Lý luận và thực tiễn về thi hành án trong tố tụng dân sự việt nam

  • Số trang: 56 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP (Niên Khóa 2006 - 2010) TÊN ĐỀ TÀI LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THI HÀNH ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: NGUYỄN CHÍ HIẾU BỘ MÔN TƯ PHÁP LÝ THỊ NHIÊN MSSV: 5062271 Lớp: Tư pháp 1- K32 Cần Thơ, tháng 10- 2009 MỤC LỤC Trang LỜI NÓI ĐẦU........................................................................................................ 1 CHƯƠNG I:VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI BỨC TỬ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm về tội giết người trong luật hình sự Việt Nam hiện hành. .... 4 1.1.1 Khái niệm theo từ điển Tiếng việt ............................................................. 4 1.1.2 Những khái niệm liên quan đến tội giết người .......................................... 4 1.2 Khái quát về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ..... .4 1.2.1. Khái niệm và đặc điểm về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. ................................................................. 4 1.2.1.1 Khái niệm .............................................................................. 4 1.2.1.2 Đặc điểm.. ............................................................................. 5 1.2.2. Nguyên nhân và điều kiện tạo nên tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ........................................................... 8 1.2.3. Lịch sử hình thành tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. ............................................................................... 12 1.2.3.1 Giai đoạn 1985 đến 1999 ....................................................... 12 1.2.3.2 Giai đoạn 1999 đến nay.......................................................... 13 1.2.4. Một số điểm mới về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999............ 15 1.2.5. Tính chất nghiêm trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. ............... 16 1.2.5.1 Tính chất nghiêm trọng ........................................................... 17 1.2.5.2 Ý nghĩa .................................................................................... 20 CHƯƠNG II:TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2.1 Cấu thành tội phạm và dấu hiệu pháp lí của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ..................................................................................... 22 2.1.1 Cấu thành tội phạm............................................................................... 22 2.1.2 Dấu hiệu pháp lí................................................................................... 22 2.1.2.1 Khách thể. .................................................................................... 22 2.1.2.2 Khách quan .................................................................................. 23 2.1.2.3 Chủ quan ...................................................................................... 27 2.1.2.4 Chủ thể ......................................................................................... 27 2.2 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với một số tội khác...................................................................................................... . .27 2.2.1 Với tội giết người .............................................................................. .27 2.2.2 Với trường hợp phạm tội bị kích đông về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân hoặc của người khác .......................................................... 30 2.2.3 Với trường hợp giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng..... ................................................................................................... 30 2.2.4 Với trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dẫn đến chết người ......................................................................... 33 2.2.5 Với trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ................................. 34 2.3 Trách nhiệm hình sự đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh .............................................................................................................. 36 2.3.1 Tình tiết định tội.................................................................................. 36 2.3.2 Hình phạt ............................................................................................ 43 2.3.2.1 Nguyên tắc xử lí ........................................................................ 43 2.3.2.2 Khung cơ bản ............................................................................ 44 2.3.2.3 Tình tiết giảm nhẹ định tội........................................................ 46 CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 3.1. Thực tiễn về hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 3.1.1 Thực tiễn trên cả nước....................................................................... 53 3.1.2. Thực tiễn ở Cần Thơ........................................................................... 59 3.2. Những bất cập và các giải pháp phòng chống tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh............................................................................ 60 3.2.1 Những bất cập ..................................................................................... 60 3.2.1.1 Trong việc xác định tội danh ...................................................... 61 3.2.1.1.1 Về vấn đề xác định trạng thái tinh thần của người phạm tội............................................................................................... 61 3.2.1.1.2 Về vấn đề lỗi của người bị hại liên quan đến việc xác định tội danh. ..................................................................................... 62 3.2.1.2 Trong lĩnh vực pháp luật ........................................................... 68 3.2.1.2.1 Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện.......................... 68 3.2.1.2.2 Vi phạm trong việc áp dụng pháp luật hình sự. ........ 69 3.2.1.2.3 Trình độ pháp luật, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công tác bảo vệ pháp luật chưa ngang tầm nhiệm vụ ................. 73 3.2.2 Giải pháp. ....................................................................................... 73 3.2.2.1 Trong việc xác định tội danh. ..................................................... 73 3.2.2.1.1 Giải pháp để xác định trạng thái tinh thần của người phạm tội .... ........................................................................................ 73 3.2.2.1.2 Giải pháp về xác định lỗi của người bị hại liên quan đến việc xác định tội danh. ................................................................ 74 3.2.2.2 Giải pháp trong lĩnh vực pháp luật. ............................................ 75 3.2.2.2.1 Hoàn thiện pháp luật hình sự..................................... 75 3.2.2.2.2 Trong việc áp dụng pháp luật hình sự. ...................... 77 3.2.2.2.3 Nâng cao trình độ và năng lực của cán bộ làm công tác bảo vệ pháp luật. .......................................................................... 78 Kết luận. ...................................................................................................... 81 Danh mục tài liệu tham khảo Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam MỞ ĐẦU  1. Lý do chọn đề tài Thực tiễn đấu tranh chống tội phạm cho thấy hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt nói riêng và trong hệ thống các biện pháp chế tài pháp luật nói chung. Có thể nói đây là một hình phạt đặc biệt không chỉ ở tính chất mà còn ở cả trình tự, thủ tục thi hành. Cũng chính vì vậy, từ lâu hình phạt tử hình, việc thi hành hình phạt tử hình là một vấn đề được đưa ra tranh luận không chỉ giới hạn trong các nhà hoạt động chính trị, các nhà luật học mà còn là đề tài hấp dẫn lôi cuốn nhiều đối tượng khác tham gia. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, …ở mỗi nước, đều có ảnh hưởng nhất định đối với việc quy định hình phạt tử hình và những vấn đề khác như cách thức áp dụng, trình tự thủ tục thi hành hình phạt tử hình…,thậm chí còn ảnh hưởng tới cả quan điểm, dư luận xã hội về việc bỏ hay giữ lại hình phạt này. Ở nước ta thực tiễn tổng kết về hoạt động thi hành hình phạt tử hình trong thời gian qua cho thấy, mặc dù pháp luật có những thay đổi theo hướng hạn chế các hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự nhưng mỗi năm vẫn có nhiều người bị Tòa án tuyên phạt tử hình và bị đưa ra thi hành. Mặc dù, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã rất nổ lực và thực hiện nhiều biện pháp nhằm hạn chế cơ sở, điều kiện phạm tội nhưng tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp. Việc áp dụng và thi hành hình phạt tử hình trong những năm qua nhìn chung có tác dụng trừng trị, răn đe, phòng ngừa, góp phần bảo vệ an ninh Quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, so với pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới, hình phạt tử hình ở Việt Nam vẫn còn mở rộng nhiều đối với nhiều tội phạm. Cơ chế tổ chức, trình tự, thủ tục, thi hành hình phạt tử hình đã từng bước được hoàn thiện nhưng vẫn còn những vướng mắc, bất cập, cần khẩn trương khắc phục như: Vấn đề tạm hoãn thi hành hình phạt tử hình, tình trạng các bản án tử hình chậm được thi hành có trường hợp kéo dài tới hàng tháng thậm chí đến nhiều năm liền nhưng vẫn chưa thi hành, hình thức thi hành hình phạt tử hình đang có nhiều tranh luận, gây khó khăn rất nhiều. Hình thức thi hành hình phạt tử hình bằng xử bắn đã có nhiều tiến bộ nhưng cũng gây không ít sự đau đớn đối với người bị kết án và cũng tạo ra một số ảnh hưởng tiêu cực về mặt tâm lý cho các cán bộ trực tiếp thi hành hình phạt tử hình…Cũng chính vì những vấn đề bất cập nói trên tạo cho tác giả muốn nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn vấn đề lý GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 1 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam luận và thực tiễn thi hành hình phạt tử hình trong pháp luật tố tụng Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung, nhằm chỉ ra những kinh nghiệm thành công cũng như chưa thành công trong thực tiễn công tác thi hành hình phạt tử hình. 2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài Luận văn chủ yếu xoáy quanh việc tìm hiểu về thực tiễn và lý luận trong thi hành hình phạt tử hình sự ở Việt Nam. Từ đó đề xuất ý kiến và phương hướng giải quyết của cơ quan quản lý nhà nước và ý kiến riêng của cá nhân để nhằm nâng cao hơn vai trò của thi hành hình phạt tử hình. Kịp thời điều chỉnh những hành vi sai trái, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho họ, phòng ngừa ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ an ninh Quốc gia, trật tự an toàn xã hội. 3. Phương pháp nghiên cứu đề tài  Phương pháp phân tích luật viết  Phương pháp thu thập số liệu  Phương pháp so sánh  Phươnng pháp thống kê  Phương pháp bình luận, tổng hợp, cọ sát thực tế 4. Phạm vi nghiên cứu đề tài Dựa trên cơ sở của pháp luật thực định và thực tiễn. Đề tài chủ yếu tập trung làm rõ vấn đề trong lý luận và thực tiễn thi hành án hình phạt tử hình trong tố tụng hình sự Việt Nam. Bên cạnh đó đề tài còn hướng đến những quy định của pháp luật hiện hành về lý luận và thực tiễn thi hành án hình phạt tử hình trong pháp luật Việt Nam cùng với việc mong muốn sớm ban hành Bộ luật thi hành án hình sự để thuận lợi hơn trong việc thi hành án hình phạt tử hình ở nước ta hiện nay. 5.Cơ cấu đề tài Ngoài những phần mở đầu và kết bài, luận văn còn có những phần quan trọng và chủ yếu sau đây: Chương I: Lý luận về việc thi hành hình phạt tử hình trong tố tụng hình sự Việt Nam. Chương II: Thi hành hình phạt tử hình theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành. Chương III: Thực tiễn và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về việc thi hành hình phạt tử hình trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay. GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 2 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam Đây là lần đầu tiên em thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học độc lập, mặt khác do trình độ kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định rất mong quý thầy cô, các bạn sinh viên đóng góp cho ý kiến để kiến thức của em được hoàn thiện hơn. Chân thành cảm ơn! GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 3 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ VIỆC THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1. Hình phạt tử hình 1.1.1. Khái niệm hình phạt tử hình Tử hình được coi là hình phạt đặc biệt và nghiêm trọng nhất trong hệ thống hình phạt và có lịch sử phát triển lâu đời trong quá trình phát triển của xã hội loài người, kể từ khi xã hội loài người phân chia giai cấp, có Nhà nước và pháp luật Khi mới ra đời hình phạt này đã được các giai cấp thống trị coi là một trong những chế tài hữu hiệu, cần thiết được áp dụng để trừng trị những kẽ chống đối, nhằm bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ lợi ích giai cấp và đấu tranh với các loại tội phạm để thiết lập trật tự xã hội. Xuất phát từ hoàn cảnh điều kiện cụ thể và yêu cầu đấu tranh bảo vệ chế độ chính trị và trừng trị những kẻ phạm trọng tội hình phạt tử hình được các quốc gia trên thế giới nhìn nhận, đánh giá dưới góc độ khác nhau. Do vậy, có những quan điểm không giống nhau về việc áp dụng hay không áp dụng hình phạt tử hình. Ở nước ta hình phạt tử hình ra đời từ rất sớm, bắt đầu từ thời Lý –Trần, cho đến Bộ luật cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam là Bộ luật Gia Long đều có quy định hình phạt tử hình. Đến nay, tử hình vẫn được quy định là một trong những hình phạt trong Bộ luật hình sự. Một vấn đề đặt ra là pháp luật hình sự nước ta từ trước đến nay không định nghĩa khái niệm hình phạt tử hình mà chỉ đưa ra một số dấu hiệu của nó trong một số quy phạm nhất định . Tại Điều 35 Bộ luật hình sự 1999 quy định “Tử hình là hình phạt đặt biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặt biệt nghiêm trọng” Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển sang tù chung thân. Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển sang tù chung thân” 1.1.2. Đặc điểm hình phạt tử hình Để hiểu sâu sắc về hình phạt tử hình, ta cần nghiên cứu các đặc điểm của hình phạt tử hình sau: GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 4 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam  Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất Trong hệ thống hình phạt, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, bởi vì hình phạt đó tước đoạt quyền sống của người phạm tội. Hình phạt tử hình chỉ có tác dụng trừng trị và phòng ngừa, mà không có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với người bị thi hành hình phạt tử hình. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là loại hình phạt này mâu thuẩn với nguyên tắc nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Ở đây cần thấy rằng, tính nhân đạo được thể hiện tập trung ở khía cạnh xã hội, tức là ở việc phòng ngừa, răn đe người khác phạm tội. Là loại hình phạt đặc biệt được áp dụng trong những trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, Bộ luật hình sự hiện hành của nước ta chẳng những quy định cụ thể các tội phạm mà Tòa án có thể áp dụng hình phạt tử, mà còn hạn chế đến mức tối đa khả năng áp dụng hình phạt này trong phạm vi những tội đặc biệt nghiêm trọng. Ngay cả khi có đủ điều kiện nói trên tử hình cũng không phải là hình phạt duy nhất, mà là khả năng cuối cùng, khi Tòa án xét thấy không thể áp dụng loại hình phạt khác được quy định trong chế tài vì tính chất đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm. Tính chất hạn chế của hình phạt tử hình còn thể hiện ở chổ, pháp luật nghiêm cấm áp dụng hình phạt này đối với người phạm tội chưa thành niên, phụ nữ có thai, người đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Hình phạt tử hình cũng không được thi hành đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển sang hình phạt tù chung thân.  Tử hình là hình phạt được quy định trong bộ luật hình sự. Cũng như hình phạt khác nói chung, hình phạt tử hình nói riêng chỉ được quy định trong Bộ luật hình sự. Điều này nói lên tính hợp pháp và tính pháp chế của loại hình phạt này. Điều 26 Bộ luật hình sự hiện hành quy định rõ: “Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự”. Hình phạt tử hình được quy định ở Điều 35 của Bộ luật hình sự 1999 với tư cách là hình phạt chính, ở phần các tội phạm, hình phạt tử hình được quy định cụ thể đối với từng loại tội phạm cụ thể. Trong bộ luật hình sự 1999. Hình phạt tử hình được quy định với các tội danh sau: Tội phản bội Tổ quốc (khoản 1 Điều 78), Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (khoản 1 Điều 79), Tội gián điệp (khoản 1 Điều 80), Tội bạo loạn (khoản 1 Điều 82), Tội hoạt động phỉ (khoản 1 Điều 83), Tội khủng bố (khoản 1 Điều 84), Tội phá hoại cơ sở vật chất –kỷ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoản 1Điều 85), Tội giết người (khoản 1 Điều GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 5 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam 93), Tội hiếp dâm (khoản 3 Điều 111), Tội hiếp dâm trẻ em (khoản 3 Điều 112), Tội cướp tài sản (khoản 4 Điều 133), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (khoản 4 Điều 139), Tội buôn lậu ( khoản 4 Điều 153); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (khoản 4, Điều 157); Tội làm tàng trử, vận chuyện, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Khoản 3, Điều 180); Tội sản xuất trái phép chất ma túy (khoản 4, Điều 193); Tội tàng trử, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt ma túy (khoản 4, Điều 194); Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (khoản 3, Điều 221); Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng của an ninh quốc gia (khoản 2, Điều 231); Tội tham ô tài sản (khoản 4, Điều 278); Tội nhận hối lộ (khoản 4, Điều 289); Tội chống mệnh lệnh (khoản 4, Điều 316); Tội đầu hàng địch (khoản 3, Điều 322); Tội hủy hoại vũ khí quân dụng , phương tiện kỹ thuật quân sự (khoản 4, Điều 334); Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 341); Tội chống loài người (Điều 342); Tội phạm chiến tranh (Điều 343). Thế nhưng hiện nay thì hình phạt tử hình ở nước ta được xóa bỏ ở một số tội danh theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 1999 như sau: Tội hiếp dâm (Điều 111); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); Tội buôn lậu (Điều 153); Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197); Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 221); Tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334).  Tử hình là hình phạt chỉ do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng Đặc điểm này được lấy ra từ dấu hiệu chung của hình phạt được quy định ở Điều 26 Bộ luật hình sự 1999 “ Hình phạt do Tòa án quyết định”. Có nghĩa là, quyết định hình phạt tử hình thuộc thẩm quyền đặc biệt của Tòa án chứ không phải của một cơ quan, tổ chức hay một người nào đó. Thẩm quyền đặc biệt này còn thể hiện ở chổ, ngoài việc Chủ tịch nước xét ân giảm theo quy định của pháp luật, thì không cơ quan, tổ chức cá nhân nào có thể miễn hình phạt tử hình do Tòa án tuyên.Việc miễn đó hoàn toàn thuộc vào thẩm quyền đặc biệt của Tòa án và khi tiến hành phải căn cứ vào quy định của pháp luật.  Hình phạt tử hình chỉ có thể được áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm. Điều 2 của Bộ luật hình sự 1999 quy định “ Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Theo nghĩa này, hình phạt tử hình được hiểu là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi phạm tội. Tức là trong trường hợp khi người nào đó thực hiện một tội phạm cụ GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 6 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam thể do Bộ luật hình sự quy định, thì Tòa án mới có thể quyết định hình phạt tử hình, hình phạt này chỉ được áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm. Do vậy hình phạt tử hình không thể áp dụng đối với thành viên trong gia đình cũng như với những người thân khác của người phạm tội, ngay cả trong trường hợp người phạm tội lẫn tránh hình phạt. Dấu hiệu này nói lên tính chất cá nhân và tính nhân đạo của hình phạt tử hình. Hình phạt tử hình với tính chất là biện pháp hình sự được Nhà nước sử dụng như một công cụ cần thiết, có hiệu quả để trừng trị và phòng ngừa việc phạm tội. Do đó hình phạt tử hình có nội dung trừng trị và phòng ngừa, đoạt quyền sống của người phạm tội. Việc người phạm tội và những người khác có nhận thức được hay không nội dung đó của hình phạt tử hình cũng không làm thay đổi nội dung của hình phạt tử hình, bởi đó là thuộc tính tất yếu, nội tại, khách quan của hình phạt tử hình. Tuy nhiên hình phạt tử hình có nội dung trừng trị không có nghĩa là nó đồng nghĩa với mục đích trừng trị. Ở đây, thuộc tính trừng trị của hình phạt tử hình hoàn toàn khác với mục đích trừng trị của hình phạt tử hình. Nội dung phòng ngừa của hình phạt tử hình thể hiện rõ ở chổ: Do hình phạt này tước đoạt tính mạng của người phạm tội, cho nên, người phạm tội không còn tồn tại và điều đó có nghĩa là phòng ngừa được việc phạm tội của người đó. Hơn nữa, hình phạt tử hình được áp dụng đối với những đối tượng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng, trong các vụ án dư luận đặc biệt quan tâm, do đó, tính xã hội và tính thông tin của hình phạt tử hình rất cao. Đặc điểm này của hình phạt tử hình không chỉ có ý nghĩa về việc giáo dục và răn đe đối với những đối tượng hình sự, những đối tượng xem thường pháp luật, mà còn có ý nghĩa tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật và tính phòng ngừa vi phạm pháp luật rất sâu sắc và hiệu quả rộng cộng đồng. Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm hình phạt tử hình như sau: “ Hình phạt tử hình là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt được Bộ luật hình sự quy định do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và được thể hiện ở việc tước đoạt quyền sống của người phạm tội”. 1.1.3. Bản chất của hình phạt tử hình Mỗi hình thái kinh tế -xã hội đều có một hệ thống hình phạt tương ứng. Bản chất, nội dung và vai trò của hình phạt, của hệ thống hình phạt nói chung, của hình phạt tử hình nói riêng đều do các điều kiện kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội hệ tư tưởng, đạo đức lối sống của hình thái kinh tế -xã hội đó quyết định. GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 7 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam Do đó, bản chất, nội dung, và vai trò của hình phạt nói chung, của hình phạt tử hình nói riêng luôn thay đổi tùy thuộc vào sự thay đổi của các hình thái kinh tế xã hội, vào sự thay đổi trong quan điểm, cách nhìn nhận và đánh giá của các giai cấp thống trị trong từng giai đoạn, điều kiện lịch sử cụ thể. Về bản chất, dù hình phạt tử hình tồn tại trong xã hội nào đi chăng nữa thì vẫn luôn phản ánh quan điểm của giai cấp thống trị về các biện pháp đấu tranh với tội phạm, nó bao giờ cũng xuất phát từ quan điểm thống trị cơ bản trong xã hội. Mặt khác, hình phạt tử hình do các điều kiện xã hội, các quyền và lợi ích kinh tế chính trị và các lợi ích khác của giai cấp thống trị quyết định và phải luôn phù hợp với các lợi ích của giai cấp đó. Về tính giai cấp, hình phạt tử hình là một trong những biện pháp cần thiết cuối cùng được giai cấp thống trị áp dụng để đấu tranh với những giai cấp chống đối, với những con người cụ thể bị hệ thống pháp luật đó coi là phạm tội. Tính giai cấp, ý nghĩa chính trị xã hội, vai trò của hình phạt tử hình, do chính Nhà nước thay mặt giai cấp đó quyết định. CMác đã chỉ ra tính giai cấp của hình phạt và coi hình phạt, trong đó có hình phạt tử hình, là một trong những công cụ của giai cấp thống trị được áp dụng để đấu tranh tội phạm. Tính giai cấp của hình phạt tử hình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp thống trị. Giai cấp nào, Nhà nước nào quy định và áp dụng hình phạt tử hình cũng vì quyền và lợi ích của giai cấp đó của Nhà nước đó. Trong xã hội ta, hình phạt tử hình được quy định và áp dụng nhằm bảo vệ lợi ích của nhân dân ta, của dân tộc ta, của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong các xã hội bóc lột trước đây, hình phạt tử hình được các giai cấp thống trị sử dụng như một trong những công cụ chính, cơ bản để đấu tranh với tội phạm nhằm trong xã hội chiếm hữu nô lệ, trong xã hội phong kiến và được thi hành dưới những hình thức rất tàn khốc. Ở xã hội phong kiến Việt Nam, Nhà nước phong kiến đã quy định và áp dụng hệ thống ngũ hình: Đánh bằng roi, băng gậy, tù khổ sai, đày và giết chết. Trong đó hình phạt tử hình được thi hành bằng những hình thức rất dã man như: Thắt cổ, chém đầu, chém Bêu đầu, thiêu trên lửa, bỏ vạc đầu, chặt chân tay, xẻo thịt làm cho chết dần … Trong xã hội Tư bản, ở thời kỳ đầu Nhà nước Tư sản sử dụng hình phạt tử hình được sử dụng hình phạt tử hình khá phổ biến để đấu tranh với tội phạm nhằm bảo vệ chế độ Tư bản chủ nghĩa, bảo vệ các nguyên tắc xử sự trong xã hội có lợi cho giai cấp tư sản. Khuynh hướng của việc sử dụng hình phạt tử hình trong thời kỳ đầu của Nhà nước Tư sản là trong những giai đoạn căng thẳng của cuộc đấu tranh giai cấp, do đó, hình phạt tử hình được mở rộng lĩnh GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 8 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam vực và phạm vi áp dụng trong sự kết hợp với các biện pháp đàn áp hành chính, quân sự đối với những lực lượng đối lập. Khác với các nhà nước bóc lột, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân, vì dân nên về bản chất và hình thức đấu tranh với tội phạm được tiến hành bằng nhiều cách và nhiều biện pháp khác nhau như: Kinh tế văn hóa, xã hội, tổ chức, giáo dục, pháp luật, đồng thời lôi cuốn rộng rãi mọi người vào việc bảo vệ trật tự pháp luật. Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội quan tâm đặc biệt đến việc phòng ngừa tội phạm. Các biện pháp kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ chức, giáo dục tư tưởng …, có ý nghĩa quyết định trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Cũng như các chế độ chính trị -xã hội khác, hiện nay ở Việt Nam, hình phạt tử hình cũng mang đậm tính giai cấp, nhưng hoàn toàn khác với tính giai cấp của hình phạt tử hình trong các xã hội bóc lột. Hình phạt tử hình được quy định và áp dụng để bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân ta, chế độ xã hội chủ nghĩa, vì chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ… và lợi ích của toàn thể nhân dân lao động. 1.2. Thi hành hình phạt tử hình 1.2.1. Khái niệm và bản chất về thi hành hình phạt tử hình Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 Điều 136 quy định “ các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật đã được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Đòi hỏi mang tính chất hiến định đó đã khẳng định hiệu lực thi hành của tất cả các phán quyết của Tòa án khi đã có hiệu lực pháp luật, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của vấn đề thi hành án nói chung và thi hành án hình sự nói riêng, trong đó có thi hành hình phạt tử hình . Việc thi hành hình phạt tử hình, cụ thể hơn là việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án không phải chỉ là vấn đề riêng liên quan đến một hoặc một số cá nhân hay một tổ chức nào đó mà trở thành vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lực Nhà nước, đến kĩ cương, phép nước đến trật tự pháp luật, tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật, đến uy tín của pháp luật, đến công lý và công bằng xã hội. Do đó, thi hành án có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện ở tầm Hiến pháp. Thi hành hình phạt tử hình là một trong những nội dung của thi hành án hình sự. Do vậy, để có cơ sở cho việc nhận thức đầy đủ về thi hành hình phạt tử hình cần làm rõ khái niệm thi hành án nói chung. GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 9 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam Hiện nay, trong khoa học pháp lý nước ta có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, bản chất của thi hành án hình sự. Có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự. Có thể cho rằng thi hành án hình sự là một hoạt động hành chính-tư pháp, có những nét đặc thù riêng khác với hoạt động tố tụng hình, nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với tố tụng hình sự. Việc xác định thi hành án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự hay là hoạt động hành chính-tư pháp có nghĩa là làm sáng tỏ bản chất của thi hành án hình sự. Thi hành án hình sự là hoạt động mang tính hành chính-tư pháp, có tính độc lập tương đối. Tính hành chính của hoạt động thi hành án hình sự thể hiện ở các đặc thù khác biệt với hoạt động tố tụng hình sự như sau: Nếu như trong tố tụng hình sự, tất cả hoạt động tố tụng được tiến hành đều nhằm bảo đảm cho Tòa án đưa ra phán quyết đúng đắn, thì thi hành án hình sự được tiến hành là nhằm thực thi các nội dung đã được Tòa án phán quyết; các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong thi hành án hình sự, về cơ bản mang tính chất hành chính. Tính tư pháp của hoạt động thi hành án hình sự được thể hiện ở chổ hoạt động thi hành án hình sự được tiến hành để thực hiện các phán quyết của Tòa án; là hoạt động có liên quan chặt chẽ với giai đoạn tố tụng diễn ra trước đó; một số quan hệ nảy sinh trong thi hành án hình sự mang tính chất tư pháp, do pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh. Từ việc phân tích trên cho thấy thi hành án hình sự là hoạt động có tính hành chính –tư pháp. Điều này phản ảnh rõ rệt mối quan hệ giữa quyền hành pháp với quyền tư pháp trong hoạt động thi hành án. Từ những điều trình bày trên có thể hiểu thi hành hình phạt tử hình là một dạng hoạt động mang tính hành chính –tư pháp được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo một trật tự do pháp luật quy định chặt chẽ cụ thể nhằm thực hiện nội dung bản án tử hình. Theo Dự thảo Bộ luật thi hành án hình sự cũng có định nghĩa về thi hành án hình phạt tử hình như sau: “Thi hành án tử hình là việc tước bỏ quyền sống của người bị kết án tử hình về tội đặc biệt trọng nhằm trừng trị người đó và giáo dục, phòng ngừa chung. (Điều 74 –Dự thảo luật thi hành án hình sự). GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 10 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam 1.2.2. Thi hành hình phạt tử hình qua các giai đoạn lịch sử pháp luật Việt Nam 1.2.2.1. Thi hành hình phạt tử hình qua các giai đoạn lịch sử pháp luật Việt Nam giai đoạn trước năm 1945 Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam thời phong kiến về thi hành hình phạt tử hình, có thể nhận xét như sau:  Ưu điểm:  Tư tưởng nhân đạo được thể hiện rõ nét trong các quy định của pháp luật thời kỳ phong kiến. Thời Nhà Lý vào thế kỷ XI Vua thường thực hiện đại xá vào những dịp Hoàng Hậu sinh con trai1.Đối với phụ nữ phạm tội, Luật cũng quy định hình phạt nhẹ hơn so với nam giới. Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ (dưới 100 ngày) thì được hoãn hành hình  Pháp luật thời phong kiến quy định không được thi hành án tử hình vào dịp lễ tết ..  Nhằm hạn chế những sai sót có thể xảy ra trong việc thi hành án tử hình, nâng cao vai trò trách nhiệm của những người thi hành án tử hình. Điều 662 của Quốc triều hình luật quy định: Tội nhân chưa hết hy vọng để gỡ tội mà giết tội nhân thì những người liên quan vào việc giết đều phải khép vào tội giết người.  Hạn chế: Mặc dù các Triều đại Lê, Nguyễn đã có quan theo dõi việc thi hành một số loại án nhất định như đồ, lưu, tử nhưng thủ tục thi hành án cũng chưa được quy định rõ ràng nên việc thi hành án trên thực tế phụ thuộc rất nhiều vào các quan lại xét xử. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho việc thi hành án trên thực tế nhiều khi tùy tiện thiếu khách quan.  Các hình phạt của Nhà nước phong kiến do các quan lại xét xử phần lớn được thi hành ngay. Nhiều trường hợp sau khi tuyên án chỉ bằng miệng là bản án được thi hành ngay tức thì. Việc thi hành cùng một loại hình phạt có nhiều hình thức khác nhau, không thống nhất. Chẳng hạn việc thi hành hình phạt tử hình có nhiều hình thức khác nhau như hỏa thiêu, bỏ vạc đầu, lăng chì, voi dày... Hình thức thi hành án không chỉ khác nhau ở mỗi giai đọan lịch sử mà ngay trong cùng một triều đại cũng có sự khác nhau2. Pháp luật quy định nhiều hình phạt dã man, tàn khốc nên khi thi hành gây ra cho phạm nhân sự đau đớn về thể chất và tinh thần. 1 2 Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nhà xuất bản.Khoa học và xã hội, Hà Nội, năm 1993 Bùi Xuân Đính, Tình hình tội phạm và việc áp dụng hình phạt dưới triều đại Nhà Nguyễn 1802-1858 GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 11 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam 1.2.2.2. Thi hành hình phạt tử hình qua các giai đoạn lịch sử pháp luật Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến Bộ luật tố tụng hình sự 1988 Có thể nói rằng do nhiều nguyên nhân mà cho đến nay, rất ít văn bản quy định về tổ chức thi hành hình phạt tử hình trong thời kỳ sau Nhà nước ta mới thành lập còn được lưu lại, vì vậy việc nghiên cứu về vấn đề này gặp nhiều khó khăn. Một vấn đề đáng chú ý là, tương tự như pháp luật hình sự về hình phạt tử hình, thời kỳ sau cách mạng tháng tám năm 1945 Nhà nước ta áp dụng nhiều quy định pháp luật được kế thừa từ thời điểm thực dân Pháp, do công tác xây dựng pháp luật của nước ta thời kì đầu còn nhiều hạn chế. Có thể cùng một vấn đề nhưng lại được điều chỉnh bởi đồng thời hai loại quy phạm mới và cũ. Về hình phạt tử hình, bên cạnh một số quy định của Nhà nước mới, các cơ quan tư pháp lúc đó vẫn còn áp dụng nhiều quy định pháp luật trước đó. Riêng đối với việc thi hành hình phạt tử hình, Nhà nước đã bỏ hình thức dùng máy chém và chuyển sang áp dụng hình thức xử bắn. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, chủ yếu là khu vực có chiến tranh hoặc khi cần thi hành bản án tử hình ngay trong lòng địch nhằm thực hiện nhiệm vụ diệt ác trừ gian, bản án tử hình có thể được thi hành bằng nhiều hình thức khác nhau, mà phổ biến nhất là dùng dao găm; có trường hợp dùng thuốc độc hoặc dùng mìn, lựu đạn, cung tên...Cán bộ thi hành án tử hình cũng rất khác nhau; không giao cho một lực lượng nào chuyên trách, mà tùy tình huống cụ thể để quyết định người thi hành và biện pháp thích hợp. Việc thi hành hình phạt tử hình được quy định trong các văn bản pháp luật sau đây:  Sắc lệnh số 150/SL ngày 12/4/1953 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập Tòa án nhân dân đặc biệt ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất:  Điều 4. Thành phần;Tòa án nhân dân đặc biệt huyện hoặc liên huyện gồm một Chánh án và 6 đến 10 thẩm phán. Một nữa số thẩm phán do Nông hội hoặc Hội nghị đại biểu nông dân ở huyện hoặc liên huyện cử ra. Khi xét xử thì lấy thêm đại biểu nông dân ở xã đó, nhưng số đại biểu lấy vào không được quá 1/3 tổng số thẩm phán.  Điều 5. Cách làm việc: Khi làm việc, Tòa án nhân dân đặc biệt dựa vào quần chúng nhân dân địa phương mà điều tra, thu thập chứng cứ xác thực và phải xét xử nhanh chóng. GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 12 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam  Điều 11. Quyền hạn.Tòa án nhân dân đặc biệt có quyền tuyên án: Xử tử hình  Nghị Định số 264-TT ngày 11/5/1953 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành các sắc lệnh số 149/SL, 150/SL ngày 12/4/1959 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về chính sách ruộng đất.  Thông tư số 561/TA ngày 5/12/1970 của Tòa án quân sự Trung ương hướng dẫn về việc thi hành án tử hình.  Chỉ thị số 138-KC1 ngày 13/2/1974 của Bộ Công an về việc thi hành án tử hình.  Chỉ thị số 07/TATC ngày 12/3/1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc thực hiện nhiệm vụ Tòa án nhân dân trong việc thi hành án tử hình  Chỉ thị số 31/CT ngày 17/5/1974 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án tử hình. Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, trong khi chưa có điều kiện để xây dựng Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự, Nhà nước đã ban hành một số văn bản quy định pháp luật đơn lẻ về việc thi hành hình phạt tử hình nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình lúc bấy giờ đó là:  Pháp lệnh số 115/LCT ngày 2/12/1978 Của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc xin ân giảm án tử hình và xét duyệt án tử hình gồm hai điều quy định về thời hạn xin ân giảm án tử hình và thẩm quyền duyệt án tử hình.  Thông tư Liên Bộ số 03//TTLB ngày 6/12/1982 của Tòa án nhân dân tối cao- Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ Nội vụ- Bộp tư pháp về việc thực hiện các quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 3/7/1981 đối với bản ản án tử hình. Ngoài hai văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nêu trên, Nhà nước còn ban hành nhiều văn bản có nội dung liên quan đến việc tổ chức hoạt động thi hành án tử hình như:  Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 03/7/1981, trong đó quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong việc thi hành án tử hình  Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 04/7/1981, trong đó quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc thi hành án tử hình Qua nghiên cứu pháp luật thời kỳ này cho thấy các quy định về thi hành hình phạt tử hình nằm rải rác ở các văn bản khác nhau, từ Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông Tư.... Nói chung các quy định này đề cập chưa đầy đủ, toàn diện, đặc biệt là thiếu thủ tục cụ thể về thi hành hình phạt tử hình. GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 13 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam 1.2.2.3. Thi hành hình phạt tử hình theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành ở Việt Nam Thi hành án tử hình hiện nay được Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 quy định rất chặt chẽ. Đặc biệt là được thể hiện rõ ràng nhất qua Điều 258 và Điều 259 của Bộ luật này. Bên cạnh đó vấn đề thi hành án tử hình còn được quy định trong Dự thảo Bộ luật thi hành án hình sự và một số văn bản khác có liên quan như: Nghị quyết số 02/2007 /NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ năm “thi hành bản án và quyết định của Tòa án” của Bộ luật tố tụng hình sự, Càng về sau thì pháp luật nước ta lại càng hoàn thiện hơn nữa về vấn đề thi hành án tử hình. Điều đặc biệt hiện nay là Dự thảo Bộ luật thi hành án hình sự cũng quy định rất chi tiết về vấn đề này và việc thi hành hình phạt tử hình cũng đang rất cần có một khung pháp lý riêng để được áp dụng một cách độc lập. 1.2.3. Đặc điểm của hoạt động thi hành án hình sự -hình phạt tử hình Thi hành án là một loại hoạt động có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, thi hành án hình sự là một dạng hoạt động của Nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, bảo đảm hiệu lực thực tế của các bản án, quyết định của Tòa án bằng các biện pháp pháp luật quy định. Hai là, thi hành án hình sự là một hoạt động phức tạp, đa dạng, từ việc thi hành các hình phạt chính như: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, và hình phạt cao nhất đó là tử hình đến các hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, hạn chế một số quyền công dân, tịch thu tài sản đến việc thực hiện các biện pháp tư pháp như tịch thu tang vật, tài vật liên quan đến tội phạm, buộc công khai xin lỗi, bắt buộc chữa bệnh, giáo dục người chưa thành niên tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng ...Theo đó mỗi loại hình phạt hay biện pháp tư pháp đều xuất phát từ mục đích của nó mà quyết định nội dung, phương pháp hình thức cũng như thời hạn thi hành. Có thể nói, thi hành án hình sự là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, có thể đình chỉ hoặc hạn chế nhất định những quyền và lợi ích vật chất tinh thần của người bị kết án, kể cả mạng sống của họ đó là thi hành hình phạt tử hình. Ba là, thi hành hình sự là buộc người bị kết án phải chấp hành các biện pháp tư pháp nhằm mục đích cải tạo, giáo dục họ trở thành người lương thiện, GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 14 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam nên các phương thức, hình thức, biện pháp tập trung tác động vào tư tưởng, cải tạo tư tưởng của người bị kết án với phương châm trừng trị, cải tạo kết hợp với giáo dục để họ hối cải, có ý thức tuân theo pháp luật, tuân theo các quy tắc đạo đức xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Bên cạnh đó còn nhằm răn đe, giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh và phòng chống tội phạm. Bốn là, thi hành hình sự được tiến hành theo trình tự do pháp luật quy định chặt chẽ cụ thể. Toàn bộ quá trình thi hành các loại bản án hình sự, các quyết định và các quan hệ liên quan đến việc thi hành án được quy định rõ ràng. Năm là, Căn cứ và nội dung của thi hành án hình sự chính là các nội dung cụ thể trong các phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Đây là đặc điểm thể hiện rõ nét nhất tính tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của thi hành án hình sự. Sáu là, thi hành hình sự mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án. Các cơ quan, tổ chức người có thẩm quyền, công dân trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án hình sự đạt hiệu quả cao hơn. Bảy là, theo quy định của pháp luật, dựa trên nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, thì chủ thể phải chấp hành án hình sự là cá nhân người bị kết án. Những người này cho dù đã chấp hành xong hình phạt phải chịu hậu quả pháp lý trong thời gian nhất định do luật định. Tám là, đối với thi hành hình phạt tử hình. Đây là hình phạt nghiêm khắc nhất vì nó tước đi quyền sống của người phạm tội. Bởi vậy pháp luật đã quy định riêng cho thi hành hình phạt tử hình các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, chặt chẽ. Việc thi hành hình phạt tử hình chỉ là quá trình mà Hội đồng thi hành hình phạt tử hình thực thi nhiệm vụ theo thủ tục trình tự nhất định. GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 15 SVTH: Lý Thị Nhiên Đề tài: Lý luận và thực tiễn về thi hành án tử hình trong Tố tụng hình sự Việt Nam CHƯƠNG II THI HÀNH HÌNH PHẠT TỬ HÌNH THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM 2.1. Cơ quan, tổ chức tham gia công tác thi hành hình phạt tử hình Tử hình là hình phạt đặc biệt được áp dụng với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên công tác thi hành hình phạt tử hình được tiến hành theo trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ với sự tham gia của nhiều ngành nhiều lực lượng khác nhau. Theo quy định tại Điều 258 và Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì việc thi hành hình phạt tử hình có sự tham gia của các cơ quan, lực lượng sau đây: 2.1.1. Tòa án nhân dân Là cơ quan có thẩm quyền xét xử và tuyên án tử hình đối với người phạm tội (Tòa án cấp tỉnh trở lên). Nếu bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị thì bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo có đơn kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị thì vụ án phải được xét xử theo thủ tục phúc thẩm và khi Tòa án phúc thẩm quyết định, bản án có hiệu lực thi hành. Theo quy định của pháp luật, sau khi bản án quyết định về hình sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định thi hành theo trình tự thủ tục chung. Tuy nhiên việc thi hành hình phạt tử hình phải tuân theo trình tự riêng. Theo quy định tại Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật hồ sơ vụ án phải được gởi lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, xác định việc xét xử có chính xác hay không?, có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không. Thời gian để Chánh án xem xét là hai tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án. Theo khoản 4 điều 25 luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, nếu người bị kết án tử hình có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải trình với Chủ tịch nước ý kiến của mình về đơn xin ân giảm của người đó. Trong giai đoạn thi hành hình phạt tử hình, Tòa án giữ vai trò quan trọng theo Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 “ Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình”. Như vậy, theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Tòa án có thẩm quyền quyết định hình phạt tử hình đối với người phạm tội, đồng thời tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình với vai trò là người tổ chức, chỉ đạo và giám sát quá trình thi hành hình phạt tử hình. GVHD: Nguyễn Chí Hiếu 16 SVTH: Lý Thị Nhiên
- Xem thêm -