Luavan_cxet8_20130729102316_3074_7g0b

  • Số trang: 114 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 31 |
  • Lượt tải: 0
e-lyly

Đã đăng 5277 tài liệu

Mô tả:

Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong điều kiện hiện nay ở nước ta nói chung, tỉnh Thanh Hoá nói riêng, khả năng nguồn vốn còn hạn hẹp, nhu cầu công ăn việc làm là rất cấp bách. Nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng về nông - lâm - ngư nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế hình thành các vùng tập trung chuyên canh, đưa công nghệ sinh học và các phương pháp tiên tiến vào nông nghiệp, đảm bảo vững chắc nhu cầu lương thực, thực phẩm cho cả thành thị và nông thôn, tạo nguồn nguyên liệu có khối lượng lớn, chất lượng cao, giá thành hạ…góp phần tăng trưởng phát triển kinh tế nói chung và nông thôn nói riêng đang là vấn đề bức xúc. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thực hiện tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững cần có vốn. ở nước ta theo các đánh giá của một số chuyên gia kinh tế, vốn đóng góp khoảng 60-70% mức tăng trưởng, còn lại 30-40% là các yếu tố khác. Vì vậy vốn là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển, là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là khu vực nông nghiệp, nông thôn. Trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá hiện nay khu vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 75% dân số và hơn 70% lao động xã hội tập trung ở địa bàn nông thôn. Để phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn, chính sách tín dụng Ngân hàng đã được đổi mới đồng bộ và hữu hiệu. Một trong những chủ trương chính sách đổi mới quan trọng về tín dụng ở khu vực nông thôn là: “Chủ trương thí điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân”. Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân nói chung và quỹ tín dụng cơ sở nói riêng đã khai thác nguồn vốn tại chỗ, đáp ứng trực tiếp, kịp thời cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống nhân dân và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, từ thực tế cho thấy tình trạng khu vực nông nghiệp, nông thôn vẫn thiếu vốn sản xuất kinh doanh; nạn cho vay nặng lãi, đáp ứng nhu cầu vốn chưa kịp thời. Việc huy động vốn và cho vay tín dụng tại các quỹ tín dụng nhân dân vừa trực tiếp góp phần khắc phục tình hình thực tế trên, vừa góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên điạ bàn tỉnh Thanh Hoá càng trở nên quan trọng, bức xúc. Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: ”Huy động vốn và cho vay tín dụng tại quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá” làm luận văn tốt nghiệp cao học thực sự có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) với tư cách một loại hình tổ chức tín dụng hợp tác xã kiểu mới, đến nay, xét về mặt pháp lý đã được hơn 10 năm. QTDND đã được cơ quan hữu quan và nhiều người dân quan tâm dưới góc độ khác nhau. * Về mặt cơ sở pháp lý ra đời, tổ chức và hoạt động của QTDND: - Pháp lệnh số 38-HĐBT ngày 23/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ): Về tổ chức ngân hàng, HTX, công ty tài chính. - Nghị định số 178 ngày 29/12/1999 của Chính phủ: Về đảm bảo tiền vay của tổ chức tín dụng. - Quyết định số 67-CP ngày 30/3/1999 của Chính phủ: về chính sách cho vay phục vụ phát triển đất nông nghiệp, nông thôn. - Chỉ thị 57-CT/TW ngày 10/10/2000 của Bộ chính trị: Về củng cố, hoàn thiện và phát triển QTDND. - Quyết định số 135/2000-QĐ/TTg ngày 21/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ: Về phê duyệt đề án củng cố, hoàn thiện và phát triển QTDND. * Một số nghiên cứu của các tác giả: - Nguyễn Khải (2000), Một số đánh giá về hoạt động của QTDND cơ sở, Tạp chí Thị trường tài chính - Tiền tệ, số 9. - Nguyễn Nghĩa (1998), Lý thuyết và thực tiễn vận hành hệ thống QTDND Việt Nam, Tạp chí Thị trường tài chính - Tiền tệ, số 8. - Nguyễn Ngọc Oánh (1999), Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện mô hình QTDND theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và luật Hợp tác xã, Tạp chí Ngân hàng, số 10. - Lê Phi Phu (1998), Bàn về cấu trúc và chức năng, nhiệm vụ của liên minh QTDND Việt Nam, Tạp chí Thị trường tài chính - Tiền tệ, số 7. - Phạm Quang Vinh (2002), Mô hình hợp tác xã tín dụng kiểu mới và tính liên kết hệ thống, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 290. - Lê Xuân Đào (2007), Hoàn thiện quản lý QTDND trên địa bàn tỉnh Kon Tum, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Những quy định pháp lý và nghiên cứu trên đây đề cập một số nội dung về mô hình tổ chức và vận hành QTDND, chưa đề cập nhiều về huy động vốn và cho vay tín dụng QTDND cơ sở. Trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá chưa có công trình nghiên cứu nào về đề tài được tác giả lựa chọn trên đây. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn * Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài làm rõ huy động vốn và cho vay tín dụng tại các QTDND cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. * Đề tài có các nhiệm vụ chủ yếu sau: - Làm rõ nội dung cơ bản về huy động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở, ý nghĩa đối với phát triển kinh tế - xã hội, chủ yếu khu vực nông nghiệp, nông thôn. - Phân tích thực trạng huy động vốn và cho vay tín dụng của QTDND cơ sở đối với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. - Đề xuất một số giải pháp tăng cường huy động vốn và cho vay tín dụng tại các QTDND cơ sở một cách hiệu quả góp phần phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. 4. Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu của đề tài * Đối tượng nghiên cứu: Huy động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở. * Phạm vi nghiên cứu: + Về nội dung: Tập trung nghiên cứu lý luận, thực trạng và những giải pháp về huy động vốn và cho vay tín dụng tại các QTDND cơ sở đối với phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh, chủ yếu ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. + Về không gian: Địa bàn tỉnh Thanh Hoá + Về thời gian: Khảo sát, đánh giá thực tế huy động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở trên địa bàn từ năm 1995 trở lại đây. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Đề tài thực hiện trên cơ sở điều tra, khảo sát thực tế, thu thập tài liệu về hoạt động của 40 QTDND cơ sở trên địa bàn; sự chỉ đạo quản lý của Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan hữu quan. - Thực hiện theo phương pháp thống kê, phương pháp dự báo, phương pháp so sánh, phân tích và các phương pháp khác theo phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. 6. Đóng góp về mặt khoa học của luận văn * Về lý luận: Đề tài khái quát, hệ thống hoá nhứng căn cứ lý luận, thực tiễn về huy động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. * Về Thực tiễn: Đề tài góp phần đưa ra các giải pháp tăng cường huy động vốn và cho vay tín dụng tại QTDND cơ sở nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. * Là một tài liệu tham khảo bổ ích đối với cơ quan hữu quan và những người quan tâm đối với hoạt động của QTDND cơ sở. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành 3 chương, 7 tiết. Chương 1 Những nội dung chủ yếu về huy động vốn và cho vay tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh 1.1. Khái quát và hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh 1.1.1. Khái quát về Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở * Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở QTDND cơ sở là tổ chức tín dụng hợp tác, do các thành viên trong địa bàn tình nguyện thành lập và hoạt động.ở Việt Nam, theo quy định của nghị định 48/2001/NĐ - CP ngày 13/08/2001 của Chính phủ, QTDND có mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên. Nội dung của nghị định 48/2001/NĐ-CP nêu rõ: “QTDND là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của QTDND cơ sở là phải đảm bảo bủ đắp chi phí và có tích luỹ để phát triển” [9]. * Bản chất của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở QTDND cơ sở là một tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, với mục tiêu là tương trợ giữa các thành viên. QTDND cơ sở là một hình thức tổ chức kinh tế, một bộ phận của thành phần kinh tế Tập thể trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần kinh tế. Nó được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động. Nói cách khác, đó là một tổ chức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực tín dụng. * Đặc điểm của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở - QTDND cơ sở được xây dựng tại địa bàn xã, phường, liên xã, liên phường, cụm kinh tế có đủ điều kiện, là một tổ chức không chỉ về kinh tế mà còn là tổ chức xã hội gồm những người trên cùng địa bàn, có cùng tập quán, quan hệ làng xóm gần gũi, huyết tộc, dòng họ, tự trọng cao. Mỗi quỹ là một đơn vị hạch toán độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, là nơi trực tiếp giao dịch với khách hàng và thành viên. - QTDND cơ sở là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động với mục tiêu hỗ trợ thành viên về các dịch vụ tín dụng, ngân hàng. Điều đó được hiểu rằng, QTDND cơ sở không phải là tổ chức hoạt động vì mục đích tương thân, tương ái mà chỉ là phương tiện của các thành viên để hỗ trợ họ trong các lĩnh vực như huy động, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác. Đây là mục tiêu chủ yếu của QTDND cơ sở và là điểm khác biệt nhất giữa QTDND cơ sở dưới tư cách pháp nhân hợp tác xã với các tổ chức tín dụng khác. QTDND cơ sở không theo đuổi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận như các tổ chức tín dụng khác mà mục tiêu của họ là tối đa hoá lợi ích thành viên. Mặt khác chủ sở hữu, cổ đông hay thành viên của các tổ chức tín dụng hoặc các ngân hàng khác thành lập doanh nghiệp trước tiên là để tìm cách thu về lợi nhuận tối đa cho họ thì QTDND cơ sở được các thành viên xây dựng để trước tiên cung cấp dịch vụ tín dụng, ngân hàng chứ không phải trước tiên là tìm cách thu nhiều cổ tức, mặc dù họ cũng là chủ sở hữu. Điều này thể hiện ở việc thoả mãn đồng thời nhưng trước hết là các nhu cầu của thành viên với tư cách là khách hàng, người sử dụng các dịch vụ của QTDND cơ sở và sau đó mới đến nhu cầu của thành viên với tư cách là chủ sở hữu, người góp vốn xây dựng QTDND cơ sở. - QTDND cơ sở, để thực hiện được mục tiêu trên, phải tạo ra được các dịch vụ tín dụng, ngân hàng, đáp ứng được các dịch vụ này cho các thành viên và đảm bảo được hoạt động lâu dài. Muốn thực hiện được điều đó, QTDND cơ sở cần định hướng thực hiện đồng thời ba mục tiêu: hoạt động phải luôn đảm bảo khả năng chi trả, an toàn và phải sinh lời. Các mục tiêu này gắn kết chặt chẽ, có quan hệ khăng khít với nhau, hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau. Cho rằng QTDND cơ sở hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận là chưa thoả đáng mà là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận tối đa. Lợi nhuận không phải là tất cả, không phải là mục tiêu cuối cùng của QTDND cơ sở nhưng nó lại là phương tiện để QTDND cơ sở đạt được mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ thành viên, vì thế QTDND cơ sở phải kinh doanh, phải tự hạch toán để đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ. - Quản lý và điều hành hoạt động của QTDND cơ sở phải tuân theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, các thành viên được tham gia quản lý, dân chủ bàn bạc, đóng góp ý kiến để xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động, chiến lược phát triển và các quyết định cụ thể phù hợp với thực tế của đơn vị mình. Hơn nữa phần lớn thành viên của QTDND cơ sở vừa là người gửi tiền, lại vừa là người đi vay tiền nên việc quyết định về chênh lệch lãi suất cũng phải rất hợp lý, đảm bảo hài hoà lợi ích của thành viên, bù đắp được chi phí và có tích luỹ. Vì vậy các chi phí dịch vụ của QTDND cơ sở tiết kiệm hơn, ít rủi ro hơn. - Cán bộ của QTDND cơ sở là những người ở tại địa phương hoạt động tại chỗ, đã quen với phong tục tập quán, hiểu rõ về khách hàng, thành viên nắm bắt nhanh được chủ trương, chính sách đầu tư phát triển kinh tế tại địa phương đó nên thuận lợi hơn nhiều so với các tổ chức tín dụng khác trên cùng địa bàn. 1.1.2. Mô hình tổ chức, mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 1.1.2.1. Mô hình tổ chức quỹ tín dụng nhân dân, chức năng, nhiệm vụ của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Việc hình thành mô hình QTDND cơ sở phải được điều chỉnh theo pháp lệnh “ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính” đồng thời xây dựng mô hình này so với các Hợp tác xã tín dụng trước đây có điểm khác biệt nổi trội là hoạt động kinh doanh của các QTDND cơ sở được cấu thành một hệ thống liên kết chặt chẽ QTDND cơ sở qua cấp trung gian là Quỹ tín dụng khu vực (trước đây) đến QTDND Trung ương. Những năm gần đây, ở Việt Nam đưa ra ý tưởng đề án thí điểm đặt ra một tổ chức liên kết (Hiệp hội) giống như ở các nước phát triển: Canada, Cộng hoà liên bang Đức, Pháp. Do vậy ban chỉ đạo thí điểm thành lập QTDND đã trình chính phủ mô hình hệ thống QTDND theo hai phương án. * Phương án 1: Hệ thống QTDND thành lập ba cấp, gồm QTDND cơ sở ở xã, phường, QTDND khu vực ở các tỉnh, thành phố và QTDND Trung ương. * Phương án 2: Hệ thống QTDND thành lập hai cấp, gồm QTDND cơ sở và QTDND Trung ương. Thực hiện phương án này QTDND Trung ương có thể mở chi nhánh tại một số khu vực để giao dịch với QTDND cơ sở [25, tr.15]. Sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai phương án một đề án thí điểm thành lập QTDND, Thống đốc NHNN đã ban hành quy chế tổ chức và hoạt động QTDND cơ sở, điều lệ mẫu QTDND cơ sở, quy chế hoạt động của hệ thống QTDND. Mô hình tổ chức QTDND, chức năng, nhiệm vụ của QTDND cơ sở như sau: - Thứ nhất: Mô hình tổ chức hệ thống QTDND. Từ khi thí điểm thành lập QTDND đến tháng 06 năm 2001 mô hình hoạt động QTDND gồm 03 cấp: Đó là QTDND Trung ương, QTDND khu vực và QTDND cơ sở: Mô hình như sau: QUỸ TÍN DỤNG NHÂ N DÂ N TRUNG ƯƠNG QUỸ TÍN DỤNG NHÂ N DÂ N KHU VỰC QUỸ TÍN DỤNG NHÂ N DÂ N CƠ SỞ CÁ C THÀ NH VIÊN QTDND Sơ đồ 1.1: Mô hình Tổ chức hệ thống QTDND + Một là, QTDND cơ sở Là một pháp nhân, hạch toán độc lập, được xây dựng trên địa bàn xã, phường, thị trấn, liên xã, liên phường, cụm kinh tế có đủ điều kiện, là nơi trực tiếp giao dịch với thành viên và khách hàng. Thành viên tự nguyện góp vốn và gia nhập QTDND cơ sở. Khi QTDND cơ sở góp đủ vốn cổ phần theo quy định được trở thành thành viên của QTDND khu vực, được hưởng mọi quyền lợi và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với QTDND khu vực. + Hai là, Quỹ tín dụng nhân dân khu vực: Được hình thành theo địa bàn tỉnh, thành phố, hoặc theo vùng kinh tế, thành viên của QTDND khu vực là các QTDND cơ sở trong địa bàn. QTDND khu vực cũng là một đơn vị kinh tế, hạch toán độc lập, là nơi điều hoà nguồn vốn giữa QTDND Trung ương và QTDND cơ sở. Từ tháng 06 năm 2001 QTDND khu vực được chuyển thành chi nhánh QTDND trực thuộc QTDND Trung ương. + Ba là, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương: Là một tổ chức tín dụng cổ phần hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, vốn điều lệ của QTDND Trung ương do các thành viên là QTDND cơ sở góp (trước đây là QTDND khu vực); các doanh nghiệp Nhà nước, các Ngân hàng thương mại quốc doanh, và Nhà nước. QTDND Trung ương là tổ chức đầu mối, tương trợ và cung ứng nguồn vốn cho các QTDND cơ sở hoạt động [12]. - Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ của QTDND cơ sở. QTDND cơ sở có hai chức năng cơ bản: + Một là, Thực hiện chức năng huy động vốn. Điều 20 chương 1 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng theo luật nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống, khai thác và sử dụng vốn đáp ứng nhu cầu của mọi thành viên. Huy động vốn của QTDND cơ sở bao gồm: . Vốn góp của các thành viên . Huy động vốn tiết kiệm, nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể. . Vốn vay từ các dự án: thông qua QTDND Trung ương làm đầu mối để tham gia các dự án đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn. - Nhận vốn điều hoà từ QTDND Trung ương (trước năm 2001 là QTDND khu vực). Thông qua chức năng này QTDND cơ sở đã góp phần chuyển hoá sử dụng nguồn vốn, đáp ứng sản xuất và lưu thông hàng hoá trong dân cư. + Hai là: Chức năng cho vay. Sử dụng vốn ở QTDND cơ sở chủ yếu là cho vay thành viên, đây cũng là chức năng cơ bản của QTDND cơ sở. Với vốn huy động được từ các nguồn, QTDND cơ sở cho vay hỗ trợ các thành viên là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, trên địa bàn nhằm góp phần thúc đẩy việc mở rộng, khôi phục ngành nghề, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đời sống, hạn chế cho vay nặng lãi ở vùng nông nghiệp, nông thôn. Ngoài hai chức năng, nhiệm vụ cơ bản trên, QTDND cơ sở còn thực hiện chức năng tư vấn chăm sóc thành viên. Phần lớn thành viên QTDND cơ sở là hộ sản xuất, kinh doanh mà chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, ở khu vực nông thôn, có nhiều hạn chế nên ngoài nhiệm vụ huy động vốn và cho vay, thì QTDND cơ sở còn thường xuyên tư vấn cho thành viên như: Phương án, dự án sản xuất kinh doanh để có hiệu quả, số vốn cần đầu tư, thời gian sử dụng vốn … nhằm giúp thành viên phát triển kinh doanh và sử dụng vốn có hiệu quả, hạn chế tối đa nhất rủi ro trong tín dụng. Mặt khác QTDNDcơ sở quan tâm chăm sóc thành viên lúc khó khăn, hoạn nạn, chia sẻ với thành viên lúc thiên tai, dịch bệnh… Vì vậy ngày càng tạo nên sự gắn kết thành viên với QTDND cơ sở và giữa các thành viên với nhau. 1.1.2.2. Mục tiêu nguyên tắc hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Một là: Mục tiêu hoạt động của QTDND cơ sở - Mục tiêu hoạt động của QTDND cơ sở chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh tập thể và của từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, có nghĩa là QTDND cơ sở thực hiện huy động vốn nhàn dỗi trong dân cư, các nguồn vốn khác hoặc của những thành viên có điều kiện kinh tế để hỗ trợ cho những thành viên nghèo, thiếu vốn sản xuất, kinh doanh, rất kịp thời đáp ứng cho mùa vụ, hoặc là những điều kiện sinh hoạt khác tránh được tình trạng phải đi vay nặng lãi. Hoạt động của QTDND cơ sở phải đảm bảo bù đắp chi phí và có tích luỹ để phát triển [12]. Hai là: Nguyên tắc hoạt động của QTDND cơ sở QTDND cơ sở muốn thực hiện được mục tiêu hỗ trợ thành viên thì phải đảm bảo những nguyên tắc sau: - Thứ nhất: Nguyên tắc tự nguyện gia nhập và rút khỏi QTDND: Đây là nguyên tắc rất cơ bản của hoạt động QTDND cơ sở vì chỉ có những gì thành viên tự nguyện làm mới có cơ sở phát triển và tồn tại lâu dài. Nguyên tắc tự nguyện nói lên thành viên hoàn toàn tự nguyện khi họ thấy có lợi và nhu cầu của họ được thoả mãn mà không phải bị ép buộc, cưỡng chế khi xin gia nhập hay rút khỏi thành viên QTDND cơ sở. Họ là người tự quyết định về việc gia nhập hay rút khỏi QTDND cơ sở. vì chỉ khi tự nguyện hợp tác, tự nguyện tham gia, các thành viên mới quan tâm, nhiệt tình và hết lòng tâm huyết với QTDND cơ sở , và như vậy QTDND cơ sở mới có cơ sở vững chắc để tập hợp được sức mạnh lâu dài về vật chất và tinh thần từ các thành viên cho sự phát triển. Tuy nhiên muốn họ trở thành thành viên của QTDND cơ sở thì nhiệm vụ của các cơ quan chức năng cấp uỷ, chính quyền địa phương, các đoàn thể phải tuyên truyền làm rõ lợi ích thiết thực về mô hình hoạt động của QTDND. Phải tích cực tuyên truyền, thuyết phục để họ hiểu được quyền lợi, nghĩa vụ và lợi ích của họ khi tham gia QTDND cơ sở. Đây cũng chính là thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. - Thứ hai: Nguyên tắc quản lý dân chủ và bình đẳng; điều này có nghĩa là các thành viên được tự mình toàn quyền quản lý, quyết định các vấn đề của QTDND cơ sở trong khuôn khổ và theo các quy định của pháp luật, mà không chịu bất cứ sự can thiệp, chi phối hay sự chỉ đạo nào từ bên ngoài. Các thành viên tự quản lý thông qua việc tham gia và chỉ có họ duy nhất mới được quyền tham gia vào cơ quan quyền lực cao nhất của QTDND cơ sở, đó là Đại hội thành viên hoặc là Đại hội đại biểu thành viên; tại Đại hội, thành viên thể hiện quyền và trách nhiệm của mình để lựa chọn, đề cử, ứng cử, bầu cử đề nghị chi nhánh ngân hàng nhà nước tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm ban điều hành, ban kiểm soát của QTDND cơ sở nhằm thực hiện quản lý, điều hành và giám sát hoạt động của QTDND cơ sở. Tự quản lý ở đây được thực hiện trên nguyên tắc dân chủ và bình đẳng, mọi thành viên của QTDND cơ sở đều có quyền và trách nhiệm tham gia quản lý và quyết định như nhau, không phân biệt giầu nghèo, địa vị xã hội … và đặc biệt là không phân biệt số vốn góp vào QTDND cơ sở. Người góp nhiều cũng như người góp ít đều chỉ có một quyền biểu quyết ngang nhau. Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản trong quản lý của QTDND cơ sở so với các tổ chức tín dụng khác. Nguyên tắc tự quản lý dân chủ, bình đẳng đã đề cao sự tham gia, vai trò cá nhân phát huy tinh thần trách nhiệm của tất cả mọi thành viên vào tập thể để tạo sức mạnh chung lớn hơn, giúp họ giải quyết các vấn đề đang vướng mắc. Nguyên tắc tự quản lý, tham gia điều hành và giám sát sẽ góp phần đảm bảo cho QTDND luôn bám sát mục tiêu tương trợ thành viên. - Thứ ba: Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: Điều này thể hiện các chủ sở hữu là thành viên phải đóng góp đủ số vốn cần thiết, tối thiểu phải ở mức vốn theo quy định của Ngân hàng nhà nước, để cho QTDND cơ sở hoạt động, tự chịu trách nhiệm về sự tồn tại, duy trì hoạt động và kết quả hoạt động của mình, đoàn kết thống nhất cao cùng chịu trách nhiệm với mọi hoạt động của Quỹ. Thực hiện nghĩa vụ đối với QTDND cơ sở, sự tự chịu trách nhiệm, không phải là vô hạn mà chỉ tự chịu trách nhiệm bằng số vốn góp vào QTDND cơ sở và các nghĩa vụ thoả thuận đóng góp bổ sung khác nếu được quy định trong điều lệ của từng QTDND cơ sở. Như vậy, nếu QTDND cơ sở nào hoạt động kinh doanh bị thua lỗ thì thành viên không chỉ thiệt thòi trong việc hưởng các dịch vụ ngân hàng mà còn phải chịu thiệt thòi về tài chính như: Lợi tức vốn góp … cũng như đối với chủ sở hữu của bất kỳ loại hình kinh tế nào khác. Chính vì vậy nguyên tắc tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi vừa là động lực vừa tạo sức ép đối với các thành viên phải tham gia tích cực vào công tác quản lý và giám sát hoạt động của QTDND. - Thứ tư: Nguyên tắc chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của thành viên và sự phát triển của QTDND cơ sở, có nghĩa là kết thúc năm tài chính, sau khi làm xong nghĩa vụ nộp thuế Nhà nước, lãi còn lại được phân phối như thế nào cho hợp lý để vừa tăng tích luỹ mở rộng, và duy trì cho hoạt động vừa đảm bảo lợi ích của thành viên, khuyến khích thành viên tích cực tham gia xây dựng Quỹ. Mặt khác phải đảm bảo đúng theo quy định của bộ tài chính về phân phối lợi nhuận của QTDND cơ sở và được đại hội thành viên quyết định hoặc đại hội đại biểu thành viên. - Thứ năm: Nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng: QTDND cơ sở hoạt động và phát triển dựa trên sự tập hợp sức mạnh của các thành viên, tự nguyện cùng nhau góp vốn để thành lập, phát huy sức mạnh nội lực của thành viên với mong muốn là duy trì và ngày càng phát triển của QTDND cơ sở để thành viên thông qua đó nhận được sự hỗ trợ, các dịch vụ tín dụng, Ngân hàng để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống một cách nhanh hơn, tốt hơn. Phần lớn thành viên QTDND cơ sở ở nông nghiệp, nông thôn, có nhiều khó khăn trong việc vay vốn từ các ngân hàng thương mại quốc doanh vì: tài sản thế chấp còn khiêm tốn, đi lại xa…, tham gia vào QTDND cơ sở là sự cần thiết và có lợi cho thành viên, nên họ có ý thức hợp tác với nhau, tương trợ lẫn nhau. Như vậy các thành viên QTDND cơ sở sẵn sàng đoàn kết, tương thân, tương ái, tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong quỹ và trong cộng đồng xã hội, nhờ đó QTDND đã phát huy được tác dụng tạo ra thế mạnh cho hoạt động của mình phù hợp với mô hình tổ chức hệ thống QTDND và các nguyên tắc hoạt động trên đây [12]. 1.1.3. Hoạt động chủ yếu và vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đối với khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn 1.1.3.1. Các hoạt động chính của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Những hoạt động chủ yếu của QTDND cơ sở bao gồm như sau: - Thứ nhất, huy động vốn: QTDND cơ sở được huy động vốn góp của thành viên gồm vốn cổ phần xác lập và cổ phần thường xuyên. Đặc điểm của nguồn vốn này là chỉ huy động của thành viên. Đối với nguồn vốn huy động tiết kiệm, QTDND cơ sở được nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn của thành viên và người ngoài thành viên kể cả cá nhân và tổ chức kinh tế kể cả trong địa bàn và ngoài địa bàn. QTDND cơ sở được vay vốn từ các nguồn vốn dự án của Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, … Thông qua QTDND Trung ương làm đầu mối, được nhận vốn điều hoà từ Quỹ tín dụng Trung ương và được khai thác các nguồn khác như: Vốn tài trợ của các tổ chức ,cá nhân trong nước và nước ngoài, các nguồn vốn uỷ thác cho vay…. theo quy định của ngân hàng Nhà nước. - Thứ hai, cho vay của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Hoạt động cho vay theo nghĩa phổ biến là quan hệ vay mượn về vốn giữa QTDND cơ sở với các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp theo nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi. Cho vay là một trong những hoạt động quan trọng nhất của QTDND cơ sở, đem lại nguồn thu nhập chính cho QTDND cơ sở và cũng là hoạt động có rủi ro tiềm ẩn cao nhất. Có thể nói rằng hoạt động thành công của một QTDND cơ sở tuỳ thuộc vào hoạt động cho vay. Hoạt động cho vay được an toàn sẽ đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của tổ chức tín dụng nói riêng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Vì vậy QTDND cơ sở nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung khi cho vay luôn đặt ra cho mình mục tiêu là phải đảm bảo an toàn nguồn vốn đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời của nguồn vốn đó. Đối với QTDND cơ sở, đối tượng cho vay phải là thành viên của QTDND cơ sở theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Đây là điểm khác biệt nhất so với các tổ chức tín dụng khác. - Thứ ba, chăm sóc thành viên: Khác với các tổ chức tín dụng khác, QTDND cơ sở ra đời là do thành viên tự nguyện góp vốn và gia nhập, họ vừa là chủ vừa là khách hàng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nên giữa QTDND cơ sở với thành viên có mối quan hệ rất khăng khít, gần gủi và luôn gắn bó với nhau. Vì vậy, QTDND cơ sở thực hiện tốt công tác chăm sóc thành viên: Thăm hỏi lúc thành viên ốm đau, hoạn nạn, chia sẻ khi thành viên gặp khó khăn, tư vấn về quản lý kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình… Chính vì vậy cán bộ QTDND cơ sở ngoài trình độ về chuyên môn, cần phải có trình độ hiểu biết về kiến thức xã hội và các mặt khác… Đặc biệt là có tâm huyết trong công việc, nhiệt tình, trách nhiệm thì mới đáp ứng được nhu cầu đặt ra. - Thứ tư, phân phối lợi nhuận. Hàng năm QTDND cơ sở phải tổ chức Đại hội thành viên hoặc Đại hội đại biểu thành viên (Theo điều lệ QTDND cơ sở) để thực hiện công khai dân chủ về kết quả kinh doanh của năm tài chính. Đại hội quyết định phân phối lợi nhuận, lợi tức vốn góp… trên cơ sở kết quả kinh doanh và pháp luật quy định. Ngoài những hoạt động trên thì QTDND cơ sở còn tham gia nhiều hoạt động khác tại địa phương như: Tham gia hoạt động từ thiện, tham gia đóng góp vào các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương… 1.1.3.2. Vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đối với việc phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Hơn 20 năm đổi mới của đất nước, mô hình hệ thống QTDND nói chung và QTDND cơ sở nói riêng tuy còn rất non trẻ và khó khăn nhưng đã bước đầu thể hiện vai trò của mình trong từng địa phương và cộng đồng xã hội. - Trước hết đối với địa phương QTDND cơ sở ra đời đã góp phần cung cấp các dịch vụ tín dụng, ngân hàng cho thành viên và dân cư trên địa bàn. Bất cứ người dân nào từ 18 tuổi trở lên không vi phạm pháp luật đều được quyền gia nhập QTDND cơ sở và sẽ được hưởng các sản phẩm dịch vụ của QTDND cơ sở. Với tư cách vừa là thành viên, vừa là khách hàng, QTDND cơ sở vừa là người quản lý một phần tài sản của thành viên, vừa là nhà cung cấp vốn cho người dân trên địa bàn nên đảm bảo tính ổn định và lâu dài, mặt khác qua hoạt động của QTDND cơ sở, ý thức tiết kiệm và tích luỹ của người dân, của thành viên được nâng lên, những đồng vốn nhàn rỗi, vốn tiết kiệm được huy động để đưa vào đầu tư phục vụ cho phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề, dịch vụ tại các địa phương. Thông qua các hoạt động tư vấn, hỗ trợ cung cấp thông tin của QTDND mà nhận thức của thành viên cũng được nâng lên, các tệ nạn cho vay nặng lãi, hụi họ được hạn chế đến mức tối đa; ý thức sử dụng vốn; kinh doanh; phát triển sản xuất … được cải thiện rõ rệt. Tỉnh Thanh Hoá là một minh chứng hiện nay có 42 QTDND với gần 40.000 thành viên tham gia tương ứng với gần 40.000 hộ gia đình, vì thông thường mỗi hộ có một người đại diện chủ hộ tham gia thành viên QTDND cơ sở. Bình quân mỗi QTDND cơ sở trên địa bàn là 883 hộ được hưởng dịch vụ ngân hàng của QTDND cơ sở. Điều đó sẽ có ý nghĩa hết sức to lớn, tạo thêm nguồn lực mạnh mẽ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Đặc biệt góp phần hổ trợ tích cực cho địa phương chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng trong nông nghiệp, nông thôn, góp phần tạo điều kiện xoá đói giảm nghèo có hiệu quả trên địa bàn. Điều đáng chú ý là QTDND cơ sở hoạt động với tư cách như là một doanh nghiệp trên địa bàn, nên hàng năm hệ thống QTDND cơ sở đã góp một phần đáng kể các khoản thuế cho ngân sách địa phương, trực tiếp tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở xã, phường, hỗ trợ đắc lực nhất cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ là thành viên một cách kịp thời, tạo ra nhiều việc làm và góp vào tăng trưởng kinh tế. Trong nhiều năm qua thực tiễn những kết quả đạt được của hệ thống QTDND cơ sở trên địa bàn đã khẳng định vai trò của hệ thống tín dụng hợp tác đối với địa bàn nông nghiệp, nông thôn. QTDND cơ sở là một trong những yếu tố kinh tế quan trọng góp phần nâng cao đời sống, thu nhập của người dân ở vùng nông thôn, tạo công ăn việc làm, đem lại ổn định trật tự chính trị, xã hội trên địa bàn. - Thứ hai, đối với thành viên: Mô hình QTDND cơ sở hình thành và xuất phát hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, là tổ chức liên kết hợp tác của các thành viên, cá nhân, hộ gia đình trên cùng địa bàn, khả năng hợp tác trợ giúp lẫn nhau là rất thuận lợi. Thông qua QTDND cơ sở, các thành viên có thể hỗ trợ và có điều kiện tiếp cận với các sản phẩm, dịch vụ của thị trường tín dụng, ngân hàng phù hợp với khả năng điều kiện kinh tế của thành viên. Mặt khác thành viên của QTDND cơ sở còn được tư vấn, chăm sóc, cung cấp thông tin, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, ngành nghề; và thành viên QTDND cơ sở với tư cách là chủ sở hữu được chia cổ tức, được quyền tham gia biểu quyết bầu ban điều hành và ban kiểm soát của quỹ, tham gia quyết định các chính sách và các phương án phát triển kinh doanh của QTDND cơ sở thông qua đại hội thành viên hoặc đại hội đại biểu thành viên hàng năm. 1.2. Huy động vốn và cho vay tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh 1.2.1. Huy động vốn tại quỹ tín dụng toàn dân cơ sở trên địa bàn tỉnh 1.2.1.1. Hình thức huy động vốn Nguồn vốn đối với QTDND cơ sở là đặc biệt quan trọng, nó quyết định và chi phối các mặt hoạt động của QTDND cơ sở. Vì vậy các QTDND cơ sở luôn tích cực mở rộng các hình thức huy động vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của thành viên. Cơ cấu nguồn vốn như sau: - Vốn điều lệ: là nguồn vốn đóng góp của các thành viên bao gồm vốn cổ phần xác lập và vốn cổ phần thường xuyên. + Cổ phần xác lập: là vốn do các thành viên đóng góp khi gia nhập QTDND cơ sở. Theo điều lệ của QTDND; mệnh giá cổ phần xác lập do đại hội thành viên hoặc đại hội đại biểu thành viên QTDND cơ sở quy định phù hợp với từng thời điểm và phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương nhưng không được dưới mức quy định tối thiểu của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm đó (hiện nay mức tối thiểu không dưới 50.000đ/1 cổ phần xác lập). Vốn cổ phần xác lập có nghĩa là xác lập tư cách của thành viên khi bắt đầu gia nhập QTDND cơ sở và không được hưởng lãi. + Cổ phần thường xuyên: là số vốn góp của thành viên tức là của những người đã góp cổ phần xác lập, để kinh doanh tiền tệ dưới hình thức cổ phiếu do QTDND cơ sở phát hành hàng năm, chỉ có những người đã góp vốn xác lập rồi mới được mua cổ phần thường xuyên. Hàng năm căn cứ vào kế hoạch kinh doanh, QTDND cơ sở thông qua đại hội thành viên hoặc đại hội đại biểu thành viên để bàn bạc và quyết định mệnh giá cổ phiếu thường xuyên và số lượng cổ phần được phát hành phù hợp với tốc độ tăng trưởng nguồn vốn cổ phần của từng QTDND cơ sở, cổ phần thường xuyên và cổ phần xác lập được chia lợi tức hàng năm theo kết quả kinh doanh của năm tài chính. - Nguồn vốn huy động tiết kiệm: Đây là một trong những nguồn vốn chủ lực của QTDND cơ sở, thường chiếm tỉ lệ cao nhất so với các loại nguồn vốn khác bao gồm: + Tiền gửi không kỳ hạn + Tiền gửi có kỳ hạn Của cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức đoàn thể . kể cả trong nước và nước ngoài. - Nguồn vốn huy động khác: QTDND cơ sở là thành viên của QTDND Trung ương, ngoài những quyền lợi và nghĩa vụ khác thì QTDND cơ sở được QTDND Trung ương điều hoà vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh bao gồm các nguồn vốn như sau: + Vốn đảm bảo thanh toán: có nghĩa là nguồn vốn cho QTDND cơ sở vay để chi trả cho khách hàng rút tiền gửi đột xuất trước hạn mà bản thân QTDND cơ sở tại thời điểm đó chưa có đủ nguồn để chi trả. + Nguồn vốn dự án: Thông qua QTDND Trung ương làm đầu mối, QTDND cơ sở tham gia vay vốn các dự án trong nước và nước ngoài. + Nguồn vốn thoả thuận: là nguồn vốn QTDND cơ sở nhận vốn điều hoà từ QTDND Trung ương về cho thành viên vay để phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống, nhất là hổ trợ trong giai đoạn mùa vụ của thành viên. + Ngoài các nguồn vốn trên thì QTDND cơ sở còn huy động các nguồn vốn khác như: nhận vốn tài trợ, vốn làm dịch vụ uỷ thác đầu tư của các pháp nhân, thể nhân trong nước và nước ngoài, … Khái quát cơ cấu nguồn vốn huy động qua sơ đồ sau: Không kỳ hạn Có kỳ hạn Vốn đảm bảo thanh toán Cổ phần xác lập Vốn điề lệ Vốn từ tiết kiệm Vốn dự án Cơ cấu huy động vốn của QTDND cơ sở Nguồn khác Vốn thoả thuận Cổ phần thường xuyên Vốn tài trợ uỷ thác Sơ đồ 1.2: Cơ cấu nguồn vốn huy động của QTDND cơ sở 1.2.1.2. Ưu, nhược điểm của huy động vốn tại quỹ tín dụng toàn dân cơ sở So với các hình thức huy động vốn khác (của Ngân hàng thương mại, Công ty tài chính, …), việc huy động vốn tại QTDND cơ sở có ưu, nhược điểm chủ yếu sau: * Những ưu điểm của công tác huy động vốn tại QTDND cơ sở: - Thứ nhất: QTDND cơ sở duy nhất là một tổ chức tín dụng sát dân nhất. Vị trí hoạt động của các quỹ thường đặt tại trung tâm các xã, phường, nơi tập trung giao lưu kinh tế xã hội của địa phương đó, đường sá giao thông thuận lợi, gần gũi và sát với dân cư, rất thuận tiện cho việc đi lại gửi tiền của thành viên và khách hàng. Chính vì vậy QTDND cơ sở sẽ thu hút được từ những món tiền tiết kiệm, tiền nhàn rỗi rất nhỏ trở lên (thực tế cho thấy có những món tiết kiệm có mệnh giá 100.000đ). - Thứ hai: Cán bộ, nhân viên QTDND cơ sở là con em tại địa phương nên rất hiểu rõ điều kiện, tâm lý, tình cảm của khách hàng, nhất là nắm bắt rất nhanh các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư (như là nguồn tiền bán sản phẩm, vật nuôi) và kịp thời động viên khuyến khích khách hàng, đồng thời thực hiện tốt chính sách khách hàng như lãi suất hợp lý ... nhằm khai thác tối đa tiềm năng nguồn vốn nhàn rỗi sẵn có tại địa phương. - Thứ ba: Phần lớn cấp uỷ, chính quyền địa phương, các đoàn thể chính trị xã hội ở những nơi có QTDND cơ sở hoạt động đã tích cực ủng hộ tuyên truyền trong các hội nghị, trên các kênh thông tin đại chúng về mô hình hoạt động của QTDND, nên nhân dân rất tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đồng thời tin tưởng vào hoạt động QTDND cơ sở và yên tâm gửi tiền vào Quỹ. Mặt khác hệ thống QTDND cơ sở đã tham gia bảo hiểm tiền gửi cho khách hàng theo quy định của Nhà nước. - Thứ tư: Qua quá trình hoạt động hệ thống QTDND không ngừng lớn mạnh và tăng cường mối liên kết chặt chẽ trong toàn hệ thống nên đáp ứng nhanh nguồn vốn chi trả thanh toán kịp thời, tuyệt đối không để mất lòng tin đối với khách hàng và thành viên. Tóm lại, QTDND cơ sở là một tổ chức kinh tế gần như cùng sống, cùng ăn, cùng ở, cùng hiểu nguyện vọng, ước mong, nỗi niềm và khó khăn của người dân sống tại nông thôn, gắn bó với nông nghiệp là chính. * Nhược điểm huy động vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở: - Thứ nhất: Mặc dù QTDND cơ sở đã rất tích cực và có nhiều thuận lợi trong việc huy động vốn nhưng kết quả một số QTDND cơ sở còn thấp; đặc biệt là vốn huy động tại chỗ. Điều này do nhiều nguyên nhân, có những QTDND cơ sở tuyên truyền động viên nhân dân thực hiện chưa tốt, chưa sâu rộng nên người dân có tiền, nhất là những món tiết kiệm lớn còn e ngại chưa thực sự tin tưởng yên tâm để gửi tiền vào quỹ. - Thứ hai: Một số QTDND cơ sở, địa bàn hoạt động có nhiều hạn chế như: vùng thuần nông điều kiện kinh tế của thành viên và dân cư còn khó khăn, nhu cầu sử dụng vốn lớn, nhu cầu gửi tiền rất ít. - Thứ ba: Trong nền kinh tế hội nhập, nhiều Ngân hàng lớn, mạnh ra đời, năng lực cạnh tranh của QTDND cơ sở còn nhiều hạn chế như về thương hiệu, về các sản phẩm dịch vụ, về trình độ cán bộ, về công nghệ thông tin, mặt khác dư âm
- Xem thêm -