MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM THỜI KỲ 1945 – 1975

  • Số trang: 189 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH Lê Thị Hồng MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM THỜI KỲ 1945 – 1975 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Thành phố Hồ Chí Minh – 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH Lê Thị Hồng MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM THỜI KỲ 1945 – 1975 Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60 22 03 13 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ VĂN ĐẠT Thành phố Hồ Chí Minh – 2014 LỜI CAM ĐOAN Đề tài Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 là công trình nghiên cứu và biên soạn của riêng tôi trong thời gian theo học lớp Cao học khóa 23, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung đề tài trước Hội đồng bảo vệ luận văn. Tác giả Lê Thị Hồng LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn Khoa Lịch sử và Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập tại trường. Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ts. Lê Văn Đạt, Thầy đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình tìm tài liệu và làm luận văn. MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1 Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ CÁC HÌNH THỨC MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM........................................................................................................ 7 1.1. Cơ sở lý luận ..................................................................................................... 7 1.2. Bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và những tiền đề, điều kiện cho sự ra đời của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam ................................................................................................................ 18 1.3. Các hình thức tổ chức Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam ........................................................................................................ 21 Tiểu kết chương 1...................................................................................................... 28 Chương 2. MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 1954) ...................................................................................................... 30 2.1. Mặt trận Dân tộc thống nhất trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân (9/1945 – 12/1946)............................................................... 30 2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử và nhu cầu, chủ trương mở rộng Mặt trận đoàn kết dân tộc ................................................................................................ 30 2.1.2. Mặt trận Việt Minh và Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam góp phần xây dựng và bảo vệ chính quyền ............................................................. 36 2.2. Mặt trận Dân tộc thống nhất thực hiện nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (12-1946 đến 7-1954) .................................. 49 2.2.1. Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp và yêu cầu mở rộng Mặt trận Dân tộc Thống nhất ................................................................... 49 2.2.2. Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt góp phần giành thắng lợi bước đầu của cuộc kháng chiến (1946 - 1950) ................................................. 52 2.2.3. Mặt trận Liên Việt góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn (1951 - 1954)........................................................................... 59 Tiếu kết chương 2...................................................................................................... 69 Chương 3. MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 - 1975) ........................... 71 3.1. Bối cảnh tình hình và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ 1954 ................................................................................................. 71 3.2. Mặt trận Dân tộc thống nhất thực hiện nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước....................................................................................... 73 3.2.1. Mặt trận Liên Việt hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình ....................... 73 3.2.2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh thống nhất nước nhà ........................................................................................................... 76 3.2.3. Mặt trận Dân tộc thống nhất miền Nam với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1960 - 1975) ........................................................................... 96 Tiểu kết chương 3.................................................................................................... 140 KẾT LUẬN ............................................................................................................ 141 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 151 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT - MTDTTN : Mặt trận Dân tộc Thống nhất - HLHQDVN : Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam - MTTQVN : Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - MTDTGPMNVN : Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam - CPCMLTCHMNVN : Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - LMCLLDTDC&HBVN : Liên minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam - Nxb : Nhà xuất bản 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trải qua lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã đúc kết được nhiều truyền thống quý báu. Trong đó, đoàn kết đã trở thành một trong những truyền thống nổi bật nhất; là cội nguồn sức mạnh to lớn, đảm bảo cho dân tộc tồn tại và phát triển, xây dựng đất nước, chống chọi với thiên tai, địch họa, chiến thắng thù trong giặc ngoài, giữ vững non sông đất nước. Phát huy truyền thống vẻ vang đó, ngay từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam - trung thành với lợi ích dân tộc đã tập hợp, đoàn kết toàn dân trong MTDTTN mà hình thức đầu tiên là Hội phản đế đồng minh. Kể từ đó đến nay, trong lịch sử cách mạng Việt Nam, không có thời kỳ nào vắng tổ chức Mặt trận. Thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng Tám năm 1945 gắn liền với sự nghiệp của các tổ chức Mặt trận thời kỳ này, đặc biệt là Mặt trận Việt Minh. Trên cơ sở phát huy vai trò đó, cùng với những bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình xây dựng và phát triển công tác Mặt trận trong giai đoạn trước, MTDTTN trong thời kỳ 1945 - 1975 đã có những đóng góp vô cùng to lớn để đưa đến thắng lợi của hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta: kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975). Lịch sử Việt Nam có lẽ hiếm có thời kỳ nào chứa đựng nhiều biến động, thăng trầm như thời kỳ 1945 - 1975. Cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp chưa kết thúc, đế quốc Mỹ đã lăm le nhảy vào. Chưa bao giờ dân tộc Việt Nam lại phải đối đầu với những kẻ thù mạnh đến vậy. Song cuối cùng, thắng lợi đã thuộc về nhân dân Việt Nam. Nguyên nhân của những kỳ tích ấy thì có rất nhiều, nhưng nổi bật là vai trò của MTDTTN. MTDTTN đã có vai trò lịch sử quan trọng, là một nhân tố quyết định làm nên thắng lợi của dân tộc ta. Vì vậy, để có thể hiểu một cách sâu sắc về lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 không thể không tìm hiểu về MTDTTN. Những hoạt động của MTDTTN, trực tiếp hay gián tiếp, đều có chi phối quan trọng đến tiến trình của lịch sử Việt Nam thời kỳ này. 2 Mặt khác, vấn đề MTDTTN cũng là đối tượng của không chỉ khoa học lịch sử mà còn đối với lĩnh vực chính trị. Những bài học về tập hợp lực lượng quần chúng, về cách phối hợp hoạt động để phát huy sức mạnh của toàn thể dân tộc mãi mãi là những bài học quý giá và luôn mang tính thời sự nóng bỏng. Nghiên cứu về MTDTTN, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm để phục vụ cho công tác xây dựng và bảo vệ đất nước trong giai đoạn hiện nay là việc làm cần thiết. Hơn thế nữa, MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ này, tự nó cũng là một đối tượng nghiên cứu rất quan trọng trong mảng đề tài nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 nói chung. Bản thân việc nghiên cứu đề tài này cũng không nằm ngoài mục đích hiểu rõ, hiểu sâu thêm về vấn đề MTDTTN trong lịch sử Việt Nam, để từ đó có thể hoàn thiện thêm về tri thức lịch sử Việt Nam 1945 1975. Riêng đối với công tác giảng dạy, hiện nay quá trình dạy học bộ môn Lịch sử Việt Nam ở các trường phổ thông nói chung và môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ở các trường Cao đẳng và Đại học nói riêng còn thiếu sự toàn diện. Đó là, thường xem nhẹ các lĩnh vực kinh tế - xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội trong đó có vấn đề MTDTTN, mà chủ yếu chú trọng lĩnh vực chính trị quân sự. Vì vậy, nắm vững và truyền đạt được những kiến thức về MTDTTN cho người học sẽ góp phần giúp giáo viên giảng dạy đạt kết quả tốt hơn. Do đó, khi nghiên cứu về MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975, tôi cũng mong muốn góp một phần nhỏ trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch sử Việt Nam cũng như môn Đường lối cách mạng Việt Nam hiện nay theo hướng toàn diện hơn. Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975” làm đề tài luận văn thạc sỹ lịch sử của mình. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về vấn đề MTDTTN trong lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 không phải là một đề tài nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu lịch sử đã đề cập khá nhiều đến mảng đề tài này, trực tiếp cũng như gián tiếp. Tuy nhiên, một công trình 3 chuyên sâu và đầy đủ về vấn đề này, cho đến nay vẫn chưa được xuất bản. Các công trình mang tính chất đại cương như Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2000; Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội của các tác giả Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, xuất bản năm 2003; Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập: từ nguyên thủy đến 2000 của Trương Hữu Quýnh và những tác giả khác, xuất bản năm 2003…đều trình bày những nét lớn của lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 nói chung. Các công trình này, đều nhìn nhận thấy sự quan trọng của MTDTTN đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhưng do đây là những công trình mang tính chất đại cương, các tác giả không thể trình bày vấn đề này một cách chi tiết và chuyên sâu. Các công trình Mặt trận dân tộc thống nhất là gì? của tác giả Viễn Trình, Nxb Sự thật, xuất bản năm 1957; Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam của tác giả Nguyễn Công Bình, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1963; Vài nét tư liệu về Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, Báo cứu quốc, số 28, tháng 1-1977; Lược sử Mặt trận dân tộc thống nhất của Ủy ban trung ương MTTQVN, Nxb Sự thật, xuất bản năm 1991…đều là những công trình nghiên cứu về MTDTTN trong cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian của các công trình này là khá rộng lớn, do đó chưa đi sâu nghiên cứu được một cách chi tiết về MTDTTN trong thời kỳ 1945 - 1975. Công trình Về mặt trận dân tộc thống nhất của Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, Hà Nội, xuất bản 1972 và những bài viết của các tác giả khác đăng trên các báo và tạp chí như: Quá trình tiến hành công tác Mặt trận của Đảng ta, Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 139, 1971 của tác giả Văn Tâu; Nhận thức và thực tiễn của vấn đề xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 2, 1991 của tác giả Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Văn Khánh; Hồ Chí Minh hoàn thiện về đường lối chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Mặt trận dân tộc thống nhất, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 2, 1992 của tác giả Lê Mậu Hãn…là những công trình nặng về phương diện lý luận trong việc tìm hiểu về MTDTTN trong cách mạng Việt Nam. Các công trình này đã thể hiện một cách chi tiết về quan điểm xây dựng MTDTTN 4 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự hình thành và hoạt động của MTDTTN trong các giai đoạn cụ thể mà chưa nghiên cứu sâu, chi tiết về MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975. Hơn nữa, bản thân các bài viết trên các báo và tạp chí chủ yếu là các công trình nghiên cứu tương đối nhỏ, chưa thể trình này vấn đề này một cách khái quát và hệ thống. Các công trình như: Sự thành lập và phát triển của Mặt trận Việt Minh của Ban tuyên huấn Việt Minh - Liên Việt chiến khu VI, Tổng bộ Việt Minh xuất bản năm 1949; Mặt trận Việt Minh của tác giả Nguyễn Thành, Nxb Sự thật, Hà Nội, xuất bản năm 1991; Chung một bóng cờ (Về Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) của tác giả Trần Bạch Đằng (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1993; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960-1977), của các tác giả Hà Minh Hồng, Trần Nam Tiến, Nxb Tổng hợp, Tp HCM, xuất bản năm 2010; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2010…lại là những công trình nghiên cứu về Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, MTDTGPMNVN, do vậy không thể bao quát hết được vấn đề MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975. Nhìn chung, tất cả các công trình nêu trên đã quan tâm nghiên cứu đến MTDTTN nói chung cũng như MTDTTN trong thời kỳ 1945 - 1975. Tuy nhiên, các công trình chỉ nghiên cứu một khía cạnh của toàn bộ mảng đề tài này. Do đó, thực hiện đề tài, tôi hy vọng có thể kế thừa những thành quả của các công trình nghiên cứu đi trước để có thể tổng hợp, khái quát lại một cách toàn diện và hệ thống hơn vấn đề này. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 là một bức tranh sinh động và rộng lớn. Vấn đề mà luận văn đặt ra chỉ nhằm tìm hiểu một khía cạnh nhỏ trong mảng nghiên cứu về lịch sử Việt Nam. Luận văn chỉ tập trung tìm hiểu về sự ra đời, quá trình hoạt động và những đóng góp của MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975. 5 3.2. Nhiệm vụ của đề tài Trong điều kiện thời gian có hạn và nguồn tư liệu còn hạn chế, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau: - Cơ sở lý luận, bối cảnh lịch sử và những tiền đề, điều kiện cho sự ra đời của MTDTTN trong cách mạng Việt Nam; các hình thức tổ chức MTDTTN ở nước ta từ 1930 đến nay. - Sự ra đời, quá trình hoạt động và những đóng góp của MTDTTN trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954). - Sự ra đời, quá trình hoạt động và những đóng góp của MTDTTN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975). - Tính chất, đặc điểm và một số bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng MTDTTN trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta. 4. Đóng góp của luận văn Không tham vọng đưa lại điều gì mới mẻ mang tính phát hiện nhưng với tinh thần làm việc nghiêm túc và khoa học, khi thực hiện đề tài “Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975”, luận văn mong muốn có những đóng góp nhất định: - Luận văn trình bày một cách khái quát về bối cảnh ra đời, quá trình hoạt động của MTDTTN trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. - Luận văn góp phần làm sáng rõ hơn những đóng góp to lớn của Mặt trận đối với cách mạng Việt Nam trong trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. - Bước đầu rút ra đặc điểm, tính chất và những bài học kinh nghiệm về MTDTTN Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. - Luận văn tập hợp nguồn tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập vấn đề MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975. 5. Nguồn tư liệu Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm, tập hợp, khai thác tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, kế thừa nghiêm túc các nguồn tài liệu có liên 6 quan. Nguồn tài liệu này gồm: - Tài liệu của Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng. - Văn kiện Đảng toàn tập; Văn kiện các Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất thời kỳ 1945 - 1975; Hồ Chí Minh Toàn tập. - Các công trình nghiên cứu chuyên đề về MTDTTN tại Thư viện Tổng hợp; Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện Khoa học xã hội… - Các sách, hồi ký của các vị lãnh đạo Đảng, chính quyền, Mặt trận trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. - Đề tài còn sử dụng khá nhiều các nguồn tư liệu từ các báo và tạp chí khoa học có viết về MTDTTN. - Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng một số tư liệu từ sách điện tử và internet. Đây là một nguồn tài liệu vô cùng phong phú. Tuy vậy, chúng tôi rất cẩn thận trong quá trình khai thác nguồn tư liệu này. 6. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic, đồng thời sử dụng các phương pháp chuyên ngành như phương pháp sưu tầm, phân tích, tổng hợp tài liệu… 7. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục. Nội dung chính của luận văn có cấu trúc thành 3 chương: Chương 1. Cơ sở hình thành và các hình thức Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam Chương 2. Mặt trận Dân tộc thống nhất trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) Chương 3. Mặt trận Dân tộc thống nhất trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) 7 Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ CÁC HÌNH THỨC MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1.1. Cơ sở lý luận Đại đoàn kết dân tộc trong MTDTTN là một tư tưởng lớn, nội dung lớn của đường lối cách mạng đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định ngay từ khi Đảng vừa mới ra đời. Chủ trương đó được xây dựng dựa trên cơ sở kế thừa, phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc ta; kết hợp một cách tài tình, khéo léo những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân và đoàn kết dân tộc; đặc biệt là những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong MTDTTN. Thứ nhất, MTDTTN Việt Nam được xây dựng dựa trên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa của cộng đồng dân tộc; những kinh nghiệm, tư tưởng tập hợp lực lượng dân tộc để dựng nước, cứu nước của các thế hệ yêu nước, cách mạng tiền bối. Một trong những đặc điểm nổi bật của lịch sử dân tộc Việt Nam là truyền thống dựng nước gắn chặt với truyền thống giữ nước, đấu tranh xã hội - giai cấp không tách rời đấu tranh dân tộc. Quá trình lịch sử đó đã hun đúc nên những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực tự cường, cần cù, sáng tạo trong lao động, anh dũng trong đấu tranh…và một trong những truyền thống nổi bật nhất, một trong những nhân tố làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam đó là tinh thần đoàn kết cộng đồng, dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, truyền thống đó đã trở thành lẽ sống của mỗi người Việt Nam, gắn chặt vận mệnh của mỗi cá nhân vào vận mệnh của cộng đồng, quốc gia, dân tộc và hình thành nên sự cố kết cộng đồng một cách tự nhiên. Tuy nhiên, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc không phải ngẫu nhiên mà có. Đó là kết quả hợp thành của nhiều nhân tố về điều kiện địa lý, tự nhiên và vị trí quan trọng của dân tộc mà những cư dân người Việt từ thuở xa xưa vừa được thừa hưởng sự ưu đãi của đất trời, vừa phải đối mặt với những thử thách khắc 8 nghiệt của thiên tai, địch họa. Trước sự đe dọa của thiên tai, nhân dân ta phải đoàn kết hợp quần nhau lại mới đủ sức mạnh để khai phá đất hoang thành đồng ruộng, lập xóm làng, đắp đê chống lũ lụt, khơi kênh ngòi chống úng hạn… công cuộc lao động gian khổ và yêu cầu hợp quần đó tạo nên sự gắn bó mật thiết giữa con người với thiên nhiên, giữa người với người ở cùng một làng, một nước. Đặc biệt, nước ta ở vào vị trí địa lý quan trọng của vùng Đông Nam Á, là địa bàn chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị và quân sự. Cho nên, từ thời cổ đại đến cận đại và hiện đại, Việt Nam là mảnh đất mà các thế lực bành trướng, xâm lăng luôn luôn thèm khát và tìm mọi cách để chiếm đoạt. Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, dân tộc ta phải chống ngoại xâm rất nhiều lần với tần suất rất cao: đã phải tiến hành gần 20 cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc cùng với hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng. Họa mất nước có khi kéo dài hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Thời gian chống giặc ngoại xâm cộng lại trên 12 thế kỷ. Trên thế giới, ít có dân tộc nào phải chống ngoại xâm nhiều đến như thế. “Hơn nữa Việt Nam phải chống ngoại xâm trong những điều kiện rất ác liệt, trong so sánh lực lượng rất chênh lệch. Nước đi xâm lược, ngoại trừ vài ba trường hợp như Nam Việt, Nam Hán, Xiêm là những quốc gia không lớn lắm, còn lại đều là những đế chế lớn mạnh ở phương Đông hay những cường quốc đế quốc chủ nghĩa trên thế giới. Trong hoàn cảnh đó, muốn chiến thắng kẻ thù lớn mạnh, Việt Nam phải huy động sức mạnh của cả nước, của toàn dân... Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ rõ những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thành công từ xa xưa đến gần đây đều là chiến tranh nhân dân yêu nước, kết hợp giữa vai trò của quân đội chủ lực của nhà nước với sự tham gia rộng lớn của các tầng lớp nhân dân, của cả dân tộc, phát huy tất cả sức mạnh tinh thần và vật chất của đất nước. Ngược lại, những cuộc kháng chiến thất bại, nguyên nhân chủ yếu là, hoặc chỉ đơn thuần dựa vào quân đội, dựa vào thành lũy hoặc để mất lòng dân”[48, tr.100]. Tức là chưa đoàn kết được các tầng lớp nhân dân đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc. Với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện địa lý đặc thù nêu trên, để tồn tại và phát triển, các cư dân trên lãnh thổ hình chữ S từ hàng ngàn năm nay đã cố kết lại để 9 chống chọi với thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Từ trong cuộc đấu tranh trường kỳ đó, đã sớm nảy sinh và hình thành ý thức cộng đồng, ý thức tập thể và cao hơn là ý thức dân tộc. Ý thức này ngấm vào máu thịt của con người Việt Nam và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để tạo thành truyền thống đoàn kết trên nền tảng vững chắc - chủ nghĩa yêu nước. Đoàn kết đối với các thế hệ người Việt Nam đã trở thành một tình cảm tự nhiên “Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng”; đã trở thành một triết lý nhân sinh: “Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”; đã trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị: Nhà - Làng - Nước thống nhất; “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” và được đúc kết, nâng lên thành kinh nghiệm, thành phép trị nước và đánh giặc: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”, “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nước nhà chung sức”... Cũng chính trong quá trình dựng nước và giữ nước, cha ông ta còn tích lũy được không ít những kiến thức, kinh nghiệm phong phú, đa dạng, thích hợp với mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau về xây dựng, thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc với nhiều hình thức như: Hội nghị Diên Hồng (1284); Hội thề Lũng Nhai (1416); Hội Duy Tân (1905); Việt Nam Quang phục Hội (1912)…Đây là một trong những nhân tố góp phần đem đến thắng lợi cho dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước, giành lại độc lập dân tộc. Nhằm kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc, Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930) đã vạch ra sự cần thiết phải xây dựng một MTDTTN để đoàn kết các giai tầng trong xã hội, các tổ chức chính trị, các cá nhân phấn đấu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Thứ hai, chủ trương xây dựng MTDTTN của Đảng Cộng sản Việt Nam còn xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề đoàn kết dân tộc với tư tưởng cốt lõi: Cách mạng bao giờ cũng là sự nghiệp của đông đảo quần chúng nhân dân. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Mác - Ph.Ăngghen sau khi phân tích quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa tư bản, các ông đã 10 chứng minh sự ra đời, phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản là một tất yếu lịch sử; đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Từ đó, C.Mác - Ph.Ăngghen đã chỉ ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột; xây dựng một chế độ xã hội mới - xã hội cộng sản văn minh. Để hoàn thành được sứ mệnh lịch sử nói trên, giai cấp vô sản phải đoàn kết tất cả các lực lượng tiến bộ xung quanh mình. Đặc biệt, khi giai cấp tư sản và các thế lực áp bức, bóc lột liên minh, liên kết với nhau chống phong trào cách mạng thì các giai cấp, tầng lớp lao động bị áp bức muốn giải phóng được cho mình phải đoàn kết, liên minh lại với nhau, đoàn kết với giai cấp vô sản, tạo nên một mặt trận cách mạng trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Bên cạnh đó, C.Mác - Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng: sự thống nhất về lợi ích chính là cơ sở để làm nên sự thống nhất giữa vấn đề đoàn kết dân tộc và đoàn kết giai cấp: “Muốn cho các dân tộc có thể thực sự đoàn kết lại thì họ phải có những lợi ích chung. Muốn cho những lợi ích của họ trở thành lợi ích chung thì những quan hệ sở hữu hiện có phải bị thủ tiêu, bởi lẽ những quan hệ sở hữu hiện có tạo điều kiện cho một số dân tộc này bóc lột một số dân tộc khác; chỉ có giai cấp công nhân là thiết tha với việc thủ tiêu những quan hệ sở hữu hiện tồn. Duy chỉ có mình nó mới có thể làm được việc này”[18, tr.624]. C.Mác, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh: vấn đề đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng, liên minh các giai cấp, các dân tộc là điều kiện cần cho thắng lợi của cách mạng. Lực lượng của cách mạng chính là mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt nam nữ, dân tộc, quốc gia, đoàn kết mọi công nhân trong toàn xã hội, tất cả mọi thành viên trong xã hội vào hiệp hội dựa trên sự hiệp tác. Không chỉ vậy, sức mạnh của khối đoàn kết ấy không chỉ bảo đảm cho thắng lợi của giai cấp vô sản trong giai đoạn giành chính quyền, mà nó còn bảo đảm cho thắng lợi của giai cấp vô sản trong quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Trong liên minh ấy, giai cấp vô sản là giai cấp tiên phong có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Bởi vì: “trong tất 11 cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” [18; tr.610-611]. Như vậy, những đóng góp của C.Mác, Ph.Ăngghen trên cả phương diện lý luận và thực tiễn của vấn đề đoàn kết dân tộc là rất quan trọng. Các ông đã đặt nền tảng để xây dựng khối liên minh công nông, đoàn kết giai cấp vô sản, đoàn kết các dân tộc bị áp bức, tập hợp lực lượng, đưa cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đi tới thắng lợi. Trên cơ sở kế thừa những quan điểm của C.Mác và Ăngghen, V.I. Lênin đã nhấn mạnh tầm quan trọng và sự cần thiết phải đoàn kết các giai cấp và tầng lớp trong xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng tháng Mười Nga, V.I. Lênin cho rằng: trong cách mạng việc liên minh giai cấp là một vấn đề to lớn. “Nếu chỉ một mình giai cấp vô sản tiến hành cuộc đấu tranh một cách đơn độc thì đó không những là một điều dại dột mà còn là một tội ác nữa”[21, tr.29]. Đặc biệt, V.I. Lênin còn nêu vấn đề đoàn kết những người vô sản với nhân dân các nước bị áp bức, bóc lột nhằm chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc thành một khẩu hiệu chiến lược: “Giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết lại”. Đến đây, vấn đề đoàn kết đã được phát triển và mở rộng, không những đoàn kết nhân dân trong nước mà còn phải đoàn kết với nhân dân thế giới, nhất là các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của từng nước nói riêng và cho phong trào, mục tiêu cách mạng thế giới nói chung. Tiếp thu những quan điểm đó, Quốc tế Cộng sản trong quá trình hoạt động của mình, đã tiến hành nhiều hoạt động dù ở cấp độ “thấp” hay “hẹp” hơn Mặt trận nhưng vẫn có ý nghĩa như là sự tập hợp lực lượng quần chúng, liên kết phong trào cộng sản và công nhân quốc tế như: “Quốc tế thanh niên”, “Quốc tế nông dân”, “Công hội đỏ”, “Quốc tế phụ nữ”… Mô hình này của Quốc tế Cộng sản về sau đã được lặp lại trong cấu trúc hệ thống chính trị cách mạng các nước do giai cấp vô sản lãnh đạo. Đặc biệt là ở các nước thuộc địa và phụ thuộc - nơi mà yếu tố dân tộc còn chiếm ưu thế, cho nên còn có điều kiện tập hợp trong Mặt trận thống nhất tất cả 12 những lực lượng dân chủ trong nước để tiến hành đấu tranh cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc. Ngay trong Quốc tế Cộng sản - cơ quan cao nhất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, ở một khía cạnh nào đó cũng mang tính chất một sự tập hợp, đoàn kết, thống nhất, liên minh hợp tác để thực hiện những mục tiêu chung của phong trào cách mạng thế giới. Ngay trong Quốc tế Cộng sản - cơ quan cao nhất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, ở một khía cạnh nào đó cũng mang tính chất một sự tập hợp, đoàn kết, thống nhất, liên minh hợp tác để thực hiện những mục tiêu chung của phong trào cách mạng thế giới. Trong Báo cáo chính trị của G.Dimitrop - Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản năm 1920, đã tập trung chủ yếu cho cuộc đấu tranh thành lập MTDTTN công nhân và Mặt trận thống nhất nhân dân ở các nước tư bản chủ nghĩa. Thông qua những cấp độ hợp tác, hiệp thương, liên minh…cấp độ Mặt trận có thể được coi là mang tính chất rộng rãi. Nó không chỉ bao trùm sự đoàn kết các lực lượng trong nước vào sự nghiệp cách mạng nói chung của dân tộc mà còn mở rộng ra phạm vi liên kết và đoàn kết quốc tế, cùng giúp đỡ nhau nhằm thực hiện những mục tiêu to lớn mà nhân loại đặt ra. Bắt đầu từ năm 1923, Quốc tế Cộng sản đã bắt tay chỉ đạo việc xây dựng MTDTTN ở một nước cụ thể - nước Trung Hoa cách mạng. Quốc tế Cộng sản kỳ vọng có thể rút từ thực tiễn cách mạng Trung Hoa những kinh nghiệm để áp dụng cho phong trào cách mạng các nước khác có hoàn cảnh tương tự. Mặc dù, sự chỉ đạo xây dựng MTDTTN ở Trung Quốc không mấy thành công, nhưng tư tưởng chỉ đạo đó của Quốc tế Cộng sản đã có ý nghĩa rất tích cực đối với phong trào cách mạng thế giới nói chung và nhất là phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc nói riêng. Như vậy, do đặc điểm của thời đại mình, C.Mác và Ph.Ăngghen mới chỉ kêu gọi đoàn kết giai cấp vô sản toàn thế giới và thực hiện liên minh công nông (sau Công xã Pari 1871) trong đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa. Đến V.I.Lênin, trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, ách áp bức giai cấp và dân tộc đã diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, tư tưởng liên minh công nông của C.Mác được V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản mở rộng ra trên quy mô 13 toàn thế giới với khẩu hiệu nổi tiếng: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Song, do chưa đánh giá đầy đủ về vấn đề dân tộc, nhất là vấn đề dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, tư tưởng về đoàn kết dân tộc trong MTDTTN vẫn chưa được V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản đặt ra một cách hệ thống, cụ thể và đầy đủ. Nhưng những đóng góp của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản về vấn đề đoàn kết dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Các ông đã đặt nền tảng để xây dựng khối liên minh công nông, đoàn kết giai cấp vô sản, đoàn kết các dân tộc bị áp bức; tập hợp lực lượng, đưa cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đi tới thắng lợi. Đó là những cơ sở lý luận quan trọng để Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam hình thành và xây dựng nên chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng MTDTTN nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thứ ba, việc xây dựng MTDTTN ở nước ta còn dựa trên những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết trong MTDTTN. Trên cơ sở kết hợp tài tình và khéo léo chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh hoa truyền thống văn hoá dân tộc, nhất là truyền thống đoàn kết; chắt lọc tinh hoa văn hoá nhân loại; trải qua thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú và sinh động, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận thức được sự cần thiết phải thực hiện đoàn kết dân tộc; đã nhìn thấy sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc, nguồn động lực to lớn của nhân dân Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước. Nhưng với Người, đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan niệm, ở những lời kêu gọi, hiệu triệu mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, phải trở thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, trở thành lực lượng vật chất có tổ chức và tổ chức đó chính là MTDTTN. Những quan điểm của Hồ Chí Minh về MTDTTN vô cùng phong phú và đa dạng, từ việc khẳng định vị trí, vai trò, tác dụng, tầm quan trọng của Mặt trận, đến các vấn đề chiến lược, sách lược, nguyên tắc, phương pháp lập MTDTTN. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ nêu lên những quan điểm cơ bản nhất của
- Xem thêm -