Luận văn tốt nghiệp “sử dụng vốn oda trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở hà nội”

  • Số trang: 98 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24677 tài liệu

Mô tả:

LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bước sang thiên niên kỷ thứ 3 của loài người, cùng với sự phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật và những thành tựu rực rỡ về kinh tế -văn hoá-giáo dục, thì vẫn còn có tới 2/3 dân số thế giới sống trong cảnh nghèo đói, thiếu nước sạch, thiếu sự chăm sóc y tế, giáo dục, thiếu những điều kiện sinh hoạt tối thiểu. Trong một nỗ lực chung, xoá bỏ nghèo đói, và giảm dần quãng cách về trình độ phát triển giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đã có những đóng góp tích cực vì mục tiêu phát triển toàn cầu. Chính phủ Việt Nam hiện đang gánh vác trách nhiệm đưa đất nước tiến lên con đường phát triển, thông qua việc đề cao các mục tiêu phát triển con người, đã dành được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế. Tính đến năm 2000, tổng số vốn ODA giải ngân cho Việt Nam đã lên tới 7,6 tỷ USD, thông qua các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, y tế, giáo dục đào tạo, giao thông, cấp thoát nước, từng bước đã góp phần cải thiện các chỉ số xã hội, nâng cao mức sống người dân, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Trong cả nước, Hà Nội cũng là một trong các tỉnh, thành phố thu hút được nhiều vốn ODA trong các dự án phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở. Nhiều công trình hạ tầng giao thông, cấp thoát nước được xây dựng bằng nguồn vốn ODA đã tạo ra những thay đổi khởi sắc trong nếp sống văn minh đô thị. Hiện nay, chủ trương chung của thành phố là tập trung thu hút, sử dụng vốn ODA hình thành hệ thống cơ sở hạ tầng cơ sở hiện đại, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế. Trong bối cảnh nguồn cung cấp ODA không ngừng giảm sút, sự cạnh tranh quốc tế trong việc thu hút, sử dụng vốn ODA ngày càng diễn ra gay gắt 1 thì việc phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng vốn ODA cho phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở ở Hà Nội, để tìm ra những tồn tại, khó khăn, có biện pháp kịp thời tháo gỡ giải quyết là hết sức cần thiết. Chính vì vậy tôi chọn đề tài “ Sử dụng vốn ODA trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Hà Nội”. 2. Mục đích của đề tài Một là, phân tích tình hình sử dụng vốn ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Hà Nội. Hai là, đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Hà Nội. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng vốn ODA trong phát triển hạ tầng kỹ thuật thành phố Hà Nội, thực trạng sử dụng, những thành tựu và khó khăn tồn tại. 4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Phương pháp luận được đề tài sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể là phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp, khái quát hoá vv... 5. Kết cấu của bài khóa luận Ngoài lời mở đầu, lời kết và danh mục tài liệu tham khảo, bài khoá luận gồm 3 chương: Chương I: Vài nét về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức và vai trò của nguồn vốn này đối với đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Chương II: Thực trạng sử dụng vốn ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật thành phố Hà Nội Chương III: Một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật thành phố Hà Nội 2 3 CHƯƠNG 1 - VÀI NÉT VỀ NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN NÀY ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN ODA 1.1.1 Khái niệm, bản chất và phân loại ODA Khái niệm Hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho nước đang và chậm phát triển. Nguồn vốn từ bên ngoài đưa vào các nước đang và chậm phát triển được thực hiện thông qua các hình thức: - Tài trợ phát triển chính thức (Official Development Finance -ODF) là nguồn tài trợ chính thức của chính phủ cho mục tiêu phát triển. Nguồn vốn này bao gồm ODA và các hình thức ODF khác trong đó ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu. - Tín dụng thương mại từ các ngân hàng (Commercial Credit by Banks) là nguồn vốn chủ yếu hỗ trợ cho các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment-FDI) là loại hình kinh doanh mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn, trực tiếp quản lý quá trình sử dụng vốn, tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi, cũng như các nghĩa vụ tài chính khác với cơ quan nhà nước. - Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ (Non Governmeent Organization-NGO) - Tín dụng tư nhân: loại vốn này có ưu điểm là hầu như không gắn với bất 4 cứ điều kiện ràng buộc nào về chính trị, xã hội, song các điều kiện cho vay rất khắt khe (thời hạn hoàn trả vốn ngắn và lãi suất vay cao), vốn được sử dụng chủ yếu đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn. Vốn này cũng được dùng để đầu tư phát triển và mang tính dài hạn. Tỷ trọng của vốn dài hạn trong tổng số có thể tăng thêm đáng kể nếu triển vọng tăng trưởng lâu dài, đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là khả quan. Các dòng vốn quốc tế này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cần thiết để hiện đại hoá các cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, thì cũng khó có thể thu hút được nguồn vốn FDI, cũng như vay vốn tín dụng để mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhưng nếu chỉ tìm kiếm nguồn vốn tín dụng khác thì chính phủ sẽ không có đủ thu nhập để trả nợ cho các loại vốn ODA. Bản chất Trước những năm 70-80, ODA được coi là nguốn vốn viện trợ của các nước phát triển cho các nước đang và kém phát triển, nó chủ yếu là viện trợ không hoàn lại (cho không) dưới hình thức viện trợ bằng hàng hoá là chủ yếu. Ngày nay, ODA được hiểu là “Hỗ trợ phát triển chính thức”, là hình thức hợp tác phát triển giữa các nước đã công nghiệp hoá, các tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển. Theo quan điểm này, phần nhỏ của ODA là viện trợ không hoàn lại, còn chủ yếu là các khoản vốn vay với điều kiện ưu đãi. Do vậy, ODA là nguồn vốn có khả năng ”gây nợ”. Khi tiếp nhận và sử dụng ODA, do tính chất ưu đãi của nó nên gánh nặng nợ nần thường không thấy ngay. Một số nước do không sử dụng hiệu quả nên có thể tạo ra sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Sự phức tạp ở chỗ, ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu, xong việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu để thu ngoại tệ. Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), xác định một quốc gia có khả năng trả nợ nước ngoài là khi nước này có thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nợ nước ngoài hiện tại và tương lai mà 5 không cần dựa vào việc giảm hoặc bố trí lại lịch trả nợ hoặc chồng chất thêm nợ, mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nước đó cần phải đạt các tiêu chí sau: - Tỷ lệ giữa nợ hiện tại theo thời giá so với xuất khẩu trong khoảng 200-250% (Tỷ lệ nợ tồn đọng). - Tỷ lệ giữa dịch vụ trả nợ so với tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ trong khoảng 22-25% (Tỷ lệ thanh toán tiền mặt ). Nhiều nước nghèo mắc nợ nhiều sẽ không có khả năng đạt tỷ lệ này trong tương lai. Theo số liệu năm 1999, trong số những nước nợ nhiều nhất có: Braxin (179 tỷ USD); Mêxicô (157 tỷ); Trung Quốc (129 tỷ USD); Indonêxia (129 tỷ USD); Achentina (94 tỷ USD); Thái Lan (91 tỷ USD). Nhiều nước nghèo hơn còn có mức nợ nước ngoài lớn hơn GNP. Chẳng hạn, trong năm 1996, Nigiêria có GNP 27,6 tỷUSD- Nợ 31,4 tỷ USD; Jordan 7,1 tỷ USD- Nợ 8,1 tỷ USD; Lào 1,9 tỷ USD-Nợ 2,3 tỷ USD; Mozambique 1,5 tỷ USD-Nợ 5,8tỷ USD. ODA phải được hiểu là các “khoản vay”, không có nghĩa là “cho không”, do đó các nước tiếp nhận viện trợ cần phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi lựa chọn mỗi khoản vay, đồng thời phải quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay này, tạo lực hút để thu hút những nguồn vốn khác (FDI, tín dụng thương mại quốc tế v.v...), là cơ sở, tiền đề cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Phân loại Theo tính chất - Viện trợ không hoàn lại: Là các khoản cho không, không phải hoàn trả. - Viện trợ có hoàn lại: Các khoản cho vay ưu đãi (Vay tín dụng với điều kiện “Mềm”, lãi suất thấp, thời hạn khoản vay thường từ 20-30 năm, thời gian ân hạn dài). - Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện 6 dưới hình thức vay tín dụng (Có thể ưu đãi hoặc thương mại). Theo mục đích - Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ bản - Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn vốn giành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu đầu tư, phát triển thể chế và nguồn nhân lực.... loại viện trợ này chủ yếu là viện trợ không hoàn lại. Theo điều kiện - ODA không ràng buộc: Việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng. - ODA có ràng buộc. + Bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn ODA chỉ giới hạn trong một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (Đối với viện trợ song phương, hoặc công ty của các nước thành viên (Với viện trợ đa phương). + Bởi mục đích sử dụng: chỉ được sử dụng ở một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể. + ODA có thể ràng buộc một phần: Một phần chi ở nước viện trợ, phần còn lại chi ở bất cứ nơi nào. Theo hình thức - Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ưu đãi. - Hỗ trợ phi dự án bao gồm các hình thức sau: + Hỗ trợ cán cân thanh toán: Thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp 7 (Chuyển giao tiền tệ), hoặc hỗ trợ hàng hoá, hoặc hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá chuyển giao qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách. + Hỗ trợ trả nợ - Viện trợ chương trình: là khoản ODA giành cho một mục đích tổng quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó được sử dụng như thế nào. 1.1.2 Nguồn gốc lịch sử của ODA ODA được hình thành sau đại chiến thế giới thứ II, các nước công nghiệp phát triển đã có sự thoả thuận trợ giúp các nước thế giới thứ 3 dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi. Ngày 14-21960, tại Paris các nước đã ký thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organization for Economic and Development-OECD), tổ chức này bao gồm 20 nước thành viên ban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc cung cấp ODA song phương và đa phương. Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra các ủy ban chuyên môn, trong đó có Ủy ban Hỗ trợ Hợp tác Phát triển (Development Assistance Committee-DAC), nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư. Thành viên ban đầu của DAC gồm 18 nước. Thường kỳ các nước thành viên của DAC thông báo cho ủy ban các khoản đóng góp của họ cho các chương trình viện trợ phát triển và trao đổi với nhau các vấn đề liên quan đến chính sách viện trợ phát triển. Thành viên của DAC hiện nay gồm có: Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ailen, Italia, Hà Lan, Nauy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, Mỹ, Ôtrâylia, Niudilân, Nhật Bản, Luxămbua, Tây Ban Nha và Liên minh Châu Âu-EC. 1.2 VÀI NÉT VỀ CỘNG ĐỒNG CÁC NHÀ TÀI TRỢ 1.2.1 Cộng đồng các nhà tài trợ 8 Nguồn cung cấp viện trợ song phương - Các thành viên của DAC Ngày 14-2-1960, tại Paris các nước đã thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác phát triển kinh tế-OECD, ban đầu gồm 20 viên thành viên. Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra các ủy ban chuyên môn trong đó có DAC, ủy ban hỗ trợ hợp tác phát triển, ban đầu gồm 18 thành viên, hiện nay là 21 thành viên. Thành viên hiện nay của DAC gồm có: Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ailen, Italia, Hà Lan, Nauy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, Mỹ, Ôtrâylia, Niudilân, Nhật Bản, Luxămbua, Tây Ban Nha và Liên minh Châu Âu-EC. Trong tổng số ODA viện trợ song phương, ODA từ các nước thành viên của DAC là lớn nhất. Năm 1997, DAC cung cấp 48,324 tỷ USD bằng 0,22% GNP của các nước này. Năm 2000 là 45,711 tỷ USD, bằng 0,205% GNP. Trong giai đoạn từ 1991-1997, tất cả các nhà tài trợ đều giảm ODA/GNP, riêng Mỹ là nước giảm nhiều nhất. Viện trợ của nước này năm 1997 là 6878 tỷ USD, chiếm 0,09% GNP (trong khi năm 1991 là 11709 tỷ USD-0,2%GNP). Thụy Điển và các nước Bắc Âu vốn được coi là hào phóng cũng chỉ dành viện trợ 1% GNP của mình. Bảng 1 : Điều kiện cho vay của một số nhà tài trợ lớn Đối tác Lãi suất Thời hạn Ân hạn Hà Nội vay lại (%) (năm) (năm) (%) Nhật Bản (OECF) 0,75 40 10 0,75-1 WB 0,75 30-40 5-10 6,5 ADB 1 15-20 5-7 6,5 Pháp (ADF) 1-2 15-20 4-6 3-5 Nguồn: Phòng viện trợ và vốn vay-Sở KHĐT Hà Nội - Một số quốc gia khác Đóng góp vào viện trợ song phương còn có một số quốc gia khác như: Liên bang Nga, một số nước Đông Âu, Ả Rập, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore... Tuy nhiên, lượng viện trợ thông qua nguồn này là rất nhỏ. Nguồn cung cấp viện trợ đa phương 9 Bên cạnh việc cung cấp ODA trực tiếp (đóng vai trò là các nhà tài trợ song phương), các nước cung cấp ODA còn chuyển giao ODA cho các nước đang phát triển thông qua các tổ chức viện trợ đa phương đó là: - Các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc: + Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) + Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNCEF) + Chương trình lương thực thế giới (WFP) + Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) + Tổ chức Y tế thế giới (WHO) + Tổ chức nông nghiệp và lương thực (FAO) Viện trợ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc thường được thực hiện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại, bằng nguồn vốn của Liên hợp quốc. Ngân sách của Liên hợp quốc do các thành viên của Liên hợp quốc đóng góp hàng năm. Mỹ là nước đóng góp nhiều nhất vào ngân sách của Liên hợp quốc tuy nhiên hiện nay cũng là nước nợ những khoản phải đóng góp cho Liên hợp quốc nhiều nhất. - Quỹ tiền tệ quốc tế IMF: Được thành lập vào tháng 12 năm 1945 gồm 173 nước thành viên. Điều kiện cho vay của IMF khá khắt khe: Chính phủ các nước đi vay phải cam kết không vi phạm điều lệ, phải thường xuyên cung cấp các thông tin về tình hình tài chính tiền tệ của nước mình, phải trả lệ phí vay từ 0-5% giá trị khoản vay. - Ngân hàng thế giới (WB): Ngân hàng thế giới gồm 5 tổ chức chính: + Ngân hàng tái thiết phát triển (International Bank for Reconstruction and Development-IBRD). Lãi suất các khoản vay IBRD được điều chỉnh 6 tháng một lần, thời hạn trả nợ 15-20 năm, trong đó thời gian ân hạn là 5 năm. + Hiệp hội phát triển quốc tế (International Development AssociationIDA). Vay IDA không có lãi suất chỉ có phí dịch vụ 0,75%/năm, thời hạn vay 40 năm trong đó có thời gian ân hạn 10 năm. + Công ty tài chính quốc tế (International Finance Corporation-IFC). 10 Vay IFC lãi suất vay tính theo lãi suất trên thị trường vốn quốc tế. Thời gian vay từ 3-15 năm, thời gian ân hạn 5-8 năm. + Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương (Multilateral Investment Guarantee Agency-MIGA). - Ngân hàng phát triển Châu Á (Asia Development Bank-ADB) gồm 55 nước thành viên. + Vay từ nguồn vốn phát triển Châu Á (ADF): Nguồn này dành cho các nước có thu nhập dưới 851USD/người/năm, không lãi suất, thời gian hoàn trả 40 năm, thời gian ân hạn 10 năm, phí phục vụ 1%/năm. + Vay vốn thường xuyên (OCR) dành cho các nước có thu nhập trên 851USD/người/năm, thời hạn vay 15-20 năm, thời gian ân hạn khoảng 7 năm, lãi suất 5-7%/năm. + Vay vốn hỗ trợ kỹ thuật (IASF) thường là viện trợ không hoàn lại dưới hình thức hỗ trợ kỹ thuật. + Vay vốn Nhật Bản (JSF). - Tổ chức dầu mỏ OPEC gồm 13 nước thành viên, nguồn vốn của tổ chức này nhỏ, cung cấp các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi cho các nước kém phát triển. - Quỹ Cô Oét. - Ngân hàng phát triển Châu Phi. 1.2.2 Mục đích của các nhà tài trợ Trong quá trình viện trợ ODA cho những nước đang phát triển, các nhà tài trợ cũng theo đuổi những mục tiêu riêng, mưu cầu những lợi ích riêng cho mình. Mục tiêu thứ nhất, các nước phát triển sử dụng ODA như một công cụ chính trị xác định vị trí ảnh hưởng của mình tại nước hoặc khu vực tiếp nhận ODA. Một số nước, tiêu biểu là Mỹ đã dùng ODA làm công cụ thực hiện ý đồ “Gây ảnh hưởng chính trị trong thời gian ngắn”. Các nước này một mặt dùng viện trợ để bày tỏ sự gần gũi tiến đến thân thiết về mặt chính trị, mặt khác tiếp 11 cận với các quan chức cao cấp của các nước đang phát triển mở đường cho hoạt động ngoại giao trong tương lai. Qua đó, họ “Lái” các nước này chấp nhận một lập trường nào đó trong ngoại giao, đồng thời can thiệp vào sự phát triển chính trị của nước đang phát triển. Viện trợ kinh tế cũng là thủ đoạn chính trong việc tiến hành thâm nhập văn hoá, tư tưởng đối với nước nhận viện trợ. Mục tiêu thứ hai, các nhà tài trợ sử dụng ODA để mưu cầu kinh tế. Bỉ và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa dịch vụ của mình, Canada yêu cầu cao nhất tới 65%; Thụy Sĩ 1,7%; Hà Lan 2,2%. Nhìn chung 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hoá của các quốc gia viện trợ. Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư. Nhật Bản là một minh chứng đầy đủ về việc sử dụng ODA như là một công cụ ngoại giao lợi hại. Nhật Bản là một quốc gia nghèo về tài nguyên thiên nhiên, họ lựa chọn con đường phát triển kinh tế bằng việc đẩy mạnh xuất khẩu. Do vậy, Nhật Bản rất cần mở rộng thị trường ra nước ngoài để thúc đẩy sản xuất trong nước. Các nước Châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á đã thực sự hấp dẫn Nhật Bản về thị trường tiêu thụ hàng hoá sản phẩm và thị trường đầu tư. Khu vực này có vị trí địa lý thuận lợi, nguồn lao động dồi dào và rẻ mạt, tài nguyên thiên nhiên phong phú, không quá xa Nhật Bản, về văn hoá có nhiều nét tương đồng. Thông qua bồi thường chiến tranh, Nhật Bản đã bình thường hoá quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á. Thời kỳ này, viện trợ của Nhật Bản chủ yếu là hàng hóa, đây là cách tốt nhất để giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của Nhật ra nước ngoài. Từng bước Nhật Bản đã biến Đông Nam Á thành thị trường tiêu thụ sản phẩm hết sức an toàn cho mình. Đồng thời thông qua ODA và các điều kiện ràng buộc, các công ty của Nhật có được những hợp đồng béo bở, có được những cơ hội đầu tư ưu đãi. Trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, Nhật Bản đã có một quyết định quan trọng trong việc trợ giúp các 12 nước Đông Nam Á, là nơi chiếm tỷ lệ tương đối về mậu dịch và đầu tư của Nhật. Nhật Bản đã nhận gánh vác một phần cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á bằng kế hoạch trợ giúp do Bộ trưởng tài chính Nhật Kiichi Miyazawa đề xuất vào tháng 10 năm 1998. Theo đó, Nhật Bản sẽ dành 15 tỷ USD tiền mặt cho các nhu cầu vốn ngắn hạn, chủ yếu là lãi suất thấp và tính bằng đồng Yên và dành 15 tỷ USD cho mậu dịch và đầu tư có nhân nhượng trong vòng 3 năm. Tính đến đầu năm 1999, những nước được Nhật công bố dành cho sự trợ giúp này gồm có: Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philipin và Hàn Quốc. Các khoản viện trợ nói trên được thực hiện vì lợi ích của hai bên, cứu nền kinh tế khu vực để làm sống lại nền kinh tế Nhật Bản. Các khoản vay này được tính bằng đồng Yên và gắn với các dự án do Công ty Nhật tham gia. Như vậy viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là sự trợ giúp hữu nghị, mà còn là một công cụ lợi hại để kiếm lời cả về kinh tế và tài chính cho nước tài trợ. Những nước cấp viện trợ gò ép các nước nhận phải thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của bên viện trợ. Khi nhận viện trợ các nước cần cân nhắc kỹ lưỡng các điều kiện của các nhà tài trợ. Không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài. Quan hệ hỗ trợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, chung sống hoà bình. 1.2.3 Sự phân bố ODA trên thế giới Sự phân phối ODA trên thế giới diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia, giữa các châu lục. Kể từ năm 1970, ODA chủ yếu hướng vào tiểu vùng Shahara, riêng Nhật Bản lại ưu tiên cho Châu Á. - Phân phối ODA theo nhóm nước: Do ODA chủ yếu mang tính chất hỗ trợ phát triển nên phần lớn ODA tập trung cho những nhóm nước có thu nhập thấp và những nhóm nước chậm phát triển. Viện trợ từ các nước DAC tập trung vào những nước có thu nhập thấp (Latest Income Countries-LICs), các nước chậm phát triển nhất (Latest Development Countries-LDCs) cũng được viện trợ ngày càng tăng kể từ những năm 1970. Nhật Bản, Anh, Thụy Sĩ 13 và các nước Bắc Âu tập trung viện trợ các nước LICs, trong đó các nước Bắc Âu tập trung vào các nước LDCs. - Phân phối ODA theo lĩnh vực của DAC: + Giáo dục, y tế: 16,8% + Cung cấp nước và vệ sinh: 6,6% + Vận tải, thông tin, năng lượng: 24,5% + Nông nghiệp: 9,5% + Giảm nợ: 5,7% + Cứu trợ khẩn cấp: 5,1% + Hỗ trợ chương trình: 4,7% + Còn lại là các lĩnh vực khác 1.2.4 Những ưu đãi của ODA So với hình thức vay vốn và tài trợ khác, ODA mang nhiều tính ưu đãi hơn. Các khoản vốn ODA thường có thời gian vay (thời gian hoàn trả) dài, thường từ 20-30 năm trở lên, có thời gian ân hạn dài (thời gian chỉ phải trả lãi vay chưa phải trả nợ gốc). Thông thường ODA có một phần viện trợ không hoàn lại (tức là cho không), đây chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại. Yếu tố cho vay được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh giữa mức lãi suất viện trợ và mức lãi suất tín dụng thương mại trong tập quán quốc tế. Đối với ODA ưu đãi yếu tố không hoàn lại ít nhất đạt 25% giá trị khoản vay. Nguồn vốn vay của các tổ chức WB, ADB chỉ có phí phục vụ, thời hạn cho vay dài bao gồm cả thòi kỳ ân hạn, cụ thể: Vay IDA không lãi suất, phí phục vụ 0,75%/năm, thời hạn vay 40 năm bao gồm cả thời kỳ ân hạn 10 năm; Vay ADF không lãi suất, phí phục vụ 1% thời hạn vay 40 năm bao gồm cả thời kỳ ân hạn 10 năm; Vay của các chính phủ tuỳ thuộc vào loại đồng tiền cho vay khác nhau thì có mức lãi suất khác nhau, thời gian vay từ 20-30 năm trong đó thời kỳ ân hạn 5-10 năm. Tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng cho 14 các quốc gia đang và chậm phát triển và vì mục tiêu phát triển. Thông thường mỗi nước cung cấp ODA đều có những chính sách riêng tập trung vào những lĩnh vực họ quan tâm hoặc có khả năng (công nghệ, kinh nghiệm quản lý...). Đồng thời mục tiêu ưu tiên của các nước cũng thay đổi theo từng giai đoạn. Vì vậy, việc nắm được hướng ưu tiên của các nước, các tổ chức là hết sức cần thiết đối với những nước tiếp nhận viện trợ. 1.3 VAI TRÒ CỦA ODA TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG 1.3.1 Đặc điểm của đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một bộ phận cơ bản của kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng, một quốc gia. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm các bộ phận chủ yếu sau: - Hệ thống giao thông - Hệ thống cấp nước sạch - Hệ thống thoát nước - Công viên, cây xanh - Vệ sinh, môi trường - Hệ thống chiếu sáng công cộng - Hệ thống bưu chính viễn thông Đầu tư cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật có một số đặc điểm chủ yếu sau: - Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi một khối lượng vốn, vật tư, lao động lớn. Do đó, các giai đoạn của quá trình đầu tư, đặc biệt là giai đoạn chuẩn bị đầu tư phải được tiến hành nghiêm túc, tỷ mỷ đảm bảo tính chính xác và khoa học. Khi xây dựng các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng cần nghiên cứu, đánh giá các nguồn vốn huy động (vốn ngân sách, vốn tư nhân, vốn nước ngoài...) về: khả năng huy động, lãi suất, điều kiện vay vốn, thời hạn vay, tiến độ giải ngân, phương thức hoàn trả... để tìm ra nguồn vốn phù hợp. Đồng thời, dự tính các nguồn cung cấp vật tư (trong nước, quốc tế, 15 đơn vị cung cấp, giá cả...), và dự tính các nguồn lao động sử dụng (lao động địa phương, chuyên gia trong nước, chuyên gia quốc tế...). Trong giai đoạn thực hiện dự án phải đảm bảo triển khai đúng tiến độ, rút ngắn thời gian thi công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, lao động, vật tư. Bên cạnh đó, phải xem xét khía cạnh hậu dự án: lao động hậu dự án, vật tư, thiết bị hậu dự án... Một số dự án lớn (thuộc lĩnh vực giao thông, cấp, thoát nước...) thu hút hàng ngàn lao động và vô số máy móc, thiết bị. Sau khi các dự án này hoàn thành cần có kế hoạch giải quyết việc làm cho số lao động dôi dư và huy động máy móc, thiết bị sử dụng cho các công trình, dự án khác. - Thời gian thực hiện các dự án kết cấu hạ tầng kỹ thuật thường kéo dài.Vì vậy, khâu chuẩn bị dự án phải tốt mới đảm bảo triển khai dự án được thuận lợi. Phải lập kế hoạch đầu tư theo thời gian và đảm bảo hoàn thành dự án ở từng khâu, hạng mục đúng tiến độ. Quá trình đầu tư kéo dài, do đó phải phân kỳ đầu tư chia thành nhiều giai đoạn, hạng mục. Công trình, hạng mục nào hoàn thành sẽ đưa ngay vào sử dụng phát huy hiệu quả, tạo tiền đề cho công trình, hạng mục tiếp theo triển khai thực hiện. - Các dự án kết cấu hạ tầng kỹ thuật chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất định: lạm phát, trượt giá, biến động về tỷ giá... Cần phân tích độ nhạy cảm của dự án, lựa chọn phương án có tính khả thi cao, hiệu quả ngay cả khi xảy ra biến động. Đồng thời, dự tính trước các biến động (về quy mô, mức độ...) để có kế hoạch đối phó, giải quyết kịp thời. - Tính chất kỹ thuật của các dự án thường rất phức tạp. Ngay từ khi lập dự án, phân tích kỹ thuật cần được nghiên cứu với sự trợ giúp, từ vấn của các chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu (trong nước và quốc tế) về từng khía cạnh của dự án. Quyết định đúng đắn trong phân tích kỹ thuật sẽ loại bỏ các dự án không khả thi, giảm chi phí, tổn thất, giảm ô nhiễm và kéo dài tuổi thọ công trình. - Các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật thường có tuổi thọ kéo dài 516 10 năm, thậm chí hàng trăm năm. Vì vậy, quá trình vận hành cần phải kết hợp với bảo trì, bảo dưỡng nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và tuổi thọ của công trình. - Vị trí của các công trình cố định, gắn liền với các điều kiện về địa hình, địa chất, khí hậu và các điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội. Do đó, chọn địa điểm triển khai dự án có quyết định không nhỏ tới sự thành công của dự án và có tác động lớn đến văn hoá, kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng của địa phương nơi có dự án triển khai thực hiện. - Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật có hiệu quả kinh tế-xã hội lớn, tuy nhiên hiệu quả tài chính trực tiếp thường khó đánh giá, khó xác định, khả năng thu hồi vốn thấp. Nghiên cứu những đặc điểm nói trên của đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật cho phép chúng ta có những biện pháp quản lý tối ưu và lựa chọn các nguồn vốn đầu tư phù hợp. 1.3.2 Vai trò của đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật Cơ sở hạ tầng kỹ thuật không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất, nhưng có vai trò hết sức quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển, là cơ sở nền tảng nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng đô thị có những vai trò cơ bản sau: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Theo thống kê của WB, cứ 1% đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở các nước đang phát triển sẽ tạo ra 1% tốc độ tăng trưởng của GNP. Mối quan hệ này thể hiện qua chỉ số ICOR Vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật ICOR = Mức tăng GNP Mối quan hệ giữa đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và tăng trưởng, phát triển kinh tế còn được thể hiện qua mô hình dưới đây: 17 P AS Y AD1 AD2 Tăng đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật kéo theo tăng nhu cầu lao động, vật tư... làm tăng cầu đầu tư (D1) dẫn đến làm dịch chuyển đường tổng cầu từ AD1-AD2 , sản lượng tăng từ Y1-Y2 , mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt được. Mặt khác, khi thành quả của công cuộc đầu tư phát huy tác dụng, các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật được đưa vào phục vụ đời sống nhân dân, nó sẽ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành khác phát triển, từ đó làm tăng giá trị sản xuất (GO) của các ngành, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tạo ra sự chuyển dịch kinh tế Đầu tư, đặc biệt là đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật được chính phủ các nước sử dụng như một công cụ điều chỉnh tốc độ tăng trưởng như mong muốn và điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Ở các nước đang phát triển, tăng cường đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật một mặt tạo ra sự tăng trưởng nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ, mặt khác sẽ thúc đẩy (hoặc hạn chế) sự phát triển của một số ngành, kết quả là sẽ kéo theo sự chuyển dịch kinh tế. Thực tế, ở Việt Nam trong thời gian qua là một ví dụ, việc tăng cường đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở các khu công nghiệp (Bình Dương, Sóng Thần...), các vùng kinh tế trọng điểm (Hà Nội, Hải Phòng, TP HCM...) đã tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực công nghiệp-du lịch-dịch vụ ở các 18 vùng đó nói riêng và cả nước nói chung (giá trị sản xuất công nghiệp ở Hà Nội năm 2001 tăng 10,6%; TP HCM tăng 14,5%...). Bên cạnh đó, việc phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ, xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng làm giảm quỹ đất nông nghiệp, giảm diện tích vùng nguyên liệu của một số ngành công nghiệp chế biến (mía đường, dầu thực vật...), kết quả làm giảm tương đối sự phát triển của các ngành này, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp-du lịch-dịch vụ ở Việt Nam trong thời gian vừa qua. Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật cũng có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ (giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi), góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân (thông qua các chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch nông thôn...) thúc đẩy phát triển kinh tế vùng. Góp phần duy trì sự phát triển bền vững Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển trong đó những quyền lợi cơ bản của con người được bảo đảm. Sự phát triển phải thoả mãn những yếu tố sau: Sự xoá bỏ nghèo đói và bóc lột, sự giữ gìn và tăng cường các nguồn tài nguyên, sự tăng trưởng cả về kinh tế lẫn văn hoá xã hội và sự thống nhất giữa môi trường sinh thái và kinh tế trong hoạch định chính sách. Đầu tư cho kết cấu hạ tầng tạo ra sự tăng trưởng bền vững được thể hiện dưới các góc độ sau: - Điều tiết tốc độ tăng trưởng giữa các vùng, giảm sự mất cân đối. - Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập. - Tạo động lực cho các ngành khác phát triển. - Xoá đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. - Giảm ô nhiễm môi trường , giảm tình trạng quá tải cho hệ thống cơ 19 sở hạ tầng hiện có ở các vùng, miền tập trung đông dân cư, những khu đô thị lớn, nâng cấp và tạo mới những cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, thúc đẩy quá trình đô thị hoá. 1.4 BÀI HỌC SỬ DỤNG ODA TRONG PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG KỸ THUẬT CỦA CÁC NƯỚC 1.4.1 Bài học thành công Các nước như Bostwana, Chi lê, Hàn Quốc, Malaysia, Srilanka... đã sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay và tài trợ nước ngoài, tạo thế và lực, đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế. Sự thành công trên bắt nguồn từ những nguyên nhân sau: - Có chiến lược, chính sách thu hút vốn ODA rõ ràng. Có sự tổ chức, điều phối nhịp nhàng giữa các cơ quan thực hiện, đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn ODA và sử dụng có hiệu quả. - Có sự cân nhắc kỹ lưỡng từng nguồn vốn vay và tài trợ: về điều kiện vay, thủ tục, qui mô... để lựa chọn ra nguồn vốn tài trợ tối ưu phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. - Có sự điều phối, huy động các nguồn vốn đối ứng để đẩy nhanh tốc độ giải ngân. - Có chiến lược đào tạo, hình thành đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ năng lực tham gia trực tiếp vào dự án - Có sự thẩm định, chọn lọc dự án kỹ lưỡng, kết hợp với việc giám sát thực hiện dự án nghiêm túc. - Có khả năng quản lý nợ nước ngoài, đồng thời có chiến lược, kế hoạch vận động, kêu gọi tài trợ vốn ODA cho từng chương trình, dự án, mục tiêu cụ thể. 1.4.2 Bài học thất bại Một số quốc gia không thành công trong công tác huy động, sử dụng nguồn vốn vay và tài trợ quốc tế đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, phải kể đến là các quốc gia khu vực nam Sahara (SSA): Ghana, Senegal, Tazania... 20
- Xem thêm -