Mô hình pest trong nghiên cứu môi trường vĩ mô

  • Số trang: 27 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

1)Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp Mô hình PEST trong nghiên cứu môi trường vĩ mô Trong khi mô hình 5 áp lực của M-Porter đi sâu vào việc phân tích các yếu tố trong môi trường ngành kinh doanh thì PEST lại nghiên cứu các tác động của các yếu tố trong môi trường vĩ mô. Các yếu tố đó là o Political (Thể chế- Luật pháp) o Economics (Kinh tế) o Sociocultrural (Văn hóa- Xã Hội) o Technological (Công nghệ) Đây là bốn yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế, các yếu tố này là các yếu tố bên ngoài của của doanh nghiệp và ngành, và ngành phải chịu các tác động của nó đem lại như một yếu tố khách quan. Các doanh nghiệp dựa trên các tác động sẽ đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp. 1. Các yếu tố Thể chế- Luật pháp. Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ, các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào. Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó. + Sự bình ổn: Chúng ta sẽ xem xét sự bình ổn trong các yếu tố xung đột chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp. Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế 1 không ổn định, xảy ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó. + Chính sách thuế: Chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ, thuế thu nhập... sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp. + Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp,luật lao động, luật chống độc quyền, chống bán phá giá ... + Chính sách: Các chính sách của nhà nước sẽ có ảnh hưởng tới doanh nghiệp, nó có thể tạo ra lợi nhuận hoặc thách thức với doanh nghiệp. Như các chính sách thương mại, chính sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chính sách điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng... 2. Các yếu tố Kinh tế Các doanh nghiệp cần chú ý đến các yếu tố kinh tế cả trong ngắn hạn, dài hạn và sự can thiệp của chính phủ tới nền kinh tế. Thông thường các doanh nghiệp sẽ dựa trên yếu tố kinh tế để quyết định đầu tư vào các ngành, các khu vực. + Tình trạng của nền kinh tế: Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, trong mỗi giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình. + Các yếu tố tác động đến nền kinh tế: Lãi suất, lạm phát, + Các chính sách kinh tế của chính phủ: Luật tiền lương cơ bản, các chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành: Giảm thuế, trợ cấp.... +Triển vọng kinh tế trong tương lai:Tốc độ tăng trưởng, mức gia tăng GDP, tỉ suất GDP trên vốn đầu tư... Trong giai đoạn những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước, khi nền kinh tế 2 Anh đang ở trong tình trạng khủng hoảng và các doanh nghiệp lại tạo ra một cuộc chiến về giá cả, họ cắt giảm chi phí từ lao động, tăng gấp đôi chi phí quảng cáo kích thích tiêu dùng. Tuy nhiên họ đã mắc phải sai lầm vì đã tác động xấu đến tâm lý người tiêu dùng, trong khi nguồn thu nhập bị giảm sút, không ai sẽ đầu tư vào các hàng hóa thứ cấp xa xỉ như thiết bị an ninh. 3. Các yếu tố văn hóa xã hội Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó. Những giá trị văn hóa là những giá trị làm lên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển. Chính vì thế các yếu tố văn hóa thông thường được bảo vệ hết sức quy mô và chặt chẽ, đặc biệt là các văn hóa tinh thần. Rõ ràng chúng ta không thể humbeger tại các nước Hồi Giáo được. Tuy vậy chúng ta cũng không thể phủ nhận những giao thoa văn hóa của các nền văn hóa khác vào các quốc gia. Sự giao thoa này sẽ thay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống, và tạo ra triển vọng phát triển với các ngành. Ngay tại Việt Nam chúng ta có thể nhận ra ngay sự giao thoa của các nền văn hóa đặc biệt thời gian gần đây là văn hóa Hàn Quốc. Ra đường thấy một nửa thế giới thay phiên nhau đi ép tóc, giày hàn quốc, son môi Hàn Quốc, xe máy hàn Quốc, ca nhạc Hàn Quốc tất cả đều xuất phát từ những bộ phim Hàn Quốc. Bên cạnh văn hóa , các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quan tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập ... khác nhau: + Tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, ăn uống 3 + Thu nhập trung bình, phân phối thu nhập + Lối sống, học thức,các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống + Điều kiện sống Ở Đức trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều người có thu nhập cao, điều kiện sống tốt, có khả năng trình độ và làm tại những vị trí ổn định của xã hội nhưng họ thích sống độc thân, không muốn phải có trách nhiệm về gia đình, công việc sinh con đẻ cái... Những yếu tố này đã khiến các doanh nghiệp của Đức nảy sinh các dịch vụ, các câu lạc bộ, các hàng hóa cho người độc thân. 4. Yếu tố công nghệ. Cả thế giới vẫn đang trong cuộc cách mạng của công nghệ, hàng loạt các công nghệ mới được ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ. Nếu cách đây 30 năm máy vi tính chỉ là một công cụ dùng để tính toán thì ngày nay nó đã có đủ chức năng thay thế một con người làm việc hoàn toàn độc lập. Trước đây chúng ta sử dụng các máy ảnh chụp bằng phim thì hiện nay không còn hãng nào sản xuất phim cho máy ảnh. Đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ truyền thông hiện đại đã giúp các khoảng cách về địa lý,phương tiện truyền tải. + Đầu tư của chính phủ, doanh nghiệp vào công tác R&D: Trong thập niên 60-70 của thế kỷ trước. Nhật Bản đã khiến các nước trên thế giới phải thán phục với bước nhảy vọt về kinh tế trong đó chủ yếu là nhân tố con người và công nghệ mới. Hiện nay Nhật vẫn là một nước có đầu tư vào nghiên cứu trên GDP lớn nhất thế giới. Việc kết hợp giữa các doanh nghiệp và chính phủ nhằm nghiên cứu đưa ra các công nghệ mới, vật liệu mới... sẽ có tác dụng tích cực đến nền kinh tế. + Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu: nếu trước đây các hãng sản xuất phải mất rất nhiều thời gian để tăng tốc độ bộ vi xử lý lên gấp đôi thì hiện nay tốc độ này chỉ mất khoảng 2-4 năm. Xuất phát từ các máy tính Pen II, Pen III, chưa đầy 10 năm hiện nay tốc độ bộ vi xử lý đã tăng với chip set thông dụng hiện nay là Core Dual tốc độ 2.8 GB/s. Một bộ máy tính 4 mới tinh chỉ sau nửa năm đã trở nên lạc hậu với công nghệ và các phần mềm ứng dụng. + Ảnh hưởng của công nghệ thông tin, internet đến hoạt động kinh doanh. Ngoài các yếu tố cơ bản trên, hiện nay khi nghiên cứu thị trường, các doanh nghiệp phải đưa yếu tố toàn cầu hóa trở thành một yếu tố vĩ mô tác động đến ngành. 5. Yếu tố hội nhập Không ai phủ nhận toàn cầu hóa đang là xu thế, và xu thế này không tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, các quốc gia trong việc phát triển sản xuất, kinh doanh. + Toàn cầu hóa tạo ra các sức ép cạnh tranh, các đối thủ đến từ mọi khu vực. Quá trình hội nhập sẽ khiến các doanh nghiệp phải điều chỉnh phù hợp với các lợi thế so sánh.,phân công lao động của khu vực và của thế giới + Điều quan trọng là khi hội nhập, các rào cản về thương mại sẽ dần dần được gỡ bỏ, các doanh nghiệp có cơ hội buôn bán với các đối tác ở cách xa khu vực địa lý, khách hàng của các doanh nghiệp lúc này không chỉ là thị trường nội địa nơi doanh nghiệp đang kinh doanh mà còn các khách hàng đến từ khắp nơi. Mô hình P.E.S.T hiện nay đã được mở rộng thành các ma trận P.E.S.L.T ( ( Bao gồm yếu tố Legal Socical/Demographic-Nhân - pháp khẩu luật ) học, và S.T.E.E.P.L.E Techonogical, Economics,Envirnomental,Policy, Legal, Ethical- Đạo đức ) và càng ngày càng hoàn thiện trở thành một chuẩn mực không thể thiếu khi nghiên cứu môi trường bên ngoài của doanh nghiệp. 5 2) Thị trường của doanh nghiệp VN khẳng định vị trí trên bản đồ viễn thông thế giới Trái với sự suy giảm của nhiều ngành kinh tế, viễn thông di động vẫn có bước tăng trưởng phi mã, đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đưa Việt Nam trở thành một điểm sáng trên bản đồ viễn thông thế giới. Tăng trưởng ngoạn mục Tiếp tục đà tăng trưởng của năm 2007, năm 2008 vừa qua, các doanh nghiệp viễn thông di động tăng trưởng một cách toàn diện cả về số lượng thuê bao, chất lượng dịch vụ lẫn doanh thu và lợi nhuận. Số lượng thuê bao di động trên cả nước vào cuối năm 2008 tăng gấp 2 lần so với thời điểm 1 năm trước đó. Viettel vẫn là mạng đứng đầu với gần 30 triệu thuê bao chiếm hơn 40% thị phần. Đi kèm với đó là doanh thu và lợi nhuận của hầu hết các doanh nghiệp viễn thông di động đều tăng. Doanh thu của Viettel trong năm 2008 đạt khoảng 2 tỷ USD, đây là năm thứ 3 liên tiếp doanh nghiệp này có doanh thu cao gấp đôi năm trước – một kết quả khiến nhiều công ty phải mơ ước trong thời buổi kinh tế khó khăn. Đáng kể nhất là những thay đổi tích cực do các doanh nghiệp viễn thông di động mang đến cho xã hội. Mục đích “phổ cập hóa dịch vụ di động” do Viettel khởi xướng và tiên phong đã được nhiều nhà mạng hưởng ứng. Bảy doanh nghiệp khai thác dịch vụ này ở Việt Nam đều phải tham gia vào cuộc cạnh tranh lành mạnh theo hướng có lợi cho người tiêu dùng. Đi ngược lại cơn bão giá của hầu hết các mặt hàng thiết yếu, năm 2008, giá 6 cước viễn thông liên tục giảm và gần tiệm cận giá sàn, người có thu nhập trung bình và thấp đều có cơ hội sử dụng phương tiện liên lạc rất hữu ích này. Phát huy những ưu điểm của gói cước Tomato mà Viettel cung cấp ra thị trường vào quý I năm 2007, các mạng di động đều hướng đến phân khúc thị trường tiềm năng là tầng lớp bình dân ở thành thị và nông thôn. Khẳng định trên thị trường quốc tế Sự kiện Viettel chính thức đầu tư sang thị trường Campuchia có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp này mà còn trong lịch sử ngành viễn thông Việt Nam. Lần đầu tiên, một doanh nghiệp viễn thông di động “thuần Việt” xây dựng cơ sở hạ tầng để cung cấp dịch vụ ra nước ngoài. Với kinh nghiệm và những thành tựu đã đạt được ở trong nước, Viettel mạnh dạn “tấn công” vào một thị trường mới mẻ nhưng đầy tiềm năng – các nước đang phát triển ở trong khu vực. Vẫn kiên trì theo chiến lược kinh doanh “mạng lưới đi trước kinh doanh theo sau”, Viettel cho đầu tư mạng lưới rộng khắp, có chất lượng tốt để tạo được lợi thế cạnh tranh. Chỉ sau chưa đầy hai năm, Viettel đã tạo dựng được vị thế của mình trên một thị trường mới với hơn 1000 trạm BTS được xây dựng (chiếm 40% tống số trạm hiện có của 9 nhà mạng tại Campuchia). Với những thành tựu đã đạt được, Viettel tin tưởng vào mục tiêu là nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn thứ hai tại Campuchia trong năm 2009 này. Hướng phát triển mới của doanh nghiệp viễn thông hàng đầu Việt Nam còn khẳng định: người Việt Nam muốn chiếm lĩnh thị trường quốc tế không chỉ bằng những sản phẩm “thuần nông” mà bằng những sản phẩm công nghệ cao. Bước đệm vững chắc cho kỷ nguyên 3G 7 Trong khi chờ Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép triển khai dịch vụ băng thông rộng không dây thế hệ thứ 3 (3G), các doanh nghiệp viễn thông di động, đặc biệt là ba mạng GSM đã có những bước chuẩn bị vững chắc để sẵn sàng bước vào kỷ nguyên công nghệ mới. Hàng loạt dịch vụ GTGT được tung ra thị trường với nội dung phong phú và có chất lượng cao được coi là một bước thử nghiệm quan trọng trước khi nền tảng công nghệ 3G chính thức được khai thác. Năm 2009 được đánh giá là năm bản lề cho các doanh nghiệp viễn thông di động bước vào cuộc cạnh tranh mới, cạnh tranh về dịch vụ nội dung. Những thành tựu mà ngành thông tin di động đạt được đã đưa Việt Nam trở thành “miền đất hứa” trên bản đồ viễn thông thế giới. Theo dự đoán của nhiều chuyên gia kinh tế, năm 2009, ngành thông tin di động ở nước ta vẫn hứa hẹn sự phát triển khả quan ngay cả trong bối cảnh nền kinh tế chung sẽ còn khó khăn hơn nữa. Viettel "qua mặt" FPT trên thị trường ADSL ICTnews - Sau thời gian dài giữ vị trí số 2 trên thị trường ADSL, giờ đây FPT Telecom đã chính thức bị Viettel đẩy tụt xuống vị trí thứ 3. Cuộc soán ngôi được báo trước Theo tuyên bố từ đại diện truyền thông của FPT Telecom, tính đến thời điểm này, FPT Telecom đang có khoảng 330.000 thuê bao ADSL. Trước đó, FPT Telecom đã đưa ra mục tiêu đến hết năm 2008 sẽ đạt được khoảng 450.000 thuê bao ADSL. Trong khi đó, Viettel khẳng định họ đang có khoảng 360.000 thuê bao ADSL. Đại diện của Viettel khẳng định họ đã chính thức "qua mặt" 8 FPT Telecom về số thuê bao đã được vài tháng nay. Đây không phải là thông tin quá bất ngờ bởi việc soán ngôi này đã được dự báo từ hồi đầu năm 2008. Tuy đã đứng ở vị trí thứ hai sau VNPT trên thị trường cung cấp dịch vụ ADSL, thế nhưng ngoài những thành phố lớn Viettel chỉ cung cấp dịch vụ ADSL ở các trung tâm tỉnh và các huyện. Sức phủ về dịch vụ này của Viettel vẫn chưa thể mạnh bằng VNPT. Mới đây, Viettel đã cam kết miễn phí đưa Internet băng rộng đến tất cả các trường học. Giới phân tích cho rằng, chương trình này sẽ thúc đẩy thuê bao ADSL của Viettel tăng mạnh trong thời gian tới để tiếp tục bứt phá xa khoảng cách với đối thủ đứng vị trí thứ 3 là FPT Telecom. Với cục diện thị trường cung cấp dịch vụ ADSL hiện nay, chỉ Viettel mới có khả năng cạnh tranh với VNPT trên toàn quốc. Tuy nhiên, trên thực tế, VNPT vẫn đang gia tăng khoảng cách với các đối thủ khác. VNPT hiện là doanh nghiệp đứng đầu thị trường về cung cấp dịch vụ Internet tốc độ cao, với hơn 1, 1 triệu thuê bao ADSL. Từ nay đến cuối năm 2008, VNPT phấn đấu đạt 1,5 - 1, 6 triệu thuê bao ADSL. Tuy rất vững chắc ở ngôi vị số 1 trên thị trường ADSL, nhưng trước đó, ông Vũ Hoàng Liên, Giám đốc VDC phải thừa nhận: "Chúng tôi nhìn thấy sức mạnh tiềm tàng của Viettel". 2.1.doi’ thu canh tranh a)Cạnh tranh di động: Mạng 098 bứt phá Cập nhật lúc 06:46 - Thứ hai, 13/12/2004 Ngay khi S-Fone công bố đạt 150.000 thuê bao vào cuối tháng 11/2004, Viettel Mobile (mạng 098) ngay lập tức công bố việc đã đạt 100.000 thuê bao vào 25/11/2004 tức là chỉ sau hơn 1 tháng kể từ ngày chính thức khai trương. Lãnh đạo của Viettel Mobile còn công bố sẽ đạt 150.000 thuê bao vào cuối 22/12/2004. 9 S-Fone sẽ rớt Trước khi mạng 098 đạt 100 000 thuê bao, nhiều chuyên gia về viễn thông chưa tin tưởng vào khả năng mạng di động mới này có thể trở thành một đối thủ cạnh tranh thực sự của VinaPhone và MobiFone. Trước Viettel Mobile, SFone phải mất hơn 1 năm mới hoàn thành được mục tiêu 100.000 thuê bao và phải nhờ sự trợ giúp lớn của chương trình tặng điện thoại miễn phí cho khách hàng (điện thoại trao tay). Tuy nhiên, S-Fone không thể trở thành một đối thủ cạnh tranh trực tiếp của VinaPhone và MobiFone được. Một chuyên gia của VinaPhone nhận xét: "Sử dụng điện thoại di động thời trang là một mục tiêu quan trọng mà S-Fone không thể đáp ứng được nhu cầu đó vì mẫu mã của điện thoại CDMA ít. Bên cạnh đó, vùng phủ sóng của S-Fone cũng bị giới hạn nhiều nên khách hàng sẽ không thể ưa chuộng bằng 2 mạng VinaPhone và MobiFone đã phủ sóng toàn quốc.". Theo đánh giá của các chuyên gia về viễn thông, số lượng thuê bao của Viettel Mobile sẽ nhanh chóng vượt mạng S-Fone trong 3 tháng tới bởi ưu thế về tính cước (block 6 giây), vùng phủ sóng và các chương trình khuyến mãi lớn vào cuối năm. Những "ông lớn" lo lắng? Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Phó Giám đốc của MobiFone nhận xét về khả năng cạnh Viettel Mobile: "Họ chưa ảnh hưởng gì đến việc phát triển thuê bao mới của chúng tôi. Bây giờ mới chỉ có khoảng hơn 100.000 thuê bao thì họ chưa gặp nhiều vấn đề nhưng khi lượng thuê bao phát triển nhiều hơn thì sẽ có nhiều vấn đề phát sinh như thu cước, thiết lập hệ thống đại lý, khiếu nại khách hàng về chất lượng dịch vụ, những vùng lõm (chưa phủ sóng), tỷ lệ khách hàng quay trở lại sau khi hết khuyến mãi . . .". Lãnh đạo của VinaPhone cũng có những phát biểu tưong tự. Tuy nhiên, VinaPhone cũng đang cân nhắc về những vấn đề chiến lược về cạnh tranh sẽ phải đương đầu khi mạng Viettel phát triển mạnh các dịch vụ mới trong năm tới. Một trong 10 những vấn đề làm VinaPhone và MobiFone cũng như Viettel Mobile đau đầu là một bộ phận nhỏ khách hàng "nhảy qua, nhảy lại" giữa các mạng này khi các công ty thực hiện chương trình khuyến mãi lớn nhưng hết khuyến mãi thì không dùng nữa. Trong số các khách hàng này, có một số khách hàng đăng ký số mới của Viettel Mobile dùng tháng đầu với số cước lên tới hàng triệu đồng sau đó bỏ và không trả tiền cước. Tại VinaPhone và MobiFone cũng xảy ra những trường hợp như vậy nhưng ít hơn. Bứt phá từ năm 2005? Để thực hiện được mục tiêu 150.000 thuê bao vào 22.12.2004, Viettel Mobile tung ra liền một lúc tới 4 chương trình khuyến mãi. Các thuê bao trả trước mới (Daily, Economy) thì được tặng từ 60.000 đến 120.000 đồng vào tài khoản, kèm với việc tăng thêm ngày sử dụng cho khách hàng. Đối với các thuê bao trả sau mới, khách hàng được tặng 2 tháng thuê bao miễn phí; đặc biệt, gói cước Z60 dành cho những người dùng dưới 60.000 đồng/tháng, khách hàng sẽ được tặng 25 tin nhắn miễn phí. Tuy nhiên đó không phải là những con át chủ bài mà Viettel Mobile đưa ra. Theo dự kiến, vào đầu năm 2005, Viettel Mobile sẽ đưa ra thị trường một gói cước trả trước đặc biệt có tên gọi Flaxi.Gói cước trả trước đặc biệt này có ưu điểm là dùng càng nhiều giá càng rẻ, đây là điểm hoàn toàn khác so với các gói trả trước của tất cả các mạng di động khác khi chỉ có dùng trả sau thì mới dùng càng nhiều, giá càng rẻ còn trả trước thì không được giảm giá. Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Phó Tổng Giám đốc Viettel nhận xét:"Tôi tin rằng người tiêu dùng sẽ rất ưa chuộng gói cước này bởi từ trước đến nay người tiêu dùng vẫn quen với việc dùng trả trước thì không được giảm giá, nay họ sẽ thấy điều ngược lại". b)Viettel trước sức ép cạnh tranh 15:52' 15/12/2005 (GMT+7) 11 (VietNamNet) - Cạnh tranh để tồn tại, phát triển - đó là quy luật tất yếu của thị trường. Thị trường dịch vụ thông tin di động của Việt Nam cũng không là ngoại lệ... Sáu nhà cung cấp dịch vụ: có thừa không? Năm 2005 được đánh giá là năm bùng nổ của thị trường thông tin di động VN với 4 nhà cung cấp dịch vụ đã thực sự nhập cuộc, trong số 6 doanh nghiệp (DN) viễn thông được cấp phép cung cấp dịch vụ. Cho tới thời điểm này, con số 6 DN dường như đã được ấn định và sẽ không thay đổi ít nhất trong một thời gian nữa. Bởi có thể nhận thấy ý định muốn bình ổn thị trường di động của Chính phủ qua sự kiện Đài truyền hình Việt Nam không được chấp thuận đề nghị cấp phép nhà cung cấp dịch vụ di động hồi tháng 8 vừa qua. Theo đánh giá của các chuyên gia viễn thông, nếu được cấp phép, chắc chắn nhà đài cũng sẽ là một đối thủ "nặng ký" nếu họ có cơ hội phát triển mạng di động trên hạ tầng truyền dẫn truyền hình. Tuy nhiên, đa số các ý kiến đều nhất trí rằng, số lượng 6 nhà cung cấp dịch vụ di động so với 80 triệu dân Việt Nam hiện nay đã là nhiều. Một số nước có nền kinh tế phát triển, dân số đông như Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản cũng chỉ có từ 1 đến 3 nhà khai thác dịch vụ thông tin di động mà thôi. Được biết, trước đó, tương tự như Việt Nam, các quốc gia này cũng đã từng có tới 6, 7 nhà cung cấp dịch vụ, nhưng rồi theo thời gian và quy luật cạnh tranh khắc nghiệt, chỉ còn những nhà cung cấp đủ mạnh và có tầm mới trụ vững. Những DN yếu thế hơn, hoặc là tuyên bố phá sản, hoặc đành cam chịu phận sáp nhập với các đối thủ mạnh hơn mình để có thể tồn tại. Nhìn từ những bài học kinh nghiệm về phát triển thị trường của Trung Quốc và Hàn Quốc cho thấy, rồi tới một lúc nào đó, thị trường thông tin di động của Việt Nam cũng không thể nào tránh khỏi quy luật phát triển ấy. Dù rằng cho 12 tới thời điểm này, các nhà cung cấp dịch vụ đều vẫn rất tự tin vào năng lực và hướng phát triển của mình và muốn phá vỡ quy luật ấy đến đâu. GSM vẫn đang chiếm lĩnh Không hẹn mà nên, trong số 6 DN đã được giấy phép cung cấp dịch vụ lại chia rất đều, ba nhà cung cấp chọn công nghệ GSM là VinaPhone, MobiFone và Viettel Mobile. Còn lại S-Fone, EVN và Hanoi Telecom lại quyết định chọn công nghệ CDMA với những lợi thế của 3G để phát triển. Cho tới thời điểm hiện tại, mảng GSM đã có đủ mặt anh tài. Đó là Viettel với số lượng 2 triệu thuê bao trong hơn một năm hoạt động được đánh giá là sự bứt phá ngoạn mục, đó là sự đi lên chậm mà chắc của hai "đại gia" lâu đời là VinaPhone và MobiFone hiện tại vẫn đang dẫn đầu về số luợng thuê bao. VinaPhone đã vượt qua mốc 3,5 triệu thuê bao và MobiFone đạt mức hơn 3 triệu máy. Từ lâu, các chuyên gia đã cho rằng, 3 DN cùng cung cấp dịch vụ công nghệ GSM (2G) là nhiều. Nhất là trong thời điểm hiện nay, công nghệ này đứng bên cạnh các công nghệ tiên tiến như 2,5G, 3G thậm chí là 4G sẽ trở nên...lạc lõng. Tuy nhiên, ngay lúc này, khó có thể đưa ra phương án "loại bớt" ai trong số ba tên tuổi trên. Có thể dễ dàng nhìn thấy, VinaPhone và MobiFone (thuộc VNPT) là 2 DN có bề dày phát triển, có chỗ đứng khá vững chắc trong lòng khách hàng. MobiFone đã có "thâm niên" 13 năm phục vụ và VinaPhone cũng là thương hiệu quen thuộc từ 10 năm nay với hàng triệu khách hàng. Thêm vào đó, thế mạnh của hai mạng này còn ở vai trò DN với tiềm lực kinh tế mạnh, nhất là trong giai đoạn hiện nay, điểm ngắm của các nhà đầu tư trên sàn giao dịch chứng khoán cũng đang nhắm vào hai mạng di động lớn. Vậy, khả năng nào 13 khiến họ dễ dàng "bỏ cuộc chơi"? Viettel Mobile? Là DN mới nhưng sức trẻ của hãng này cũng rất mãnh liệt. Tiếp thị, kinh doanh chỉ trong thời gian 1 năm, sự lan tỏa của Viettel có thể gọi là đạt mức kỷ lục đối với thị trường VN. Có thời điểm, một ngày Viettel Mobile phát triển được tới chục ngàn thuê bao. Với sức tăng trưởng mạnh và tiềm năng dồi dào như vậy, đâu dễ gì để nhà cung cấp này rời khỏi "chiến trường". 2006 - Năm của công nghệ CDMA và 3G? Song như trên đã nói, xu hướng công nghệ hiện nay ngoài 2G ra, các nhà nghiên cứu phát triển dịch vụ thông tin di động đã tìm tòi và có nhiều bước tiến với 2,5G; 3G và thậm chí đã lên tới 4G. Với việc sử dụng công nghệ CDMA 2000 1x, ba mạng di động CDMA đang có thế mạnh lớn vì họ đang phát triển dựa trên công nghệ 3G. Vì thế, các mạng điện thoại di động công nghệ CDMA chắc chắn sẽ song song tồn tại với GSM, thậm chí có thể vượt xa hơn về công nghệ trong thời gian tới. Chỉ có điều, sau nhiều lần trễ hẹn, các nhà lãnh đạo của mạng 096 (EVN Telecom) hứa sẽ cung cấp dịch vụ vào đầu năm 2006, nhưng mới đây, EVN lại tiếp tục cho biết lùi thời điểm cung cấp thêm một thời gian nữa. Mặc dù vậy, theo một vị lãnh đạo của mạng VinaPhone, dù chưa hòa nhập vào cuộc chơi nhưng EVN Telecom đã được họ xếp vào hàng đối thủ đáng gờm nhất trong tương lai. HaNoi Telecom sau một thời gian "im hơi lặng tiếng" đã vừa công bố sẽ chính thức ra măt dịch vụ của mình vào quý II/2006. Bà Trịnh Thị Minh Châu, Giám đốc Công ty HaNoi Telecom đưa ra một mong muốn khá “khiêm tốn”: "sau một năm sẽ chỉ cần đạt bằng 3/5 số thuê bao của mạng Viettel Mobile". Quả 14 thực, với việc liên kết với đối tác Hutchison - hãng đã có rất nhiều kinh nghiệm trong triển khai các mạng di động trên thế giới, mạng di động 092 của Hanoi Telecom chắc chắn sẽ chẳng thể nào "chịu thua" trong cuộc cạnh tranh phát triển với những bậc đàn anh đi trước. Với S-Fone thì sao? Đi trước Viettel nhưng lại là người về sau, hiện tại mới chỉ đạt 400.000 thuê bao sau 27 tháng phát triển dịch vụ. Tuy nhiên, sau một thời gian "trầm lắng", mạng di động 095 cũng chứng tỏ cho thấy những nỗ lực đáng kể của họ: giảm giá cước, đầu tư công nghệ CDMA 2000 1x mới, tăng đầu tư từ công ty mẹ... Đại diện của S-Fone cho biết, dù không hài lòng với sự tăng trưởng hiện tại của mạng, nhưng họ vẫn quyết tâm đầu tư phát triển mạng lưới. Ông này cho biết, yếu điểm lớn nhất của S-Fone là vùng phủ sóng, khi cải thiện được tình hình chắc chắn sẽ khác. c) Viettel sẽ tính cước thấp hơn giá sàn! Cập nhật lúc 00h37' ngày 27/07/2004 Bản in Gửi cho bạn bè Phản hồi Xem thêm: viettel, se, tinh, cuoc, thap, hon, gia, san Sau nhiều ngày cân nhắc, chiều qua 26/7, Viettel chính thức ấn định mức cước mới cho mạng di động 098 áp dụng từ ngày 1/8. Theo phương án trình Bộ Bưu chính Viễn thông, cước di động của Viettel Mobile sẽ thấp hơn dưới mức giá sàn mà Bộ quy định đối với 2 mạng 091 và 090 của VNPT. Như vậy, kể từ ngày 1/8, cước thuê bao của mạng di động 098 của Viettel chỉ còn 69.000 đồng/tháng, giảm 21.000 đồng so với lần ấn định đầu tiên. Cước di động trả tiền sau là 149 đồng/block 6 giây (ngoài mạng), và 139 15 đồng/block 6 giây (trong mạng). Theo các chuyên gia, đây được coi là động thái tiếp theo của Viettel trước sức ép cạnh tranh của người khổng lồ VNPT chiếm tới trên 95% thị phần viễn thông. Tuy nhiên, Giám đốc VinaPhone Hoàng Trung Hải tỏ ra không mấy bất ngờ về quyết định của đối thủ cạnh tranh mới. Ông thậm chí còn cho rằng, Viettel là doanh nghiệp mới lần đầu tiên tham gia thị trường di động, giá thành mà họ đưa ra hoàn toàn hợp lý và mang tính cạnh tranh cao. "Về cơ bản, giá các dịch vụ của VNPT vẫn ở trên mức giá sàn mà Bộ Bưu chính Viễn thông quy định, do vậy, chúng tôi vẫn có quyền tiếp tục điều chỉnh", ông Hải nói. Song thời điểm nào hai mạng 091 và 090 tiếp tục điều chỉnh vẫn đang chờ ý kiến của lãnh đạo VNPT. Một quan chức của công ty Viettel nói: "Chủ trương của chúng tôi là không chạy đua về giá. Viettel chỉ muốn đưa ra một mức cước mới có lợi nhất cho tất cả các đối tượng khách hàng bao gồm: các cơ quan, tổ chức doanh nghiệp và giới trẻ năng động như học sinh, sinh viên. Đồng thời, với mức cước mới điều chỉnh này, Viettel sẽ không bị động trước bất kể sự điều chỉnh nào của đối thủ". Đứng ở góc độ cơ quan quản lý, nhiều chuyên gia của Bộ Bưu chính Viễn thông cho rằng, mức cước mới của cả VNPT và Viettel đều có lợi cho người tiêu dùng và không ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp nào. Với mức cước rẻ, có thể, Viettel sẽ phải gồng mình bù đắp cho những khoản đầu tư ban đầu nhưng nếu chất lượng dịch vụ tốt, họ sẽ nhanh chóng chiếm được lượng lớn khách hàng. 16 Theo quy định, Viettel là doanh nghiệp không chiếm thị phần khống chế, do vậy, họ phải thông báo với Bộ Bưu chính Viễn thông ít nhất 10 ngày làm việc trước khi quyết định giá cước của doanh nghiệp bắt đầu có hiệu lực. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng, từ nay đến lúc Viettel chính thức tham gia thị trường chỉ còn 5 ngày, liệu họ có đủ thời gian để Bộ Bưu chính Viễn thông xem xét phương án tính cước mới?. Ông Nguyễn Minh Sơn, Phó vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Bưu chính Viễn thông cho biết, mức cước mới mà Viettel mới đưa ra chỉ là phương án bổ sung cho phương án cũ mà họ đã trình Bộ. Nếu phương án mà Viettel đưa ra không vi phạm quy định thì họ hoàn toàn có thể tự quyết định thời gian và cách thức tham gia thị trường. 2.2. quy mô 17 08/09/2005 Viettel vừa đạt con số kỷ lục 1 triệu thuê bao. Đây là một thành tích đáng nể với một mạng di động mới. Trong sự thành công của Viettel, nhiều người đã nói đến sự năng động và vai trò quan trọng của marketing với thông điệp “ Hãy nói theo cách của bạn ”. Nghiên cứu của Markcom Research & Consulting về thị trường viễn thông VN và động thái cạnh tranh của từng nhà cung cấp dịch vụ trên thị trường trong ba năm qua cho phép đánh giá 50% thành công của Viettel là do khai thác hiệu quả sự lơi lỏng (nếu không muốn nói là sai lầm) của đối thủ về marketing và 50% là do nỗ lực của đội ngũ nhân viên năng động. Đánh giá về sự sai lầm trong marketing của các đối thủ của Viettel, theo chúng tôi, có ba nguyên nhân và điều này đã tạo lợi thế cho Viettel khi biết tận dụng thời cơ. Đó là sự chậm chạp trong chiến lược cạnh tranh (thiếu linh hoạt) và xử lý rủi ro chậm (ví dụ vụ nghẽn mạng Vinaphone đầu năm 2005); chăm sóc quyền lợi khách hàng chưa đúng mức; cuối cùng là có sai lầm trong xây dựng hình ảnh. Chính vì vậy việc “đánh bóng” hình ảnh của mình nhân sự lơi lỏng về chiến lược marketing của đối thủ đã là một giải pháp làm nên thành công của Viettel. Tuy nhiên, thành công của thương hiệu Viettel, theo chúng tôi, còn do hai nguyên nhân bao trùm khác. Đó là một chiến lược định vị và tiêu chí tiếp cận kinh doanh “vì khách hàng trước, vì mình sau”. Chiến lược định vị: giá thấp, linh loạt trong quảng bá hình ảnh và đặc biệt là có hẳn sách lược chăm sóc khách hàng một cách thân thiện, tận tình là một chiến lược kinh doanh rất đúng đắn. Đây có thể coi là cách định vị tối ưu nhất cho một mạng di động trong bối cảnh thị trường di động VN cách đây 2 - 3 18 năm (S-Fone tuy ra trước đã không làm điều này). Bên cạnh chiến lược định vị đúng, Viettel còn thể hiện lối tư duy kinh doanh “vì khách hàng trước, vì mình sau” tuy chưa đậm nét và đạt tới mức độ cao nhưng đã tạo được sự tin cậy trong người tiêu dùng. Các gói cước tính có lợi cho khách hàng, các cách chăm sóc khách hàng tốt, các tiện ích mang lại giá trị ngoại sinh cho khách hàng như chọn số... thật sự đã góp phần làm cho Viettel thành công hơn. 2008 – Năm thành công vượt ngưỡng biên giới quốc gia của VIETTEL Năm 2008, Viettel có 27,45 triệu thuê bao kích hoạt mới, trong đó có hơn 16 triệu thuê bao hoạt động trên hệ thống, đưa tổng số thuê bao hoạt động trên toàn mạng lên 28 triệu thuê bao. Dịch vụ cố định PSTN và ADSL phát triển mới 735.000 thuê bao, cao gấp 3 lần so với thực hiện năm 2007. Dịch vụ Cố định không dây HomePhone đạt 1,5 triệu thuê bao, chiếm 30% thị phần. Với hơn 40% thị phần, phủ sóng 98% dân cư, Viettel Mobile tiếp tục khẳng định vị trí tiên phong của mình trên thị trường thông tin di động. Năm thứ tư liên tiếp Viettel đạt mức tăng trưởng năm sau gấp đôi năm trước. Doanh thu đạt 33.000 tỷ đồng, gấp đôi năm 2007. Lợi nhuận đạt 8.600 tỷ đồng, nộp ngân sách 4.900 tỷ, nộp BQP 150 tỷ. Năng suất lao động đạt 2,73 tỷ đồng/người/, thu nhập bình quân đạt 10 triệu đồng/người. Trong năm, Viettel đã lắp đặt 8.000 trạm BTS, phát sóng 6.600 trạm, nâng tổng số trạm phát sóng lên gấp đôi và hiện có 14.000 trạm BTS đang phát sóng. Lắp đặt mới 1.400 thiết bị truy nhập cho mạng cố định và Internet băng rộng, nâng tổng số thiết bị mạng cố định lên 5.700. Triển khai mới 25.000 km cáp quang, 5.300 thiết bị SDH, nâng tổng số chiều dài cáp quang của Viettel đạt 58.000km, số node mạng truyền dẫn là trên 10.000, và là doanh nghiệp có 19 mạng truyền dẫn quang lớn nhất Việt Nam. Năm 2008, Viettel có 27,45 triệu thuê bao kích hoạt mới, trong đó có hơn 16 triệu thuê bao hoạt động trên hệ thống, đưa tổng số thuê bao hoạt động trên toàn mạng lên 28 triệu thuê bao. Dịch vụ cố định PSTN và ADSL phát triển mới 735.000 thuê bao, cao gấp 3 lần so với thực hiện năm 2007. Dịch vụ Cố định không dây HomePhone đạt 1,5 triệu thuê bao, chiếm 30% thị phần. Với hơn 40% thị phần, phủ sóng 98% dân cư, Viettel Mobile tiếp tục khẳng định vị trí tiên phong của mình trên thị trường thông tin di động. Viettel lọt vào top 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới. Năm 2008, thương hiệu Viettel đã khẳng định tên tuổi của mình trên bản đồ viễn thông thế giới với một loạt giải thưởng: Tháng 12/2008, Viettel được Informa Telecoms and Media – một Cty có uy tín hàng đầu thế giới về phân tích viễn thông, đánh giá xếp hạng thứ 83 trong số 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới, đứng trên cả Singapore Telecom là Cty viễn thông lớn nhất Asean; Tháng 10/2008, tập đoàn truyền thông Terrapin (Anh), sở hữu tạp chí Total Telecom, đã bình chọn Viettel là 1 trong 4 Nhà cung cấp dịch vụ viễn thông tốt nhất ở các quốc gia đang phát triển trong khuôn khổ giải thưởng Viễn thông thế giới (World Communication Awards – WCA). Ngoài ra, Viettel cũng liên tục thăng hạng trên bảng số liệu xếp hạng các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông dựa trên số lượng thuê bao di động do tổ chức WI (Wireless Intelligence) đưa ra, Quý 1/2008 xếp thứ 53; quý 2/2008 xếp thứ 42 và hiện nay Viettel đứng thứ 41 trong tổng số hơn 650 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động trên toàn thế giới. Đây là những thành công không chỉ của Viettel mà còn là thành công của ngành viễn thông Việt Nam bởi với thương hiệu Viettel, lần đầu tiên Việt Nam đã trở thành một quốc gia được xếp hạng và có tên tuổi trên bản đồ viễn thông thế giới.. Năm thành công của hoạt động đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt trong công tác xây dựng hạ tầng mạng lưới tại Lào và Campuchia. Tại Campuchia 20
- Xem thêm -