Lý luận và thực tiễn áp dụng luật trách nhiệm bồi thường nhà nước

  • Số trang: 52 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 20 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT ****************************** LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHÓA 35 (2009 - 2013) Đề tài LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC GVHD: Huỳnh Thị Sinh Hiền Sinh viên thực hiện: Bộ môn Hành Chính Nguyễn Lệ Huyền MSSV 5095424 Cần Thơ, 5/2013 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC.................................................................................................................. 5 1.1. Khái Niệm trách nhiệm bồi thường nhà nước ................................................... 5 1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường nhà nước .................................................... 6 1.2.1. Về chủ thể gây thiệt hại ......................................................................................................... 7 1.2.2. Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường ......................................................................... 7 1.2.3. Về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường .................................................................... 8 1.3. Sự phát triển của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước qua các thời kỳ ......................................................................................................... 9 1.3.1. Trước khi có Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ............................................................................................................................ 9 1.3.2. Sau khi có Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội............................................................................................................ 11 CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC .......................................................................................................................... 15 2.1. Phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước ....................................................... 15 2.1.1. Trong hoạt động quản lý hành chính............................................................ 15 2.1.2. Trong hoạt động tố tụng ..................................................................................................... 17 2.1.3. Trong hoạt động thi hành án ............................................................................................. 19 2.2. Căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước................................ 22 2.3. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường................................................................ 24 2.3.1.Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính ...................................................................................................................................................... 24 2.3.2. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng ............................... 25 2.3.3. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án ....................... 25 2.4. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường ............................................................ 26 1 2.4.1. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường ................................................................................................................................................... 26 2.4.2. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án.......................................... 31 2.5. Thời hiệu yêu cầu bồi thường ........................................................................... 32 CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG VỀ VIỆC ÁP DỤNG LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC............................................................................ 33 3.1. Ưu điểm của việc áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước .................................................................................................................................. 33 3.2. Những vướng mắc của việc áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ................................................................................................................. 34 3.2.1. Điều kiện để thực hiện yêu cầu nhà nước bồi thường................................... 34 3.2.2. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường rườm rà, không hợp lý ...................... 35 3.2.3. Người dân khó khăn trong việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường ................................................................................................................................................... 37 3.2.4. Khó khăn trong việc xác định thiệt hại bồi thường........................................ 39 3.2.5. Sự né tránh trách nhiệm của các cơ quan có trách nhiệm bồi thường ............... 41 3.3. Một số kiến nghị để hoàn thiện việc áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước .............................................................................................. 43 3.3.1. Thay đổi điều kiện yêu cầu bồi thường nhà nước ..................................................... 43 3.3.2. Cần có quy định trong Luật để xử lý hành vi né tránh trách nhiệm bồi thường ................................................................................................................................................... 43 3.3.3. Thay đổi quy định của Luật về cách xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường ........................................................................................................................................... 44 3.3.4. Nâng cao trình độ, kỹ năng của cán bộ, công chức giải quyết yêu cầu bồi thường ........................................................................................................................................... 45 3.3.5. Nâng cao nhận thức của người dân về trách nhiệm bồi thường nhà nước ...................................................................................................................... 46 KẾT LUẬN................................................................................................................. 48 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 49 2 LỜI MỞ ĐẦU  1. Tính cấp thiết của đề tài Nhà nước là chủ thể duy nhất trong xã hội ban hành pháp luật. Nhà nước với tư cách là một chủ thể công quyền trong xã hội, được hình thành từ nhân dân và thực hiện quyền điều hành, quản lý xã hội trong đó có những nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi những quyền và lợi ích hợp pháp này bị xâm phạm. Mặc dù vậy, quyền lợi của người dân cũng có thể bị xâm phạm do hành vi trái pháp luật của Nhà nước gây ra. Tình trạng gây thiệt hại trong việc quản lý, trong khi thi hành công vụ của người thi hành công vụ, của cán bộ, công chức đã gây ra hậu quả cho các cá nhân, tổ chức, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm mất lòng tin của người dân đối với cơ quan nhà nước. Đây là vấn đề đang được sự quan tâm của nhiều người, và vì vậy Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước người dân, trong trường hợp làm thiệt hại cho người dân. Để giải quyết vấn đề này Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại do cán bộ, công chức Nhà nước gây ra. Tuy nhiên, những văn bản này không đạt được hiệu quả cao thậm chí còn gây bức xúc cho người bị thiệt hại khi có yêu cầu Nhà nước bồi thường. Bên cạnh đó, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường không làm hết trách nhiệm của mình để khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Một trong những văn bản có giá trị pháp lý cao, điều chỉnh khá bao quát nhiều vấn đề liên quan đến việc bồi thường Nhà nước đó là Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, luật này vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập gây phiền hà cho người bị thiệt hại khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình. Trong khi đó, mối quan hệ giữa nhà nước và người dân thì luôn diễn ra hàng ngày trên mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Điều này, cho thấy việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để tìm hiểu về tính khả thi của luật này trên thực tế là rất cần thiết và có ý nghĩa thiết thực trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của người bị thiệt hại. Xuất phát từ những lý do trên, người viết đã chọn đề tài “Lý luận và thực tiễn áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước” làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp. 3 2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường của nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại khi thực hiện yêu cầu nhà nước bồi thường, đặc biệt là đảm bảo quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường khách quan và công bằng. Bên cạnh đó, nâng cao uy tín của cơ quan Nhà nước đối với người dân, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về bồi thường, đảm bảo tính khả thi của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trên thực tế. 3. Phương pháp nghiên cứu Người viết sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, thống kê...để làm rõ vấn đề. Đồng thời kết hợp phương pháp phân tích, đánh giá số liệu thực tế để giúp hoàn thành đề tài nghiên cứu. 4. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Chương 2: Những quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về trách nhiệm bồi thường Nhà nước Chương 3: Thực tiễn áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện nay và một số kiến nghị 4 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC 1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường Nhà nước Để hiểu rõ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trước hết ta cần tìm hiểu về trách nhiệm pháp lý. Trong lĩnh vực pháp lý thuật ngữ trách nhiệm được sử dụng theo hai nghĩa. Theo nghĩa tích cực, trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ; nghĩa thứ hai, là hậu quả bất lợi. Trách nhiệm theo nghĩa thứ hai là phải gánh chịu hậu quả bất lợi vì đã vi phạm pháp luật. Trách nhiệm pháp lý chỉ có thể hiểu theo nghĩa thứ hai của trách nhiệm, đó là hậu quả bất lợi. Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật.1 Trách nhiệm pháp lý luôn là hậu quả pháp lý bất lợi với chủ thể phải gánh chịu thể hiện qua việc chủ thể phải chịu những sự thiệt hại nhất định về tài sản, nhân thân, tự do...mà phần chế tài của quy phạm pháp luật đã quy định. Đồng thời trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có vi phạm pháp luật hoặc có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp luật quy định. Trách nhiệm pháp lý có nhiều loại, thông thường chúng được chia thành: Trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm vật chất. Trong đó, Trách nhiệm dân sự được đặt ra nhằm giải quyết những tổn thất, sự suy giảm về lợi ích khi có thiệt hại xảy ra và giải pháp cụ thể để bảo vệ người bị thiệt hại là áp đặt trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ thể đã có hành vi gây hại. Trong đó, trách nhiệm dân sự là trách nhiệm của một người phải khắc phục những thiệt hại mà mình gây ra cho người khác. Trách nhiệm dân sự có thể là phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ dân sự; bồi thường thiệt hại; chấm dứt hành vi vi phạm hoặc xin lỗi, cải chính công khai đối với việc vi phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của người bị hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là phổ biến nhất trong các loại trách nhiệm dân sự. 1 Xem Trường Đại học luật Hà Nội, giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr.508. 5 Theo đó, trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại được hiểu là việc đền bù những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra. Vì vậy, bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại. Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là một trách nhiệm pháp lý nhằm khôi phục những tổn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần trong trường hợp cán bộ, công chức nhà nước có hành vi trái pháp luật trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại về vật chất hoặc tổn thất về tinh thần cho cá nhân, tổ chức bị gây thiệt hại. 1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường nhà nước Trách nhiệm bồi thường của nhà nước là trách nhiệm bồi thường của một chủ thể trong quan hệ pháp luật đặc biệt đó là Nhà nước . Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa cán bộ, công chức có hành vi trái pháp luật trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại và người bị thiệt hại là quan hệ pháp luật hành chính. Tức là nó hình thành giữa một bên chủ thể tham gia với tư cách chủ thể mang quyền lực nhà nước và một bên chủ thể không có quyền lực nhà nước. Theo đó, đây là mối quan hệ quyền uy, phục tùng và chịu sự điều chỉnh của pháp luật hành chính. Tuy nhiên, cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trách nhiệm bồi thường của nhà nước được quy định trên nguyên tắc và bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự. Việc xác định mức độ thiệt hại cũng như mức bồi thường đều mang bản chất của quan hệ dân sự, tức là bình đẳng và trên cơ sở thương lượng giữa bên bị thiệt hại và bên gây thiệt hại. Như vậy, bản chất của quan hệ giữa nhà nước và người bị thiệt là hại quan hệ hành chính, nhưng nếu cán bộ, công chức khi thi hành công vụ gây thiệt hại thì nhà nước phải bồi thường và việc giải quyết bồi thường phát sinh từ quan hệ hành chính này lại là bản chất dân sự. Trong trường hợp này, nhà nước đóng vai trò là một chủ thể dân sự, không mang quyền lực trong việc giải quyết bồi thường. Như đã nêu trên, trách nhiệm bồi thường của nhà nước với bản chất trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nên ngoài những đặc điểm riêng thì trách nhiệm bồi thường nhà nước cũng mang một số đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đó là, trách nhiệm bồi thường thiệt 6 hại chỉ đặt ra khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật và không tồn tại quan hệ hợp đồng giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại. Tuy nhiên, do trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phát sinh gắn liền với yếu tố thi hành công vụ của người gây thiệt hại nên trách nhiệm bồi thường của Nhà nước còn có những đặc điểm riêng như sau: 1.2.1. Về chủ thể gây thiệt hại Trong bồi thường của Nhà nước, chủ thể gây thiệt hại là người thi hành công vụ. Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án. 1.2.2. Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường Trong bồi thường của Nhà nước, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là Nhà nước mà không phải là trách nhiệm của cá nhân cán bộ, công chức hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mọi hành vi, quyết định của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ đều được xác định là hành vi, quyết định của Nhà nước. Nếu hành vi đó trái luật, gây thiệt hại thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nhưng nếu việc làm của cán bộ, công chức xảy ra không gắn với việc thi hành công vụ thì họ phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình, trường hợp này Nhà nước không phải bồi thường. Trong bồi thường của Nhà nước, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thay cho cán bộ, công chức khi họ thi hành công vụ đã gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức. Mục đích của bồi thường Nhà nước là đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho công dân nước mình. Tuy nhiên, cán bộ, công chức có hành vi trái pháp luật có nghĩa vụ hoàn trả tùy vào tính chất, mức độ thiệt hại gây ra mà số tiền hoàn trả sẽ được cơ quan có thẩm quyền quy định. Quy định trách nhiệm hoàn trả của cán bộ, công chức là do kinh phí chi trả cho việc bồi thường sẽ được lấy từ ngân sách của nhà nước. Nếu không quy định như vậy, người bị thiệt hại nhận được tiền bồi thường từ chính một phần tài sản của mình đóng góp vào ngân sách nhà nước. Do đó, luật mới quy định trách nhiệm hoàn trả của người gây thiệt hại khi thi hành công vụ, để góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện công vụ. 7 1.2.3. Về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường Để thực hiện yêu cầu bồi thường nhà nước người bị thiệt hại phải có văn bản, bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi gây ra thiệt hại của người thi hành công vụ là trái pháp luật; mặt khác hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại của người thi hành công vụ phải thuộc các trường hợp được bồi thường mà Luật quy định, tức là thuộc phạm vi bồi thường của nhà nước. Bên cạnh đó nhà nước chỉ bồi thường các thiệt hại được quy định trong luật, bao gồm các thiệt hại.2 - Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm ; - Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút ; - Thiệt hại do tổn thất về tinh thần ; - Thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết ; - Thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khoẻ ; - Quy định về trả lại tài sản trong trường hợp tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu ; - Quy định về khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự . Khi xác định thiệt hại để giải quyết bồi thường, chỉ áp dụng quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành mà không áp dụng Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự để xác định thiệt hại. Tóm lại, quan hệ giữa cán bộ, công chức khi thi hành công vụ gây thiệt hại với người bị thiệt hại sẽ là quan hệ hành chính, còn trong trường hợp giải quyết yêu cầu bồi thường thì quan hệ này mang bản chất dân sự. Nhà nước sẽ bình đẳng với người bị thiệt hại khi giải quyết bồi thường. Tuy nhiên, ở đây có thật sự bình đẳng và khách quan không khi mà bên gây thiệt hại là cơ quan nhà nước mang quyền lực nhà nước và cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan quản lý trực tiếp của người gây thiệt hại. 2 Xem Điều 45, 46, 47, 48, 49 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. 8 1.3. Sự phát triển của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước qua các thời kỳ 1.3.1. Trước khi có Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH113của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, các triều đại phong kiến thì Nhà nước không chịu trách nhiệm pháp lý nào đối với người dân. Vì đây là Nhà nước theo chế độ quân chủ chuyên chế, nhà vua là người có quyền lực tối cao và người dân phải phục tùng quyền lực đó. Đến thời kỳ pháp thuộc, nước ta bị chia cắt thành hai miền vừa chịu sự cai trị của chế độ phong kiến và chế độ thực dân nên trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng không được quy định. Năm 1945, Cách mạng Tháng 8 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, các quyền của công dân được xác lập và bảo đảm. Về chính trị, đó là nhà nước của dân, do dân,vì dân; về quan hệ pháp luật trong quan hệ dân sự với người dân (cá nhân, tổ chức) thì Nhà nước là một bên chủ thể bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng chưa được quy định như là một chế định trong pháp luật. Bắt đầu từ Hiến pháp năm 1959, quyền được bồi thường của người dân đã được ghi nhận tại Điều 29 như sau “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước. Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường”. Hiến pháp năm 1980, tiếp tục khẳng định quyền được bồi thường của người bị thiệt hại tại Điều 73 “công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó. Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng. Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh.Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường”. Nhằm tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tôn trọng tối cao các quyền công dân, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) tại 3 Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra. 9 Điều 72 quy định: “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” . Điều 74 quy định: “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự”. Bộ luật dân sự năm 1995 cũng có những quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức và người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Cụ thể, Điều 623 quy định về bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước gây ra “Cơ quan nhà nước phải bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm yêu cầu công chức, viên chức phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu công chức, viên chức có lỗi trong khi thi hành công vụ.” và Điều 624 quy định về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra “Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền đó có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ.” Việc ban hành Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về giải quyết bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là một bước tiến lớn trong việc hướng dẫn chi tiết, cụ thể và để triển khai thực hiện có hiệu quả Điều 623 và Điều 624 của Bộ luật dân sự năm 1995. Nghị định quy định: “Cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước hoặc người có thẩm quyền gây ra trong khi thi hành công vụ hoặc trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án” 4 và “Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng bồi thường cho mình thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra hoặc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, 4 Xem Điều 1 Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về giải quyết bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. 10 lợi ích hợp pháp của mình”.5 Nghị định cũng quy định trình tự, thủ tục giải quyết việc bồi thường thiệt hại và quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc bồi thường khi các bên không thoả thuận được với nhau về việc bồi thường. Sau khi cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng đã bồi thường cho người bị thiệt hại thì công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng phải hoàn trả khoản tiền mà cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng đã bồi thường. Nhìn chung, pháp luật về bồi thường nhà nước trong giai đoạn này còn phân tán, không có hệ thống và hiệu lực pháp lý của văn bản điều chỉnh trực tiếp có giá trị thấp. Những quy định trong Hiến pháp năm 1992 còn chung chung, chưa quy định trực tiếp về trách nhiệm bồi thường nhà nước. Bộ luật dân sự năm 1995 chỉ có hai điều quy định về trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng nhưng còn chung chung, chưa có cơ chế thực hiện cụ thể, Nghị định số 47/CP đã không tạo ra được sự bình đẳng thực sự về mặt pháp lý giữa người bị thiệt hại và cơ quan trực tiếp quản lý công chức đã có hành vi gây thiệt hại. 1.3.2. Sau khi có Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Những quy định về trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước trong Bộ luật dân sự 1995 cũng như Nghị định 47/CP không giải quyết thỏa đáng yêu cầu nhà nước bồi thường cho người bị thiệt hại, nhất là trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Bởi vì, số người bị oan do sự sai sót của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra ngày càng nhiều và tạo sự bức xúc cho người dân. Trước tình hình trên, Nghị quyết 388 được ban hành góp phần là cơ sở pháp lý quan trọng để cá nhân, tổ chức bị thiệt hại thực hiện yêu cầu nhà nước bồi thường và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Nghị quyết 388 đã xác định rõ hơn, cụ thể hơn các trường hợp được bồi thường thiệt hại, trường hợp không được bồi thường, cách xác định thiệt hại và mức bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nghị quyết có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo chất lượng hoạt động của cơ quan tố tụng, góp phần quan trọng trong quá trình cải cách tư pháp, đặc biệt là trong việc hoàn 5 Xem Điều 3 Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về giải quyết bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. 11 thiện các quy định của pháp luật về bồi thường. Đồng thời thể hiện quan điểm, trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tuân thủ pháp luật của người tiến hành tố tụng hình sự. Nhìn từ góc độ lý luận, việc bồi thường phải được quy định trong tất cả hoạt động của cơ quan nhà nước. Nhưng trên thực tế, kể từ khi Nghị quyết có hiệu lực, thì trách nhiệm bồi thường nhà nước mới bắt đầu thực hiện và cũng mới chỉ áp dụng với các trường hợp bị oan trong tố tụng hình sự, chưa có sự điều chỉnh với trường hợp sai. Điều đó là không hợp lý vì mọi hành vi, quyết định của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ dù đúng hay sai cũng được coi là hành vi, quyết định của cơ quan nhà nước. Nếu hành vi đó trái luật, gây thiệt hại, Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường. Bộ luật dân sự năm 2005 tiếp tục kế thừa các quy định về bồi thường thiệt hại của Bộ luật dân sự năm 1995. Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng quy định tại Điều 619 về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra. Theo đó, cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ. Còn về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra thì “cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ”.6 Như vậy, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định cụ thể hơn cơ quan có trách nhiệm bồi thường đó là cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức. Đồng thời, việc bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra được mở rộng bồi thường trong cả quá trình tố tụng, Bộ luật dân sự năm 1995 quy định bồi thường thường do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Tuy nhiên, cả hai Bộ luật điều quy định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành nhiệm vụ có lỗi gây thiệt hại. 6 Điều 619 và 620 Bộ luật dân sự năm 2005. 12 Như vậy, Bộ luật dân sự năm 2005 cũng chỉ quy định giới hạn việc bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực hành chính và tố tụng. Trách nhiệm bồi thường trong tố tụng và hành chính đước ghi nhận là do tình hình trên thực tế hành vi của những cán bộ, công chức đã gây thiệt hại cho người dân và cơ quan có trách nhiệm phải bồi thường. Có thể khẳng định rằng quyền được bồi thường và trách nhiệm bồi thường nhà nước được ghi nhận từ rất sớm trong pháp luật của Nhà nước ta. Tuy nhiên,pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở giai đoạn này vẫn còn phân tán, hiệu lực pháp lý thấp và thiếu tính khả thi. Trên thực tiễn thi hành còn nhiều bất cập, người bị thiệt hại chưa được bù đắp, phục hồi quyền lợi, gây bức xúc trong nhân dân. Các cơ quan Nhà nước ở các cấp chưa thực sự quan tâm đến việc thực hiện chính sách bồi thường khi cán bộ, công chức gây thiệt hại trong khi đang thi hành công vụ. Cơ quan quản lý Nhà nước về bồi thường của Nhà nước, cơ quan có trách nhiệm bồi thường chưa được xác định hoặc có nhưng quản lý nhà nước về công tác này rất hạn chế. Trước những quy định riêng lẻ về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, làm cho hiệu lực pháp lý không cao và thiếu tính khả thi. Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được ban hành và có hiệu lực ngày 01/01/2010. Có thể nói, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là văn bản đầu tiên ở tầm văn bản Luật quy định tương đối đầy đủ và toàn diện về các vấn đề có liên quan về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Luật này được ban hành là một sự kiện quan trọng có ý nghĩa trong việc khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Đồng thời nâng cao ý thức thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay. Như vậy, qua những gì đã phân tích trên thì ta có thể hiểu rằng trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một trách nhiệm pháp lý với chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật là Nhà nước. Đồng thời, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã được ghi nhận rất sớm trong quy định của pháp luật Việt Nam và hiện nay đã được nhất thể hóa thành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Các hoạt động nhà nước thường liên quan đến ba lĩnh vực là lập pháp, hành pháp và tư pháp, vì thế sự sai sót của công chức nhà nước cũng xảy ra trong cả ba lĩnh vực nói trên. Tuy nhiên, vấn đề bồi thường của nhà nước cho các tổ chức và cá nhân bị thiệt hại do việc làm sai trái của cơ quan, công chức nhà nước không 13 phải khi nào cũng được đặt ra và cũng thực hiện được trên thực tế. Do đó, trong chương 2, người viết dựa trên những quy định của pháp luật để làm rõ phạm vi bồi thường nhà nước; căn cứ làm phát sinh bồi thường; cơ quan có trách nhiệm bồi thường và trình tự thực hiện yêu cầu bồi thường. 14 CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC Nhìn từ góc độ lý luận, việc bồi thường phải được quy định trong tất cả hoạt động của cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp). Tuy nhiên, phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước chỉ bao gồm: hoạt động quản lý hành chính; hoạt động tố tụng (tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính) và hoạt động liên quan đến thi hành án. Xét về phạm vi bồi thường nhà nước như đã nêu, phạm vi bồi thường nhà nước không điều chỉnh trong hoạt động lập pháp. Điều này được lý giải bởi rất nhiều lý do. Vì những sai trái trong hoạt động lập pháp gây thiệt hại cho cả cộng đồng chứ không chỉ cho những cá nhân hay tổ chức cụ thể hay là những thiệt hại do sai lầm về hoạch định chính sách, về xây dựng pháp luật gây ra thường quá lớn, nhiều khi không thể xác định được, nên việc bồi thường trên thực tế là không có tính khả thi. Tuy vậy, việc loại bỏ hoàn toàn các hoạt động trong lĩnh vực lập pháp ra khỏi trách nhiệm bồi thường thì phạm vi bồi thường nhà nước sẽ bị thu hẹp phạm vi so với tình hình thực tế. Bởi trên thực tế một số cơ quan chính quyền địa phương, những người có chức vụ, quyền hạn trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thi hành các văn bản luật đã có những hành vi sai trái ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật gây thiệt hại rất lớn đến tài sản của người dân. Theo Điều 1 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. 2.1. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2.1.1. Trong hoạt động quản lý hành chính Hoạt động quản lý hành chính là hoạt động có phạm vi rất rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động trong xã hội, liên quan đến quyền và lợi ích cơ bản của cá nhân, tổ chức. Các loại quyết định hành chính, hành vi hành chính rất đa dạng, phong phú và phức tạp. Với đặc thù này, bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính được xác định là một hoạt động trọng tâm trong công tác bồi thường của Nhà nước. Trên tinh thần đó, khi xây dựng quy định về phạm vi thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã liệt kê cụ thể từng 15 trường hợp mà Nhà nước có trách nhiệm bồi thường. Cụ thể bao gồm các trường hợp sau đây:7 - Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; - Áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính; - Áp dụng biện pháp tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác; - Áp dụng xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc cơ sở chữa bệnh; - Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư,giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép; - Áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiến sử dụng đất; - Áp dụng thủ tục hải quan; - Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; - Ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; - Cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ; - Không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện; - Các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định. Với những hành vi được liệt kê trên, Nhà nước sẽ có trách nhiệm bồi thường khi cán bộ, công chức thi hành công vụ gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức. Đồng thời, với quy định mở sau khi liệt kê cụ thể các trường hợp, đó là quy 7 Xem Điều 13 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. 16 định về các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định. Quy định này đã thể hiện sự tôn trọng, trách nhiệm của Nhà nước đối với việc bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, việc bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư đã được quy định trong Luật Đất đai và về bản chất không phải là bồi thường nhà nước theo Luật này. Ở đây, có lẽ đang có sự nhầm lẫn giữa việc bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất, giải phóng mặt bằng theo quy định của pháp luật đất đai và trách nhiệm bồi thường nhà nước do các vi phạm từ phía Nhà nước trong quá trình thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức. 2.1.2. Trong hoạt động tố tụng Hoạt động tố tụng sẽ có tố tụng hình sự, tố tụng hành chính và tố tụng dân sự. Như vậy, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự gồm các trường hợp sau đây: 8 - Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. - Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội - Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội. - Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội . - Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình. 8 Xem Điều 26 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. 17 - Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Toà án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội. - Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì được bồi thường. Bên cạnh đó, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng quy định thêm các trường hợp không được bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Đó là các trường hợp: 9 - Người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. - Cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm. - Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án hoặc Toà án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội. - Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm. - Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Nhà nước không bồi thường trong các trường hợp này có thể hiểu rằng, người được miễn trách nhiệm hình sự là người có hành vi phạm tội nhưng được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự trong những trường hợp nhất định chứ không phải người không phạm tội. Cũng như người bị khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì do người bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố nên đình chỉ vụ án hay do 9 Xem Điều 27 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. 18 người bị tạm giữ cố tình làm sai, hoặc đánh lạc hướng điều tra dẫn đến việc họ bị tạm giữ. Có thể thấy, các trường hợp nêu trên không phải do lỗi của người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, họ đã làm đúng theo quy định của pháp luật và trong những trường hợp này, thiệt hại không do cơ quan nhà nước gây ra. Do đó, Nhà nước sẽ không có trách nhiệm bồi thường trong những trường hợp này. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động tố tụng hành chính, tố tụng dân sự gồm các trường hợp sau đây: 10 - Tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; - Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu; - Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức; - Ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án Theo quy định của Điều 99 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Điều 60 Luật tố tụng hành chính 2010 thì có thể hiểu rằng, khi có yêu cầu của đương sự thì Tòa án mới có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo đảm việc thi hành án hoặc trong trường hợp tình thế khẩn cấp. Do đó, Tòa án không thể tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hay áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu vì những hành vi trên không thuộc thẩm quyền của Tòa án và khi gây thiệt hại thì Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp phải bồi thường cho người bị thiệt hại. 2.1.3. Trong hoạt động thi hành án Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động thi hành án dân sự gồm các trường hợp sau đây:11 - Ra hoặc cố ý không ra quyết định: Thi hành án; thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; cưỡng 10 11 Xem Điều 28 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. Xem Điều 38 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. 19
- Xem thêm -