọng. Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào đưa ra khái niệm “phát triển khoa học” nhằm nhấn mạnh yếu tố bền vững của tăng trưởng như là một sự kết hợp của việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm ô nhiễm môi trường, và tăng cường công bằng xã hội. Tình trạng gia tăng bất bình đẳng, đặc biệt giữa khu vực nông thôn và thành thị là một sản phẩm phái sinh của quá trình cải cách. Để 8 đạt mục tiêu tăng trưởng, Trung Quốc cần phải tạo ra cầu để từ đó thúc đẩy sản xuất. Trong thập kỷ vừa qua, hai động cơ tăng trưởng của Trung Quốc là đầu tư của nhà nước và suất siêu, bên cạnh đó là tiêu dùng. Nếu chúng ta nhìn vào tương lai thì thấy mặc dù đầu tư, đặc biệt là đầu tư CSHT và công nghiệp vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng, nhưng với tỉ lệ đầu tư đã quá cao như hiện nay, Trung Quốc sẽ khó có thể tăng thêm đầu tư công một cách đáng kể. Với quy mô hiện tại thì xuất khẩu của Trung Quốc vẫn có thể tiếp tục mở rộng, tuy nhiên tốc độ này rồi cũng sẽ phải giảm dần. Tỉ lệ giữa kim ngạch ngoại thương và GDP hiện nay của Trung Quốc đã lên tới gần 70%, một tỉ lệ rất cao đối với một nền kinh tế lớn như Trung Quốc. Đồng thời, vì nhập khẩu cũng sẽ phải tăng lên để đáp ứng nhu cầu của sản xuất nên thặng dư thương mại của Trung Quốc cũng sẽ giảm dần. Kết quả là tiêu dùng trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế. Đến lượt mình, sự mở rộng tiêu dùng lại bị giới hạn bởi tỉ lệ tiết kiệm rất cao của người dân vì họ muốn phòng trường hợp gia đình có người ốm, con cái đi học, hay phải chi các khoản đột xuất khác. Tỉ lệ tiết kiệm của Trung Quốc tăng từ 26% năm 1995 lên 43% năm 2004 và vẫn còn có thể tiếp tục tăng, trong khi tỉ lệ tiết kiệm ở các nước OECD chỉ vào khoảng 10% (với Mỹ là một ngoại lệ với tỉ lệ tiết kiệm chưa tới 1%). Sing-ga-po cũng có tỉ lệ tiết kiệm xấp xỉ với Trung Quốc, nhưng khác biệt lớn giữa hai quốc gia này là tiết kiệm của Sing-ga-po bao gồm cả những khoản đóng góp bắt buộc vào chương trình an ninh xã hội. Bên cạnh thực tế là các nguồn tăng trưởng chính của Trung Quốc bao gồm đầu tư công, xuất siêu, và tiêu dùng ít có khả năng mở rộng thêm thì tăng trưởng của Trung Quốc còn bị giới hạn bởi một số yếu tố khác như dân số đang già đi, tài nguyên nước và năng lượng ngày càng trở nên khan hiếm và đắt đỏ, và ô nhiễm. Tình hình ô nhiễm ở Trung Quốc đang xấu đi một cách trầm trọng, đặc biệt là ô nhiễm nước và không khí. Hai phần ba số thành phố của Trung Quốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng không khí và 10% số vụ tử vong của người lớn ở Thượng Hải có nguyên nhân từ ô nhiễm không khí. Để khắc phục khó khăn về năng lượng, chính phủ Trung Quốc đã đặt ra mục tiêu giảm lượng tiêu thụ điện 20% cho mỗi một đơn vị tăng trưởng - một mục tiêu có lẽ là quá xa vời. Cải cách ở Trung Quốc bắt đầu với những thay đổi lớn lao về thể chế, trong đó phải kể đến sự xóa bỏ cơ chế nông trại hợp tác xã để chuyển sang cơ chế “khoán hộ gia đình”, một trong những thể chế bị nhiều nhà lãnh đạo đảng và nhà nước Trung Quốc lúc đó phản đối 9 kịch liệt. Thay đổi này dẫn tới hai hệ quả: thứ nhất, nó làm tăng nhu cầu về vật tư nông nghiệp cho các hộ sản xuất nhỏ, và thứ hai, một lượng lớn lao động được giải phóng để chuyển sang các khu vực có năng suất cao hơn. Các doanh nghiệp công nghiệp của nhà nước đã không thích nghi kịp với những thay đổi này, trong khi các xí nghiệp hương trấn (TVEs) - một di sản còn lại của thời kỳ công xã - đã phản ứng kịp thời. Vào thời điểm hoàng kim của mình, các TVES thu hút tới 120 triệu lao động và tạo ra những khuyến khích kinh tế to lớn. Với sự thay đổi của giá cả theo hướng có lợi cho các sản phẩm nông nghiệp, mức sống của người dân được cải thiện, làm tiền đề cho sự tăng trưởng nhu cầu đối với hàng công nghiệp nhẹ và khoảng cách thành thị - nông thôn được thu hẹp một cách nhanh chóng. Thế nhưng từ năm 1985 trở đi, Trung Quốc chủ trương nới rộng giá cánh kéo giữa hàng công nghiệp và nông nghiệp theo hướng có lợi cho hàng công nghiệp và do vậy, làm giảm thu nhập và suất sinh lợi của đầu tư trong nông nghiệp. Đồng thời, tăng trưởng của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có quy mô lớn bắt đầu cất cánh ở vùng duyên hải miền Đông. Những doanh nghiệp này thâm dụng vốn nhiều hơn và có liên kết với thị trường nước ngoài chặt chẽ hơn so với các TVEs nay đã không còn khả năng điều hòa các cú sốc do dư thừa lao động trong nông nghiệp nữa. Ngay cả ở những nơi TVEs đã từng thành công nhất thì nhiều TVES cũng bắt đầu phải giải thể hoặc chuyển thành các doanh nghiệp dân doanh thực thụ. Khả năng các chính quyền địa phương sử dụng TVEs nhằm thực hiện các nghĩa vụ xã hội đã suy giảm, và kết quả là bất bình đẳng gia tăng. Những quy định hành chính nhằm hạn chế nhập cư (chế độ hộ khẩu) đã phân chia dân cư đô thị thành hai tầng lớp riêng biệt, trong đó những người có hộ khẩu được quyền tiếp cận với dịch vụ công và được hưởng chế độ an sinh xã hội, còn những người mới đến, không có hộ khẩu, bị từ chối những quyền rất cơ bản này. Nói tóm lại, trong ba thập kỷ qua, nền kinh tế của Trung Quốc đã tăng trưởng vượt bậc, nhưng về mặt xã hội và môi trường, cũng đã thấy xuất hiện nhiều nguy cơ không bền vững và bất ổn tiềm tàng. Nhiều thay đổi quan trọng trong chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ và phúc lợi xã hội theo hướng giảm dần vai trò của nhà nước, tăng dần vai trò của khu vực dân sự và tư nhân. Những cải cách thể chế và cơ chế “ngân sách cứng” áp dụng cho các DNNN của Trung Quốc đã dần làm tan rã khu vực kinh tế nhà nước và tập thể - những khu vực từng chịu trách nhiệm chính về phúc lợi cho người lao động ở thành thị và nông thôn. Những thay đổi to lớn này, cùng với những vấn đề cố hữu như tham nhũng tràn lan, môi trường suy thoái, dịch vụ y tế và giáo dục chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế thì 10 những thách thức mới về thành thị - nông thôn, trung ương - địa phương, và bất công bằng là những vấn đề mà Trung Quốc buộc phải giải quyết. Suy đến cùng, đây không chỉ là những thách thức kinh tế, mà quan trọng hơn, là những thách thức về mặt xã hội và chính trị. Mặc dù chính phủ Trung Quốc đã cho thấy những dấu hiệu điều chỉnh chiến lược phát triển từ “tăng trưởng bằng mọi giá” sang cam kết thực hiện công bằng xã hội, thế nhưng cho đến nay nỗ lực của chính phủ Trung Quốc dường như vẫn chưa đem lại những đổi thay thực sự. Vấn đề mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang gặp phải là nếu họ càng chậm trễ trong việc giải quyết các thách thức này thì giải pháp để giải quyết chúng tận gốc càng vượt ra khỏi tầm kiểm soát của họ. PHẦN 3 : BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM Qua việc nghiên cứu tài chính công ở một số nước công nghiệp phát triển, các nước đang phát triển có thể rút một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau: a. Về các chính sách thuế - Việc thực hiện chính sách thuế phải đảm bảo công bằng và có sự ổn định nhất định cả về thời gian và thuế suất, các mức thuế suất quan trọng như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế GTGT ở hầu hết các nước đang phát triển thường được giữ ngay trong thời hạn ít nhất là 10 năm hoặc 20 năm mới được xem xét điều chỉnh. Sự công bằng về nghĩa vụ thuế không có nghĩa là áp dụng chung một mức thuế cho các đối tượng chịu thuế, mà có xét đến quy mô kinh doanh và tình trạng hay mức thu nhập. Cộng Hòa Liên Bang Đức, các nước Tây Âu và Hàn Quốc đã thực hiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp phân biệt theo mức lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp có lợi nhuận dưới giới giới hạn quy định thì có mức thuế thấp hơn các doanh nghiệp có thu nhập cao hơn. Và thông thường không có sự phân biệt thuế TNDN và thuế GTGT theo ngành sản phẩm hay nói cách khác đánh thuế thu nhập và thuế GTGT không căn cứ vào việc doanh nghiệp làm ra cái gì mà căn cứ vào doanh thu, lợi nhuận đã làm ra, đây là một chính sách rất quan trọng để đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng và sẽ có tác động tích cực đến việc phân bổ nguồn lực xã hội theo nguyên tắc hiệu quả thông qua tiêu thức cạnh tranh. 11 - Phải sử dụng chính sách thuế như công cụ quan trọng để bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo hộ sản xuất trong nước gắn với hội nhập quốc tế. Xu thế toàn cầu hóa và gỡ bỏ các hàng rào thuế quan là xu thế chung tất yếu trong giai đoạn phát triển hiện nay. Sự phát triển kinh tế của từng quốc gia không thể tách rời hợp tác với các nước khác. Tuy nhiên xu thế đó không phải tiến hành nhất loạt ở tất cả các nước, đối với tất cả sản phẩm hàng hóa mà có chương trình, bước đi cho các khối nước, thậm chí cho cả từng nước khác nhau,. - Có sự chênh lệch đáng kể giữa thu nhập các nước phát trển và đang pháp triển, các nước phát triển thường có nguồn thu chủ yếu từ thuế TNCN và thu nhập doanh nghiệp tư nhân, tỷ trọng thu từ thuế xuất, nhập khẩu nhỏ. Ngược lại các nước đang phát triển, nguồn thu chủ yếu dựa vào thuế xuất, nhập khẩu và thu từ các doanh nghiệp nhà nước. b. Về chính sách chi tiêu của chính phủ - Ngân sách nhà nước chỉ chi tiêu thực hiện các chức năng nhiệm vụ của chính phủ đã được pháp luật quy định. Việc tài trợ cho các hoạt động dịch vụ có tính xã hội được thực hiện theo nguyên tắc hỗ trợ có mục tiêu căn cứ vào hiệu quả, chât lượng dịch vụ. - Việc thực hiện chi tiêu chính phủ thể hiện các hành vi mua sắm, xây dựng cơ bản, cung ứng dịch vụ được thực hiện theo thể chế thống nhất theo cơ chế đấu thầu để lựa chọn nhà thầu có chi phí thấp nhất, chất lượng cao nhất. c. Vấn đề quản lý thâm hụt ngân sách Trong khu vục các nước đang phát triển, thì hầu hết các ngân sách đều ở trong tình trạng bội chi. Nhưng về mức độ bội chi trừ một số ít nước có tỷ lệ bội chi cao như cộng hòa Séc 13%, Ấn độ 10%, còn lại đều ở mức khoảng 1%- 4%. Nguyên nhân dẫn đến bội chi cao ở các nước đang phát triển trên đây đều do nền kinh tế bị suy giảm do những bất ổn về an ninh, chính trị. Còn ở các nước có tỷ lệ bội chi thấp thập chí thấp hơn cả các nước công nghiệp phát triển , điều đó chưa hẳn đã phản ánh một nền kinh tế lành mạnh, mà trong nhiều trường hợp thể hiện sự cân bằng tương đối trong tình trạng trì trệ và kém phát triển. Từ lý luận và kinh nghiệm các nước đã 12 chỉ ra rằng bản thân sự thâm hụt tự nó chưa thể lý giải được hạn chế và tích cực trong cân đối ngân sách. Khuyến cáo của các nước không phải bản thân mức độ thâm hụt là tuyệt đối, mà quan trọng là nguồn bù đắp tham hụt, thức nguồn vốn ngân sách đi vay được sử dụng như thế nào? Mục đích là gì? Việc quản lý cũng như hiệu quả mang lại ra sao. KẾT LUẬN Như vậy qua phân tích ở trên cho thấy vấn đề tài chính công gắn liền với hoạt động của nhà nước. Nó vừa là nguồn lực để nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình , vừa là công cụ để thực hiện các dịch vụ công, chi phối , điều chỉnh các mặt hoạt động khác của đất nước. Trong tiến trình đổi mới, thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia, Đảng và nhà nước ta coi đổi mới quản lý tài chính công là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu. Nhận thức một cách đầy đủ, có hệ thống về tài chính công là đòi hỏi bức thiết trong công tác nghiên cứu, học tập cũng như hoạt động thực tiễn cho cán bộ ở mọi ngành, mọi cấp, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh cải cách hành chính hiện nay ở nước ta. Học hỏi kinh nghiệm của các nước từ đó để cải cách tài chính công đạt hiệu quả cao góp phần xây dụng đất nước phát triển ổn định và bền vững. 13 14
- Xem thêm -