Luận văncác giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập và cạnh tranh trong khuôn khổ của wto

  • Số trang: 37 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Luận văn Các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập và cạnh tranh trong khuôn khổ của WTO 1 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ......................................................................................................... 2 Phần I : Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và hội nhập kinh tế .................................. 3 I.Nguồn nhân lực ...................................................................................................... 3 1.Một số khái niệm cơ bản ........................................................................................ 3 2.Phân loại nguồn nhân lực ....................................................................................... 3 2.1 Căn cứ vào nguồn gốc hình thành ....................................................................... 3 2.2 Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận ................................................................... 5 3.Các tiêu thức đánh giá ............................................................................................ 5 3.1 Các chỉ tiêu phản ánh số lượng............................................................................ 5 3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng......................................................................... 6 4.Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế-xã hội ..................................... 8 4.1.Con người là động lực cửa sự phát triển .............................................................. 8 4.2 .Con người là mục tiêu của sự phát triển ............................................................. 9 4.3. Yếu tố con người trong phát triển kinh tế xã hội................................................. 10 II.Tiến trình hội nhập kinh tế .................................................................................... 10 1.Khái niệm hội nhập kinh tế .................................................................................... 10 2. Nguyên tắc của hội nhập kinh tế ........................................................................... 10 3.Một số ưu nhược điểm khi tiến hành hội nhập kinh tế ............................................ 11 4.Hội nhập kinh tế con đường tất yếu của đất nước ................................................... 12 Phần II Thực trạng nguồn nhân lực việt nam trong tiến trình hội nhập ..................... 13 I. Thực trạng nguồn nhân lực việt nam hiện nay........................................................ 13 1.Qui mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực ................................................................... 13 2.Chất lượng nguồn nhân lực .................................................................................... 14 2.1.Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật .......................................................... 14 2.2 Sức khoẻ nguồn nhân lực ................................................................................... 20 II. Cơ hội và thách thức của nguồn nhân lực việt nam trong hội nhập kinh tế ............ 20 1.Những thuận lợi và khó khăn của nguồn nhân lực trong tiến trình hội nhập ........... 20 1.1.Cơ hội của người lao động .................................................................................. 21 1.2.Thách thức đối với lao động Việt Nam ................................................................ 23 2 Phần III Giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình hội nhập kinh tế ....................................................................................................................... 26 I. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực .................................................................... 26 1. Quan điểm ........................................................................................................... 26 2. Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình hội nhập kinh tế ...................... 27 II.Các giải pháp ........................................................................................................ 30 1. Giải pháp vĩ mô .................................................................................................... 30 2. Các giải pháp vi mô .............................................................................................. 34 KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 36 3 . LỜI NÓI ĐẦU Chúng ta đã bước sang thế kỷ 21-Một thế kỷ được dự báo sẽ có những thay đổi to lớn trên phạm vi toàn cầu.Đây cũng là thời cơ và thách thức to lớn với nhiều quốc gia, dân tộc.Trong đó Việt Nam chúng ta ,một đất nước đang phát triển,cũng không nằm ngoài vòng xoay chung của nhân loại.Làm thế nào để tranh thủ được thời cơ thuận lợi, xác định đúng hướng, có quyết tâm và bản lĩnh vượt thử thách để đưa đất nước phát triển nhanh. Chúng ta cũng biết rằng, sự giàu có và khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay không còn đơn thuần phụ thuộc vào sự sẵn có của tài nguyên thiên nhiên, mà phần lớn phụ thuộc vào sự hiện hữu của nguồn nhân lực có chất lượng cao. Nguồn nhân lực có chất lượng cao, với tư cách là một trong những nguồn lực sản xuất, có vai trò vô cùng quan trọng, nếu không nói đó là yếu tố quan trọng nhất quy định khả năng cạnh tranh và hội nhập của một quốc gia. Và có thể sống còn và thành công trong cạnh tranh và hội nhập. Nhất là hội nhập và cạnh tranh trong khuôn khổ của WTO , việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đủ sức đáp ứng các yêu cầu và thách thức của cạnh tranh toàn cầu là việc làm vô cùng cần thiết. Nội dung của đề án gồm 3 phần: PHẦN I : Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và hội nhập kinh tế PHẦN II : Thực trạng nguồn nhân lực PHẦN III.Các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực: 4 PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ I.Nguồn nhân lực: 1.Một số khái niệm cơ bản: Nguồn lao động:bao gồm những người trong dân và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Nguồn nhân lực:là toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường,Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động,Những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng lao động Lực lượng lao động:là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động,đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân hiện đang tham gia lao động hoặc có nhu cầu lao động. Nguồn nhân lực có thể với tư cách là một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội,là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn,bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Nguồn nhân lực còn được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động,là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.Với tư cách này nguồn nhân lực bao gồm những người bắt đầu bước vào độ tuổi lao động trở lên có tham gia vào nền sản xuất xã hội. 2.Phân loại nguồn nhân lực: 2.1 Căn cứ vào nguồn gốc hình thành. a) Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số: Bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc, khái niệm này còn được gọi là dân cư hoạt động có nghĩa là tất cả những người có khả năng làm việc trong dân cư tính theo độ tuổi lao động theo qui định. Độ tuổi lao động là giới hạn về những điều kiện cơ thể,tâm lý,sinh lý xã hội mà con người tham gia vào quá trình lao động.Giới hạn độ tuổi lao động được qui định tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội của từng nước và trong từng thời kỳ. Giới hạn độ tuổi lao động bao gồm: 5 +Giới hạn dưới : qui định số tuổi thanh niên bước vào độ tuổi lao động. ở nước ta hiện nay là đủ 15 tuổi +Giới hạn trên : qui định độ tuổi về hưu ,ở nước ta hiện nay là 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam. Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư chiếm một tỷ lệ tương đối lớn trong dân số,thường từ 50% hoặc hơn nữa tuỳ theo đặc điểm dân số vvà nhân lực từng nước. Theo những tài liệu nghiên cứu gần đây cho thấy số người trong độ tuổi lao động ở các nước kinh tế chậm phát triển chiếm tỷ lệ thấp(khoảng 55%-57%) so với các nước công nghiệp phát triển (khoảng 64%-66%).Chính vì thế gánh nặng về số người không lao động ở các nước nghèo càng nặng hơn. Những người trong độ tuổi từ 16-60 (đối với nam) và 16-55 (đối với nữ) theo qui định của VIỆT NAM đều thuộc nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động. Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế (Dân số hoạt động kinh tế): Nguồn nhân lực này không bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng hoạt động kinh tế nhưng thực tế không tham gia hoạt động kinh tế (thất nghiệp, có khả năng làm việc song không muốn làm việc, đang học tập) Nguồn nhân lực dự trữ: Gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng vì những lý do khác nhau chưa tham gia hoạt động kinh tế song khi cần có thể huy động được.Số người này đóng vai trò một nguồn về nhân lực gồm có: Những người làm công việc nội trợ trong gia đình: Khi điều kiện kinh tế của xã hội thuận lợi, nếu bản thân họ muốn tham gia lao động ngoài xã hội ,họ có thể nhanh chóng rời bỏ công việc nội trợ để làm công việc thích hợp ngoài xã hội. Đây là nguồn nhân lực đáng kể và đại bộ phận là phụ nữ,hàng ngày vẫn đảm nhiệm những choc năng duy trì,bảo vệ,phát triển gia đình về nhiều mặt,đó là những hoạt động có ích và cần thiết.Công việc nội trợ gia đình đa dạng,vất vả đối với phụ nữ ở các nước chậm phát triển(do chủ yếu là lao động chân tay) dẫn đến năng suất lao động thấp so với những công việc tương tự được tổ chức ở qui mô lớn hơn ,có trang bị kỹ thuật tốt hơn, Những người tốt nghiệp ở các trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp được coi là nguồn nhân lực dự trữ quan trọng và có chất lượng.Đây là nguồn nhân 6 lực ở độ tuổi thanh niên có học vấn,có trình độ chuyên môn (nếu được đào tạo tại các trường dạy nghề và các trường trung cấp,đại học).Tuy nhiên.khi nghiên cứu nguồn nhân lực này cần phân chia tỷ mỷ hơn: o -Nguồn nhân lực đã đến tuổi lao động,tốt nghiệp trung học phổ thông,không tiếp tục học nữa,muốn tìm công việc làm. o -Nguồn nhân lực đã đến tuổi lao động,chưa học hết trung học phổ thông,không tiếp tục học nữa,muốn tìm việc làm. o -Nguồn nhân lực ở độ tuổi lao động dã tốt nghiệp ở các trường chuyên nghiệp (trung cấp, cao đẳng, đại học) thuộc các chuyên môn khác nhau tìm việc làm. Những người đã hoàn thành nghĩa vụ cũng thuộc nguồn nhân lực dự trữ,có khả năng tham gia vào hoạt động kinh tế. Số người thuộc nguồn nhân lực dự trữ này cũng cần phân loại để biết rõ có nghề hay không có nghề,trình độ văn hoá,sức khoẻ…Từ đó tạo công việc làm thích hợp. Những người trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp (có nghề hoặc không có nghề) muốn tìm việc làm cũng là nguồn nhân lực dự trữ,sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh tế. 2.2 Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận: Nguồn lao động chính : Đây là bộ phận nguồn nhân lực nằm trong độ tuổi lao động và là bộ phận quan trọng nhất. Nguồn lao động phụ: là bộ phận dân cư nằm ngoài độ tuổi lao động co thể cần tham gia vào nền sản xuất xã hội. Nguồn lao động bổ xung: là bộ phận nguồn nhân lực được bổ xung từ các nguồn khác (số người hết hạn nghĩa vụ quân sự, số người trong độ tuổi lao động thôi học ra trường,số người lao động ở nước ngoài trở về…) 3.Các tiêu thức đánh giá: 3.1 Các chỉ tiêu phản ánh số lượng: a) Qui mô dân số và tốc độ tăng: Qui mô dân số biểu thị khái quát tổng số dân trong một vùng, một nước hay của các khu vực khác nhau trên thế giới. 7 Những thông tin về qui mô dân số hết sức cần thiết trong phân tích so sánh với các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội nhằm lý giải nguyên nhân tình hình và hoạch định chiến lược phát triển. Qui mô dân số phụ thuộc vào biến động tự nhiên (sinh và tử ) và di cư thuần tuý ( nhập cư và xuất cư ) Tốc độ tăng dân số là sự chênh lệch về qui mô dân số ở thời điểm đầu và thời điểm cuối của giai đoạn tính bằng phần trăm so với dân số ở thời điểm đầu. b) Cơ cấu dân số: Theo tuổi: là sự thể hiện dân số theô từng năm tuổi hay nhóm tuổi. Theo giới tính : là sự phân chia dân số thành hai bộ phận nam và nữ. 3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng: Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực.Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội,bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định. a) Chỉ tiêu liên quan đến sức khoẻ: Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất ,tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật.Sức khoẻ là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài,giữa thể chất và tinh thần. -Cá nhân: chiều cao, cân nặng, tuổi, giới tính… -Tập thể: thành tích hoạt động thể thao, tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp. -Quốc gia (tỉnh, vùng): chiều cao, cân nặng trung bình, tuổi thọ, tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng… b) Chỉ tiêu liên quan đến trình độ văn hoá:( không gắn với trình độ chuyên môn, nghề) Trình độ văn hoá của người lao động là sự hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội.Trong chừng mực nhất định 8 trình độ văn hoá của dân số biểu hiện mặt bằng dân trí của quốc gia đó.Trình độ văn hoá được biểu hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ như: -Không biết chữ. -Biết chữ nhưng chưa tốt nghiệp tiểu học. -Tốt nghiệp tiểu học. -Tốt nghiệp trung học cơ sở. -Tốt nghiệp phổ thông trung học. Trình độ văn hoá của dân số hay của nguồn nhân lực là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực và tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội.Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. c) Chỉ tiêu liên quan đến trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó,nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định.Do đó trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực được đo bằng: -Tỷ lệ cán bộ trung cấp. -Tỷ lệ cán bộ cao đẳng ,đại học. -Tỷ lệ cán bộ trên đại học… Trong mỗi chuyên môn có thể phân chia thành những chuyên môn nhỏ hơn như đại học :bao gồm kỹ thuật, kinh tế, ngoại ngữ…thậm chí trong từng chuyên môn lại chia thành những chuyên môn nhỏ hơn nữa. Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng để chỉ trình độ của người được đào tạo ở các trường kỹ thuật,được trang bị kiến thức nhất định. Những kỹ năng thực hành về công việc nhất định.Trình độ kỹ thuật được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu sau: +không qua đào tạo. +công nhân kỹ thuật không bằng +công nhân kỹ thuật có bằng (các loại cấp bậc khác nhau) +Trung học chuyên nghiệp 9 +Cao đẳng, đại học. +Trên đại học. Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau,thông qua chỉ tiêu số lượng lao động được đào tạo và không được đào tạo trong từng tập thể nguồn nhân lực. d) Chỉ tiêu chỉ số phát triển con người HDI: Tổng hợp phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, một trong những chỉ tiêu mới được đưa ra để phản ánh +Tuổi thọ bình quân. + Thu nhập bình quân GDP/người. Chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh tế mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống, sự công bằng và tiến bộ xã hội. +Tỷ lệ người biết chữ hoặc số năm đi học bình quân. Ngoài ra tuỳ thuộc vào đặc điểm mỗi nước có thể dùng thêm một số chỉ tiêu khác dể so sánh.Ngoài 4 chỉ tiêu phản ánh chất lượng nguồn nhân lực có thể bổ xung và khai thác trên góc độ nh -Truyền thống dân tộc bảo vệ tổ quốc. -Truyền thống về văn hoá văn minh dân tộc. -Phong tục tập quán ,lối sống... Nhìn chung chỉ tiêu này nhấn mạnh đến ý chí năng lực tinh thần của người lao động. 4.Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế-xã hội: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế-xã hội,vai trò đó bắt nguồn từ vai trò của yếu tố con người. 4.1.Con người là động lực cửa sự phát triển: Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy. Phát triển kinh tế xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực:nhân lực (nguồn lực con người), vật lực (nguồn lực vật chất:công cụ lao động,đối tượng lao động,tài nguyên thiên nhiên…),tài lực (nguồn lực về tài chính tiền tệ)…Song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển,những nguồn lực khác muốn phát huy 10 được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người. Sản xuất ngày càng phát triển,phân công lao động ngày càng chi tiết,hợp tác ngày càng chặt chẽ tạo cơ hội để chuyển dần hoạt động của con người cho máy móc thiết bị thực hiện(các đông cơ phát lực) làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ.Nhưng ngay cả trong điều kiện đạt được những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại như hiện nay thì cũng không thể tách rời nguồn lực con người bởi lẽ: -Chính con người tạo ra máy móc thiết bị hiện đại đó.Điều đó thể hiện mức độ hiểu biết và chế ngự thiên nhiên của con người. -Ngay cả đối với máy móc thiết bị hiện đại nếu thiếu sự điều khiển,kiểm tra của con người thì chúng chỉ là vật chất.Chỉ có tác động của con người mới phát động chúng và đưa chúng vào hoạt động. Vì vậy nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng) của con người được huy động vào qua trình sản xuất thì năng lực đó là nội lực con người. 4.2 .Con người là mục tiêu của sự phát triển: Phát triển kinh tế-xã hội suy cho cùng là nhằm mục tiêu phục vụ con người, làm cho cuộc sống con người ngày càng tốt hơn, xã hội ngày càng văn minh.Nói khác đi con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội và như vậy nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng.Mặc dù mức độ phát triển của sản xuất quyết định mức độ tiêu dùng song nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác động mạnh mẽ tới sản xuất, định hướng của phát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường.Nếu trên thị trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất hàng hoá đó và ngược lại. Nhu cầu con người là vô cùng phong phú, đa dạng và thường xuyên tăng lên.Nó bao gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, về số lượng và chủng loại hàng hoá ngày càng phong phú và đa dạng, điều đó tác động tới quá trình phát triển kinh tế xã hội. 4.3. Yếu tố con người trong phát triển kinh tế xã hội: 11 Con người không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển, thể hiện ở mức độ chế ngự thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho con người mà còn tạo ra những điều kiện để hoàn thiện chính bản thân con người. Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng trải qua quá trình lao động hàng triệu năm mới trở thành con người ngày nay và trong quá trình đó mỗi giai đoạn phát triển của con người lại làm tăng thêm sức mạnh chế ngự thiên nhiên,tăng thêm động lực cho phát triển kinh tế xã hội. Như vậy động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới bản thân con người cũng chính nằm trong chính bản thân con người.Điều đó lý giải tại sao con người được coi là yếu tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển. II.TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ: 1.Khái niệm hội nhập kinh tế: Hội nhập kinh tế là gắn kết nền kinh tế nước mình với nền kinh tế khu vực và thế giới, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, gia nhập các tổ chức kinh tế đa phương, chấp nhận tuân thủ những qui định chung được hình thành trong quá trình hợp tác và đấu tranh giữa các nước thành viên của tổ chức ấy. 2. Nguyên tắc của hội nhập kinh tế: Khái niệm thương mại được mở rộng ra nhiều,nó không chỉ bao gồm thương mại hàng hoá mà còn liên quan đến các loại hình dịch vụ như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, viễn thông, vận tải, du lịch, tư vấn ,đầu tư, bản quyền, sở hữu trí tuệ…Nói một cách hình tượng thì thương mại ngày nay không chỉ bao gồm phần cứng (hàng hoá) mà cả phần mềm (dịch vụ, bản quyền, tài sản trí tuệ,,,) Trong đó phần mềm ngày càng chiếm vị trí quan trọng hơn, đồng thời xu hướng chung là các quốc gia đều phải mở cửa kinh doanh với bên ngoài. Theo xu hướng ấy, các nước đều phải giảm thiểu trong nhiều trường hợp them chí xoá bỏ hàng rào thuế quan.Thí dụ trong khuôn khổ AFTA các nước thành viên cam kết cắt giảm thuế quan xuống mức 0-5% theo một lộ trình nhất định.Trong khuôn khổ WTO các nước công nghiệp phát triển phải giảm thuế suất nhập khẩu hàng công nghiệp xuống còn 3,4% còn về nông sản chỉ còn 6%.Các nước đang phát triển được duy trì thuế suất cao hơn tương ứng ở mức 12,3 và 10%. 12 Giảm thiểu dần và đi tới xoá bỏ hàng rào phi thuế quan, dùng thuế suất thay cho các biện pháp hành chính phi thuế quan,Chỉ được phép áp dụng một số biện pháp hạn chế để bảo vệ môi trường, vệ sinh, bản sắc văn hoá, an ninh…Trong tình hình hiện nay khi chất xám chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong sản phẩm việc bảo hộ bản quyền, sở hữu trí tuệ, nhãn mác sản phẩm… được qui định rất chặt chẽ. Nhà nước không được bao cấp cho doanh nghiệp,riêng đối với nông sản thì được phép bao cấp ở một số khâu hỗ trợ cho sản xuất, mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài vào kinh doanh, đầu tư,tạo sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp trong và ngoài nước Các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường được hưởng một số ưu đãi về mức độ cam kết và thời gian thực hiện. 3.Một số ưu nhược điểm khi tiến hành hội nhập kinh tế: + ưu điểm: -Tự do hoá thương mại và thực hiện cải cách toàn diện theo hướng thị trường. -Hàng hoá xuất nhập khẩu có thể tiếp cận thị trường tốt hơn. -Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và các lợi ích khác. +Nhược điểm: -Mất khả năng kiểm soát và điều tiết đối với một số ngành trong quá trình hội nhập dẫn đến việc chiếm lĩnh sức mạnh thị trường của các công ty đa quốc gia làm tổn hại đến lợi ích của khách hàng và người lao động. -Thất nghiệp tăng. -ảnh hưởng đến ngân sách: vai trò của thuế quan như là một nguồn thu lớn của ngân sách sẽ mất đi vị trí to lớn của nó và tạo ra khó khăn về ngân sách cho chính phủ. 4.Hội nhập kinh tế con đường tất yếu của đất nước: Về mặt chủ quan: Nhờ công cuộc đổi mới nền kinh tế nước ta đã phát triển nhanh chóng, trạng tháI nền kinh tế đã thay đổi một cách cơ bản.Nếu như trong những năm 70-80 của thế kỷ trước hầu như cái gì cũng khan hiếm thì ngày nay nền kinh tế đã đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế.về nhiều mặt hàng tỷ suất hàng hoá khá cao.Tình hình đó đặt ra yêu cầu cấp bách 13 phải tiêu thụ được mới tái sản xuất mở rộng được.nói một cách khác nhân tố đầu ra có ý nghĩa hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định.Một mặt phải rất quan tâm việc thúc đẩy tiêu thụ trong nước vì tới hơn 80 triệu dân,một thị trường không phải là nhỏ.Mặt khác do thu nhập của các tầng lớp dân cư còn chưa cao, sức mua chưa lớn điều tất yếu là phải thúc đẩy xuất khẩu ra thị trường bên ngoài, ở đầu vào mặc dù khả năng tích luỹ của nền kinh tế nước ta ngày càng lớn, trình độ khoa học công nghệ và quản lý kinh tế ngày càng được nâng cao song trong qua trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nước ta vẫn cần tranh thủ vốn đầu tư, công nghệ và kỹ năng quản lý từ bên ngoài,Đồng thời có đẩy mạnh xuất khẩu mới có ngoại tệ để nhập máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cần thiết.Chúng ta chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới vì lợi ích của chính bản thân nước ta. Về mặt khách quan: Chúng ta đang sống trong một thế giới mà xu thế toàn cầu hoá đang phát triển nhanh chóng, gia tăng mạnh mẽ về qui mô và phạm vi giao dịch hàng hoá, dịch vụ xuyên quốc gia, dòng vốn đầu tư lan toả ra toàn cầu , công nghệ kỹ thuật truyền bá nhanh chóng và rộng rãi. Cục diện ấy vừa tạo ra những khả năng mới để mở rộng thị trường,, thu hút vốn, công nghệ, vừa đặt ra những thách thức mới về nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và sự cạnh tranh rất gay gắt.Nền kinh tế nước ta là một bộ phận không tách rời của nền kinh tế thế giới nên không thể không tính đến những xu thế của thế giới, tận dụng những cơ hội do chúng đem lại đồng thời ứng phó với những thách thức do chúng đặt ra PHẦN II I. Thực trạng nguồn nhân lực việt nam hiện nay: 1.Qui mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực: Biểu 1 DÂN SỐ TRUNG BÌNH Đơnvị :nghìn người Năm Tổng số Nam Nữ Thành thị Nông thôn 2001 78685,8 38684,2 40001,6 19469,3 59216,5 2002 79727,4 39197,4 40530,0 20022,1 59705,3 14 2003 80902,4 39755,4 41147,0 20869,5 60032,9 Sơ bộ 2004 82032,3 40317,9 41714,4 21591,2 60441,1 Nguồn : Trung tâm tư liệu thống kê-Tổng cục thống kê 9/2005 Biểu 2 TỶ LỆ TĂNG DÂN SỐ Đơn vị : % Năm Tổng số Nam Nữ Thành thị Nông thôn 2001 1,35 1,36 1,35 3,72 0,60 2002 1,32 1,33 1,32 2,84 0,83 2003 1,47 1,42 1,52 4,23 0,55 Sơ bộ 2004 1,40 1,41 1,38 3,46 0,68 Nguồn : Trung tâm tư liệu thống kê-Tổng cục thống kê 9/2005 Số lượng nhân lực là một điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập hiên nay.Chúng ta đang có một thị trường lao động dồi dào. hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước.Từ năm 1993 đến nay tổng tỷ suất sinh đã giảm nhanh từ 3,8 con (năm 1989) xuống còn 2,67 con ( trong những năm 1992-1996) và còn khoảng 2,3 con (năm 1999) .Qui mô dân số ở mức 69,9 triệu người ( năm 1993) lên 77,6 (năm 2002) .Dân số Việt Nam tính đến năm 2004 là hơn 82 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số là 1,4%. Lực lượng lao động tăng cao trong năm 2003 với tổng số 42.128.343 người (tăng 1,8% so với năm 2002 ) trong đó khu vực nông thôn 31.941.500 chiếm 75,8% (tăng 1,3% so với năm 2002 ) . Tại thời điểm 1/7/2004, lực lượng lao động (LLLĐ) của cả nước cú 43.255,3 nghìn ngươi, tăng gần 2,7% so với thời điểm 1/7/2004; LLLĐ trong độ tuổi lao động có 40.805,3 nghìn người, chiếm 94,3%, tăng 2,4% so với thời điểm 1/7/2004. Dân sốViệt Nam thuộc loại dân số trẻ có tốc độ tăng trưởng cao.Hàng năm có khoảng 1,5-1,7 triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động tạo thành đội ngũ lao động dự bị hùng hậu bổ xung liên tục vào lực lượng lao động vốn đã đông đảo này. Tóm lại số lượng lao động ở Việt Nam khá rồi rào.Đây là một trong những nhân tố thuận lợi nếu chúng ta biết sử dụng một cách hợp lý, triệt để và có hiệu quả.Ngược lại chúng ta không giải quyết tốt số lượng lao động dồi dào này thì đây là nhân tố kìm hãm quá trình phát triển kinh tế đất nước. 15 Trong điều kiện kinh tế chậm phát triển nhìn chung nguồn lao động sẵn có không phải là động lực cho sự phát triển vì rất hiếm những người lao động và quản lý ngành nghề, đặc biệt là số người lao động chưa sử dụng hết năng lực của mình. Số lượng nguồn lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ phát triển của giáo dục đào tạo, trình độ xã hội hoá các hoạt động dịch vụ và phục vụ đời sống, mức và nguồn thu nhập, giới tính ,độ tuổi… 2.Chất lượng nguồn nhân lực: 2.1.Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật : Nhìn chung trình độ học vấn của lực lượng lao động Việt Nam tương đối cao so với các nước trong khu vực.Có tới 80% lực lượng lao động kinh tế thường xuyên trong cả nước đã tốt nghiệp từ bậc tiểu học trở lên, số người chưa biết chữ chỉ có 3,8% Bảng 1 Cơ cấu lực lượng lao động phân theo trình độ hoc vấn Đơnvị :% Các vùng Chưa Chưatốt Tốt Tốt nghiệp Tốt nghiệp biết nghiệp nghiệp trung học phổ thông chữ tiểu học tiểu học cơ sở trung học Cả nước 3,82 16,68 32,29 29,95 17,27 Trong đó nữ 4.92 18.08 32.04 28.99 15.97 đồng bằng sông hồng 0.71 6.37 20.69 48.74 23.46 đông bắc 7.37 14.77 28.04 33.65 16.18 Tây bắc 23.46 22.47 29.34 15.96 8.76 Bắc trung bộ 2.29 10.37 28.68 40.61 18.06 Duyên hải nam trung bộ 2.97 18.9 39.74 24.02 14.38 Tây nguyên 5.6 17.44 33.83 23.81 19.31 đông nam bộ 1.98 15.61 37.48 21.64 22.41 đồng bằng sông cửu long 4.41 30.68 42.71 13.13 9.07 Nguồn : Bộ lao động và thương binh xã hội 2003 Tuy nhiên có sự phân biệt khá lớn về trình độ học vấn của lực lượng lao động giữa khu vực thành thị và nông thôn. ở khu vực thành thị cứ 10 người tham gia 16 hoạt động kinh tế thì có gần 4 người đã tốt nghiệp từ bậc phổ thông trung học phổ thông trở lên ,cao hơn 3 lần so với khu vực nông thôn.Trong khi đó tỷ lệ chưa biết chữ ở khu vực nông thôn lại cao hơn 6 lần so với khu vực thành thị. Trong tám vùng cả nước , vùng tây bắc là vùng có trình độ học vấn của lực lượng lao động thấp nhất trong cả nước có tới 23.5% dân số lao động chưa biết chữ. Gấp 7.5 lần mức trung bình của cả nước. Ngược lại với vùng tây bắc, trình độ học vấn của dân số lao động của vùng đồng bằng sông hang rất cao , số người chưa biết chữ chỉ chiếm gần 1%,số người đã tốt nghiệp phổ thông trung học chiếm gần một phần tư (23.5%) trong tổng lực lượng lao động của vùng.tuy nhiên đây lại là vùng có tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị cao nhất cả nước .xét theo giới trình độ học vấn của lực lượng lao động Nữ thấp hơn so với nam . Từ trình độ tốt nghiệp tiểu học trở lên các tỷ lệ nam giới đều cao hơn so vơí nữ giới nhất là tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học . Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tiếp tục gia tăng cả về số lượng và tỷ lệ. Năm 2003 cả nước có 8.844000 người thuộc lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, chiếm 21% trong tổng lực lượng lao động nói chung. Trong đó số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật trở lên ( bao gồm cả công nhân kỹ thuật không có bằng ) chiếm 11.8% so với tổng lực lượng lao động nói chung. So với năm 2002 tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật của lực lưọng lao động ở nông thôn tăng 1,7% nhanh hơn so với thành thị (tăng 1,4%). Tuy nhiên trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn tiếp tục có sự khác biệt lớn. ở nông thôn, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 13.3% lực lượng lao động trong khu vực, ở thành thị tỷ lệ này là 45% gấp gần 3.5 lần so với khu vực nông thôn,Ngành nông nghiệp chiếm 60.5 % tổng số lực lượng lao động của cả nước nhưng chỉ chiếm 3.8% số người được đào tạo Bảng 2: Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 2003 Đơn vị :% Vùng Không có chuyên Tổng Có CMKT Công nhân kỹ số sơ cấp,học thuật có bằng nghề,CNKT trở lên 17 môn kỹ không bằng thuật Cả nước 79.01 20.99 9.23 11.77 đồng bằng 72.01 27.99 12.64 15.35 đông bắc 82.34 17.66 5.35 12.32 Tây bắc 89.36 10.74 2.56 8.19 Bắc trung 84.27 15.73 5.69 10.04 79.15 20.85 10.17 10.67 Tây nguyên 85.19 14.81 5.44 9.36 đông nam 67.03 32.97 15.08 17.89 86.8 13.2 7.25 5.95 sông hồng bộ Duyên hải nam trung bộ bộ đồng bằng sông cửulong Nguồn : Bộ lao động và thương binh xã hội 2003 Trong tám vùng lãnh thổ đông nam bộ là vùng có tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất (33%). Tiếp đến là đồng bằng sông hồng (28%) và duyên hải nam trung bộ (20.8%) Thấp nhất là tây bắc (10.7%) đồng bằng sông cửu long (13.2%) ở các vùng còn lại tỷ lệ này dao động từ 15-20% Hiện nay, thanh niên nước ta có trên 27.533.200 người, trong đó hoạt động kinh tế chiếm 72,8%. Nhìn chung trình độ học vấn của thanh niên trong những năm gần đây được nâng lên rõ rệt. Song chất lượng đào tạo vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động: tri thức nặng về lý thuyết, kém về thực hành, tính chủ động, sáng tạo chưa cao. Bên cạnh đó là một số lượng lớn hiện chưa có việc làm Theo kết quả tổng điều tra dân số và việc làm, số người đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên có trình độ tốt nghiệp tiểu học tăng từ 32,2% năm 18 2001 lờn 35% năm 2003, số người đó tốt nghiệp THCS ổn định khoảng 30 –32% và số đó tốt nghiệp THPT tăng từ 17,3% năm 2001 lờn 20% năm 2003. Năm 1990 - 1991, học sinh tốt nghiệp THPT và THCS vào THCN là 23%, vào cỏc trường dạy nghề là 13% thỡ đến năm 2001 - 2002, tỷ lệ tương ứng là 11% và 6,9%. Theo số liệu mới thống kờ của Bộ GD - ĐT, cú đến 87% học sinh tốt nghiệp THPT được tuyển mới vào THCN. Cũn kết quả khảo sỏt trong chương trỡnh điều tra theo dấu năm 2002 của dự ỏn "Giỏo dục kỹ thuật và dạy nghề" cho thấy cú tới 83% số học sinh đó tốt nghiệp THPT trong cỏc trường dạy nghề. Ngay tại một số cơ sở dạy nghề ngắn hạn cũng cú khoảng 45% học sinh đó tốt nghiệp THPT. Gõy lóng phớ trong đào tạo, mất cõn đối trong cơ cấu tàinh độ đào tạo và tất yếu sẽ dẫn đến mất cõn đối nghiờm trọng trong cơ cấu lao động Năm 1999, số thanh niên không có chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ chiếm 94,1% so với tổng số thanh niên, đến năm 2003, con số này giảm xuống còn 90%. Đặc biệt, số thanh niên có trình độ CĐ, ĐH tăng 4 lần so với năm 1999. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là khoảng cách về trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ giữa thanh niên nông thôn và thanh niên đô thị vẫn còn khá cao. Có 70% thanh niên đô thị và 94,7% thanh niên nông thôn không có chuyên môn nghiệp vụ; 9% thanh niên đô thị và 1,7% thanh niên nông thôn là CNKT có bằng, 6% thanh niên đô thị và 1,7% thanh niên nông thôn tốt nghiệp THCN, 15% thanh niên đô thị và chỉ có 1,9% thanh niên nông thôn có trình độ ĐH và trên ĐH. Tỉ lệ lao động thanh niên có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ tăng khá nhanh trong những năm qua nhưng đến năm 2003 mới đạt 10% là quá thấp trước yêu cầu CNH, HĐH đất nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Theo số liệu cơ cấu ngành nghề năm 2002 và 2003, tính riêng trong 604.396 sinh viên hệ chính quy tập trung, tỉ lệ sinh viên học nông nghiệp chỉ có 5,77%. Qua các hội chợ việc làm được tổ chức gần đây thì chỉ có 20% lao động đáp ứng được nhu cầu tuyển kỹ sư nông, lâm, ngư nghiệp. Theo kết quả điều tra nụng thụn, nụng nghiệp do Tổng cục Thống kờ cụng bố đầu năm 2004, cả nước cú 93% số lao động nụng thụn chưa qua đào tạo, 0,8% cú trỡnh độ cao đẳng, 0,7% ở trỡnh độ đại học và tương đương. 19 Ngoài ra, chỉ cú 2,3% lao động được đào tạo tay nghề theo trỡnh độ sơ cấp hoặc cụng nhõn kỹ thuật, 2,4% cú trỡnh độ trung cấp kỹ thuật. Trong những năm gần đây, trỡnh độ học vấn của lao động cả nước núi chung và nụng thụn núi riờng khụng ngừng được nõng cao. Tuy nhiờn cú sự cỏch biệt khỏ lớn giữa khu vực thành thị và nụng thụn, giữa nam và nữ, giữa cỏc vựng lónh thổ kinh tế về trỡnh độ giỏo dục. Nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu đó đưa ra kết luận ở nụng thụn, dõn trớ thấp hơn 2 lần, nhõn tài thấp hơn 8,6 lần và nhõn lực, trong đó đào tạo nghề thấp hơn 10 lần so với khu vực thành thị. Cơ cấu lao động theo trỡnh độ kỹ thuật cũng cú những điểm mất cân đối so với yờu cầu của sự phỏt triển. Lao động trớ úc ở thành thị chiếm 30%, ở nụng thụn chỉ là 4,4%. Theo chấm điểm và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, về sức cạnh tranh của lao động theo thang điểm 100 thỡ Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung phỏp lý, 20 điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thỏi độ lao động, 16 điểm về kỹ năng lao động và 32 điểm về chất lượng lao động. Cỏc nhà kinh tế thế giới cũng cảnh bỏo rằng cỏc nền kinh tế cú chất lượng nguồn nhõn lực dưới 35 điểm đều cú nguy cơ mất sức cạnh tranh trờn thị trường toàn cầu. Việt Nam khụng những chỉ cú sự mất cõn đối trong cơ cấu của đội ngũ lao động núi chung mà cũn cú sự mất cõn đối nghiờm trọng trong cơ cấu đào tạo lực lượng lao động theo ngành nghề cũng như sự phõn bổ số lượng lao động này theo cỏc ngành kinh tế và vựng kinh tế. Ngành nụng - lõm - ngư nghiệp với gần 70% lao động xó hội nhưng chỉ cú 14% tổng số lao động kỹ thuật. Đó vậy, số lao động cú trỡnh độ chuyờn mụn kỹ thuật ớt ỏi được phõn bổ cho lĩnh vực này lại chủ yếu tập trung ở khu vực quản lý Nhà nước, cỏc cơ quan nghiờn cứu, đào tạo, cũn trong khu vực sản xuất chỉ chiếm số lượng nhỏ (cú tới 93% cỏn bộ khoa học kỹ thuật làm việc ở cỏc cơ quan Trung ương, 5,4% ở cấp tỉnh và cấp huyện chỉ là 0,3%). Đặc biệt, cú tỡnh trạng thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật ở cỏc khu cụng nghiệp, khu chế xuất. Vớ như ở Đồng Nai hiện cú khoảng 100.000 lao động chưa cú việc làm nhưng vẫn khụng đỏp ứng được 85.000 chỗ làm việc cần thiết cho cỏc khu cụng nghiệp trong tỉnh. Tại khu cụng nghiệp Thủ Đức, Tõn Thuận..., số lao 20
- Xem thêm -