Luận văn thơ tình của exenhin

  • Số trang: 90 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 140 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN NGỮ VĂN NGUYỄN THỊ TẤN THƯ MSSV: 6075458 Đề tài : THƠ TÌNH CỦA EXENHIN Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ văn – Khóa: 2007 – 2011 Cán bộ hướng dẫn: Th.S. TRẦN VĂN THỊNH Cần Thơ tháng 5 - 2011 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Exenhin là 1 trong những nhà thơ tiêu biểu cho “thế kỷ bạc của thi ca Nga” vào thế kỷ XX, suốt cuộc đời ông sống hết mình cho thơ ca. Ông xuất thân trong 1 gia đình nông dân, có tuổi thơ sống êm đềm nơi đồng quê thơ mộng và lãng mạn bên những cánh đồng lúa mạch. Chính bà ngoại là người khơi gợi những cảm xúc để Exenhin viết nên những trang thơ đầu tiên. Có lẽ môi trường sống gắn bó với thiên nhiên và tình thương vô bờ của ông bà ngoại đã góp phần tạo nên chất trữ tình lãng mạn trong thơ ông. Еxenhin được xem như một vị chúa tể của làng quê, của thiên nhiên Nga. Tên tuổi của ông có lẽ chỉ đứng sau mặt trời Puskin trong nền thi ca của nước này, Blok đã gọi ông là “nhà thơ của thiên nhiên”. Đa số những tác phẩm của ông đều chan chứa một tình cảm chân thành và thiết tha gắn bó với thiên nhiên, con người, với quê hương, đất nước. Cũng chính những tình cảm nhẹ nhàng mà sâu lắng, đôi khi vồ vập mà chân thành đã chinh phục trái tim của biết bao độc giả, và ông đã trở thành một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng. Exenhin là một nhà thơ lãng mạn, bên cạnh mảng thơ viết về quê hương, đất nước, thiên nhiên thì mảng thơ viết về tình yêu đôi lứa cũng chiếm một phần không nhỏ trong sự nghiệp thơ ca đồ sộ của ông. Tình yêu trong thơ ông được thể hiện đầy đủ màu sắc, cung bậc và ông đã có những khám phá rất độc đáo. Tình yêu là đề tài muôn thưở của thơ ca, và cũng không ai biết tình yêu có từ khi nào. Nhưng bất kỳ thời đại nào, bất kỳ ở đâu, nơi nào có con người thì nơi đó có tình yêu xuất hiện. Tình yêu đôi lứa cũng thiêng liêng, màu nhiệm như bao tình yêu khác, nhưng nó cũng rất khó lý giải. Có nhiều người cho rằng tình yêu là không có lý do cụ thể chỉ đơn giản là sự hòa hợp của hai trái tim, hai tâm hồn. Tình yêu không có hình khối nhưng nó lại có sức mạnh vô biên có thể làm thay đổi mọi thứ. Tình yêu không có trọng lượng, không thể cân, đo, đong, điếm được nhưng nó lại có rất nhiều hương vị và màu sắc khác nhau. Có lẽ vì thế tình yêu là đề tài nói mãi không chán, là nguồn cảm xúc khơi hoài không cạn, và từ xưa đến nay đã có biết bao nhà văn, nhà thơ viết về nó như Lev Tolstoy, Puskin… Exenhin cũng không ngoại lệ, đến với những vần thơ viết về tình yêu của ông chúng ta cảm nhận được tình yêu mang đậm một dấu ấn rất riêng, rất độc đáo. Chính vì thế người viết chọn đề tài “Thơ tình của Exenhin” để làm luận văn tốt nghiệp. Bên cạnh đó người viết chọn đề tài này không chỉ do thơ tình yêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Exenhin mà ông còn là nhà thơ có đóng góp lớn lao cho nền văn học nhân loại. 2. Lịch sử vấn đề Thơ X. Exenhin bắt đầu được tuyển dịch sang tiếng việt từ những năm 1960, và đến năm 1995 thì đã có gần 100 bài thơ được dịch và in trong hai tuyển tập thơ Exenhin. Trong suốt quá trình thơ Exenhin được dịch và giới thiệu ở Việt Nam, trên báo chí cũng lần lượt xuất hiện một số bài phê bình về Thơ Exenhin có thể điểm qua một số như sau: 2 Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ X. Exenhin, dịch giả Thúy Toàn đã chủ biên tuyển tập các tác phẩm của Exenhin và in trong tập “Thơ Exenhin” – Nhà xuất bản văn học Hà Nội, 1995. Trong tuyển tập này Thúy Toàn có bài giới thiệu về tiểu sử và những sáng tác chính của Exenhin. Bên cạnh đó dịch giả Thúy Toàn cũng có tập hợp và giới thiệu một số nhận xét của các nhà văn Nga về thơ của Exenhin, trong đó có nhận xét của nhà văn L. Lêônôp: “Tài năng vang dội của Exenhin cho thấy có một diện tích sáng tạo lớn lao. Tôi tin rằng X. Exenhin còn có thể làm nhiều hơn nữa….”. [13; tr 249] Trong bài viết của Trang Thanh trong quyển “Truyện kể về các nhà văn thế giới” – Nhà xuất bản Giáo dục do Nguyệt Minh (chủ biên), cũng có giới thiệu về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của Exenhin. Bên cạnh đó Trang Thanh còn giới thiệu một số nội dung chủ yếu trong thơ trữ tình của Exenhin và nói về những băn khoăn, trăn trở của Exenhin cho vận mệnh của đất nước: “Ca ngợi cuộc Cách mạng tháng Mười và vai trò của nông dân trong lịch sử, nhưng Exenhin cũng bài tỏ trong thơ mình nỗi lo âu về sự thành thị hóa nông thôn theo đà phát triển của kỹ thuật” [6; tr 64] Trong bài viết “Quê hương trong thơ Exenhin” của Nguyễn Hải Hà được in trong quyển “Văn học Nga sự thật và cái đẹp” – Nhà xuất bản Giáo dục, 2002. Nguyễn Hải Hà đã có những nhận xét về đề tài tình yêu quê hương trong thơ trữ tình của Exenhin. Tuy bài viết chỉ dừng lại ở mức sơ lược khái quát chưa đi vào phân tích sâu vấn đề, tuy nhiên đây là bài viết rất thiết thực về hình ảnh nước Nga được thể hiện trong thơ của Exenhin. “Exenhin nhìn từ phương Đông” đăng trên báo Văn nghệ ngày 16/12/1989, được in trong quyển: “Từ cái nhìn văn hóa” – Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Hà Nội, xuất bản năm 1999. Có một số nhận xét về nội dung triết học mang đậm chất phương Đông trong thơ Exenhin. Đồng thời, tác giả bài viết còn đưa ra một số luận điểm bàn về mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người trong thơ Exenhin, cũng như trong thơ ca phương Đông. Trong quyển “Chân dung văn học” của nhiều tác giả do Vương Trí Nhàn (tuyển chọn) – Nhà xuất bản hội nhà văn Hà Nội, 2000. Trong bài viết của I. Erenbua về Exenhin do Vương Trí Nhàn dịch có nhận xét về thơ Exenhin: “Đặc trưng cho giọng thơ Exenhin là một nỗi buồn sâu lắng: thứ thơ đó không phải là của riêng thời đại nó ra đời, mặc dù nhiều bài viết về thời đại ấy…” [8; tr 288]. Hay là “Thơ Exenhin dịu dàng, rất có tình người; ở đây, người ta không thấy sự khắc nghiệt, sự lạnh lẽo về tình cảm.”[8; tr 291] Trong quyển “Lịch sử văn học Xô viết” (quyển 1, tập 1) do nhóm tác giả Nguyễn Kim Đính, Hoàng Ngọc Hiến, Huy Liên (biên soạn) – Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội,1982. Có viết về Exenhin và có nói về đề tài trung tâm trong thơ trữ tình của Exenhin trước và sau cách mạng. Đồng thời có nêu một số nhận định về thơ ông: “Thơ trữ tình của Exenhin mở đường cho loại thơ ca đi vào sự phân tích chiều sâu tâm lý của quá trình hình thành nhân cách mới” [1; tr 114]. Bên cạnh đó thì bài viết này cũng có nói về sự dằn vặt ngay trong chính con người Exenhin “…là quá trình đau khổ với bao nhiêu dằn vặt của nhà thơ muốn dứt bỏ 3 những mối liên hệ với nước Nga cũ (nghèo hèn) để đi đến với cách mạng và cuộc sống mới” [1; tr111 ] Trong công trình của Vũ Tiến Quỳnh “Maxim Gorki – Essenin – Aitmatov – Ostrovski” – Nhà xuất bản Văn nghệ TP HCM, 1995 có bài viết của Nguyên An về Exenhin. Trong bài viết này có nói sơ lược về tiểu sử và con đường đến với thơ ca của Exenhin. Bên cạnh đó bài viết còn bình luận sơ về các tập thơ của ông và đề cập đến sự mâu thuẫn trong tâm hồn Exenhin: “Cách mạng tháng Mười nổ ra Exenhin nhiệt tình chào đón, tuy trong lòng còn chút nối tiếc lối sống bình lặng của nông thôn Nga cũ với mọi tập tục, lề thói cổ xưa”[9; tr 47]. “Bài giảng văn hoc Nga thế kỷ XX”- 2005 của Trần Thị Nâu có bài nói về tiểu sử, nội dung và đặc điểm thơ trữ tình của Exenhin. Ngoài ra còn nói về ý nghĩa của những sáng tác của ông. Tuy có ngắn gọn nhưng bài viết đã giới thiệu đầy đủ nội dung chính của thơ trữ tình, mà đặc biệt là mảng thơ tình yêu của Exenhin. Qua đó người viết hiểu thêm về hình ảnh cũng như đặc điểm thơ tình của Exenhin. Exenhin còn được giới thiệu trong quyển “Văn học Nga trong nhà trường” – Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Thị Hòa có bài viết về hình tượng cây bạch dương: “Exenhin là thi sĩ cuối cùng của làng quê Nga và Exenhin cũng là thi sĩ của bạch dương Nga” [4; tr 176]. Bên cạnh đó bài viết còn nói đến phong cách ngôn ngữ thơ Exenhin “Đó là sự giản dị, súc tích trong từng từ ngữ, hài hòa trong hình ảnh, sự uyển chuyển đầy sức ngân rung trong âm điệu và sự rõ ràng mạch lạc trong cảm xúc” [4; tr 176]. Đây là bài viết rất đặc sắc về hình tượng cây bạch dương và đã ít nhiều cho thấy được cảm xúc chân thành, trong sáng và sâu lắng trong thơ tình của Exenhin. Tóm lại, có thể nói đề tài thơ tình của Exenhin đối với các nhà nghiên cứu về Exenhin ở Nga không phải là mới. Tuy nhiên qua việc lược thảo các công trình nghiên cứu, một số bài viết của các dịch giả, các nhà lý luận phê bình và các nhà nghiên cứu. Chúng tôi thấy rằng đề tài về thơ tình của Exenhin đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu thật hoàn hảo, sâu sắc, có hệ thống và mang tầm vóc của một công trình nghiên cứu. Thêm vào đó số lượng của các bài viết giới thiệu về Exenhin không phải là nhiều. Dù vậy, các bài giới thiệu trên cũng đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thông tin quý báo để từ đó chúng tôi có cách tiếp cận, và có hướng đi đúng trong quá trình thực hiện đề tài này. 3. Mục đích nghiên cứu Exenhin đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ và những tác phẩm của Exenhin đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, họ nghiên cứu ở nhiều khuýa cạnh khác nhau. Từ những công trình nghiên cứu đó mà đã có nhiều phát hiện độc đáo, mới mẻ về thơ cũng như hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của ông. Qua đó ta có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về nội dung thơ, cũng như những đóng góp lớn lao của Exenhin trong nền thơ ca nước Nga nói riêng và của cả thế giới nói chung. Người viết đi vào triển khai đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu một số yếu tố chung về thời đại, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Exenhin để góp phần hiểu rõ hơn mảng thơ tình của ông. Ngoài ra người viết thực hiện đề tại này còn nhằm mục 4 đích tìm hiểu về nội dung thơ tình của Exenhin cụ thể là những quan niệm, những cảnh huống cùng các tâm trạng, cảm xúc khác nhau trong thơ tình của Exenhin. Bên cạnh đó người viết còn đi vào tìm hiểu một số biện pháp nghệ thuật trong thơ tình của Exenhin như ngôn từ thơ, hình tượng thơ, không gian và thời gian nghệ thuật cùng một số biện pháp nghệ thuật khác. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Thơ của Exenhin thì có nhiều vấn đề cần nghiên cứu nhưng đối với đề tài này người viết chỉ đi vào tìm hiểu đối tượng chính là “Thơ tình của Exenhin”. Do số lượng thơ tình của Exenhin rất nhiều mà thời gian thì có giới hạn nhất định, nên người viết không thể khảo sát hết tất cả các bài thơ tình của ông mà chỉ chọn ra một số tác phẩm tiêu biểu như : Đừng đứng bên cửa sổ, Em đã khóc, Em ra đi, Ra khỏi giấc mơ, Ngày trôi qua, Đang dần tắt hoàng hôn, Ngọn lửa màu xanh, Hát về một thời du đãng, Em yêu ơi hãy ngồi lại kề bên, Anh buồn rầu ngồi ngắm nhìn em, Em đừng lạnh nhạt làm khổ anh, Em giản dị như là tất cả, Cô hàng nước, Bằng tiếng Ba-tư, Sagane, Hôn giống nhà thơ, Mắt em bừng ngọn lửa, Em nhớ thuộc điều này , Em đẹp lắm Ba-tư, Làm thi sĩ, Đôi bàn tay em, Tại vì đâu, Cơn gió nhẹ, Đừng nhìn như trách móc, Đừng đốt lại lần sau, Không cam chịu... Đây là những tác phẩm nổi tiếng của Exenhin đồng thời những tác phẩm này cũng thể hiện rõ những cung bậc cảm xúc trong tình yêu của tác giả. Bên cạnh đó thì người viết còn mở rộng khảo sát thêm một số bài thơ khác của Exenhin và của các tác giả khác nhằm làm nổi bật nét đặc trưng của thơ tình Exenhin. Do điều kiện thời gian không cho phép và trong khuôn khổ của một luận văn còn hạn hẹp nên người viết chỉ đi vào tìm hiểu về nội dung và một số biện pháp nghệ thuật trong thơ tình của Exenhin. 5. Phương pháp nghiên cứu Đi vào triển khai đề tài này người viết luôn tìm hiểu, lựa chọn những phương pháp nghiên cứu thuận tiện trong quá trình làm luận văn, để bài nghiên cứu có tính khoa học hơn. Nghiên cứu trước hết là phải có định hướng, tìm sức hấp dẫn của đề tài và tìm hiểu các vấn đề có liên quan trong quá trình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu chính là phân tích tổng hợp, bên cạnh đó còn vận dụng thao tác so sánh đối chiếu giữa các tác phẩm một cách khoa học để có thể phân tích và đánh giá cái hay của tác phẩm, cũng như phát hiện được những khám phá mới mẻ và những cung bậc cảm xúc khác nhau được thể hiện trong thơ tình của Exenhin. Ngoài ra người viết còn tiến hành khảo sát thống kê, sưu tầm tài liệu và các dữ liệu để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu đề tài. Từ đó, người viết có cái nhìn tổng quát về công việc mình làm, trên cơ sở đó hiểu biết thêm về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của các nhà nghiên cứu và phê bình trước đó. Do thời gian có hạn nên người viết không thể khảo sát hết tất cả các tác phẩm của Exenhin mà chỉ khảo sát các tác phẩm mà người viết đã chọn. 5 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỜI ĐẠI, TÁC GIA VÀ TÁC PHẨM 1.1 Nước Nga trước và sau Cách mạng tháng Mười 1.1.1 Nước Nga trước Cách mạng tháng Mười Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tình hình nước Nga và thế giới có nhiều biến động muôn vàn khó khăn, phức tạp. Trước Cách mạng tháng Mười nước Nga chìm ngập trong dông tố của các biến cố xã hôi. Chiến tranh xảy ra liên miên từ nông thôn đến thành thị và đặc biệt là mâu thuẫn trong xã hội ngày càng gay gắt. Giai cấp thống trị ra sức bóc lột, đời sống của nhân dân lao động vô cùng cực khổ và dẫn đến các cuộc đấu tranh của nhân dân. Năm 1825 – 1861 thời kì quý tộc, do quý tộc yêu nước, tiến bộ lãnh đạo. Năm 1861 – 1895 thời kì trí thức bình dân. Nga hoàng Aleksandr II thực hiện cuộc cải cách nông nô, chủ nghĩa tư bản Nga phát triển nhanh chóng. Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cũng như các nước Tây Âu khác, đế quốc Nga cũng chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng nhưng muộn màng của chủ nghĩa tư bản Nga không thể thay đổi 1 thực tế là nước Nga vẫn là 1 nước nông nghiệp với mối quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu. Địa chủ bóc lột nông dân hết sức nặng nề và tàn bạo, nhất là chế độ lao dịch. Trình độ sản xuất nông nghiệp lạc hậu do đó năng suất thấp, nạn mất mùa và đói kém xảy ra thường xuyên. Mâu thuẫn giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội diễn ra gay gắt. Năm 1903, đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga được thành lập do Lênin đứng đầu. Từ đó giai cấp vô sản Nga đã có chính đảng là đảng Bolshevick dưới sự lãnh đạo của Lênin. Năm 1905 Giai cấp vô sản Nga đã tiến hành cuộc cách mạng Nga và thất bại nhưng đã mang đến cho họ nhiều kinh nghiệm về mặt tổ chức và tiến hành khởi nghĩa. Ngày 1 tháng 8 năm 1914, đế quốc Đức tuyên chiến với đế quốc Nga, đế quốc Nga tham gia vào thế chiến thứ nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài càng đẩy mạnh sự sụp đổ về kinh tế và khủng hoảng chính trị, xã hội ở Nga. Tháng 2 năm 1917 (theo lịch Nga cũ) Cách mạng tháng Hai đã diễn ra, đây là cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Cuộc cách mạng này đã lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế của Sa hoàng Nikolai II và vương triều Romanov trị vì hơn 300 năm ở nước Nga. Sau cách mạng, nước Nga rơi vào tình trạng hai chính quyền song song tồn tại: chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản và chính quyền của các Xô Viết đại biểu công nhân. 1.1.2 Nước Nga sau Cách mạng tháng Mười Tháng 10/1917 Đảng Bolshevich do Lênin lãnh đạo đã làm cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Petecbua, tấn công vào Cung điện Mùa Đông. Cách mạng giành thắng lợi trên 6 cả nước, giành chính quyền lập ra chính phủ và nhà nước Xô Viết. Lịch sử nước Nga đã bước sang trang mới: thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội, một nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Từ 1918 đến 1920 là thời kỳ nội chiến, nhân dân Nga phải đấu tranh chống lại các thế lực phản cách mạng để bảo vệ chính quyền Xô Viết còn non trẻ. Từ 1919 Chính quyền Xô Viết thực hiện “Chính sách cộng sản thời chiến”. Nhà nước kiểm soát toàn bộ nền công nghiệp, trưng thu lượng thực thừa của nông dân, thi hành chế độ lao động cưởng bức. Đến 1920 Hồng quân và nhân dân Liên Xô đã đẩy lùi các cuộc tấn công của các lực lượng phản cách mạng, giữ vững chính quyền Xô Viết. Tháng 3.1921 Đảng Bolshevick thông qua Chính sách kinh tế mới (NEP). Chính sách này đã thúc đẩy kinh tế quốc dân chuyển biến rõ rệt, giúp nhân dân Xô Viết vượt qua khó khăn, hoàn thành khôi phục kinh tế. Tháng 12.1922 Đại hội Xô Viết Liên bang tuyên bố thành lập Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết. Năm 1928 Stalin đề xuất Kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Bãi bỏ NEP để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của Liên Xô là Công nghiệp hóa đất nước, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế tạo máy, năng lượng, quốc phòng. Kế hoach 5 năm lần thứ nhất (1928-1932) tuy còn một số hạn chế song vẫn đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tóm lại, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất năm 1914-1918, cuộc Cách mạng Tư Sản Nga tháng hai năm 1917, tiếp đến là cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917, dẫn đến sự ra đời Nhà nước Xô Viết xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Sau đó nhân dân Nga phải đối phó với nội chiến năm 1918-1920, chính sách kinh tế mới năm 1921, kế hoạch năm năm lần thứ nhất năm 1928 1932…một thời kỳ đầy biến động và rối ren. Các sáng tác của Exenhin luôn chịu ảnh hưởng của thời đại ông đang sống. Ông muốn đóng góp thật nhiều cho nước Nga và ông cũng vui mừng tiếp nhận sự đổi đời sau cách mạng. Nhưng ông lại lầm tưởng rằng cách mạng xã hôi chủ nghĩa sẽ tạo nên một kiểu “thiên đường mugic” không tưởng cho nông dân. Từ đó dẫn đến tâm trạng buồn chán, thất vọng. Đấy là thời kỳ khủng hoảng nhất của Exenhin. Đọc thơ ông lúc nào ta cũng cảm thấy man mác một nỗi buồn thương da diết, buồn cho sự đổi thay của nước Nga, cho cuộc sống cơ cực của người dân, cho tình yêu tan vỡ… Tuy vậy đến những năm 1924-1925 các sáng tác của Exenhin đã chuyển hướng và thơ ông trở nên đằm thắm và sâu sắc hơn. 1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Exenhin 1.2.1 Vài nét về cuộc đời Exenhin Exinhin sinh ngày 4-10-1895 và mất ngày 27-12-1925 là một thi sĩ trữu tình, một nhà thơ của tuổi trẻ và làng quê, đồng thời ông còn là nhà thơ được hâm mộ trong số ít nhà thơ được hâm mộ. Ông là nhà thơ thiên tài của thế kỷ XX. Exenhin sinh tại tỉnh Riadan trong một gia đình nông dân. Bố là Aleksandr Nikitich, mẹ là Tatyana Fyodorovna. Do bố mẹ sống không hạnh phúc nên mẹ đã đưa Exenhin về sống với ông bà ngoại, còn mẹ thì đi tìm kế mưu sinh. 7 Năm 2 tuổi Exenhin sống với gia đình ông bà ngoại, một gia đình tương đối khá giả. Ông ngoại là người sùng đạo và rất hiểu sách Thánh. Bà ngoại là người thuộc nhiều chuyện cổ tích và những bài hát dân gian. Theo như lời của Exenhin thì chính bà ngoại là người khơi gợi cho ông cảm xúc để viết những bài thơ đầu tiên. Tuổi thơ của ông sống gần các cậu, ông được thoải mái vui đùa và vùng vẫy trong thiên nhiên nên ông cũng là một cậu bé nghịch ngợm và liều lỉnh. Exenhin học lớp 4 trường làng. Sau phải học tiếp trường thầy dòng. Lúc 9 tuổi Exenhin đã biết làm thơ. Đến năm 17 tuổi ông đã biết làm thơ một cách có ý thức. Trong thời gian này ông ra Matxcova làm ở xưởng in, tham gia nhóm yêu văn chương, âm nhạc. Cũng trong thời gian này ông đã gặp và có con với Anna Izryadnova (hôn nhân không đăng ký). Năm 20 tuổi (1915) ông đến thủ đô Petrograt và làm quen với nhà thơ Blok. Blok hơn Exenhin những 15 tuổi. Giới văn nghệ Petrograt đón tiếp Exenhin nồng nhiệt như một phái viên của làng quê Nga. Năm 21 tuổi (1916), ông gia nhập quân đội Nga hoàng. Cách mạng tháng 10 bùng nổ, Exenhin đứng về phía cách mạng. Ông là một con người có cá tính độc đáocá tính của một người xuất thân từ nông dân: tiếp thu mọi thứ theo cách của mình. Năm 1917 ông kết hôn với nữ diễn viên Zinaidce Raikh có 2 con. Năm 23 tuổi (1918) ông trở lại Matxcova. Năm 1921 Exenhin làm quen với Isadora Ducan là nghệ sĩ Bale nổi tiếng người Mĩ gốc Nga, hai người làm đám cưới năm 1922. Sau khi kết hôn hai người đi đến các nước như Đức, Pháp, Ý, Bỉ, Mĩ nhưng đi đến đâu Exenhin cũng nhớ về nước Nga. Mùa thu năm 1923 hai người chia tay. Exenhin về nước, Ducan ở lại Pháp. Sau đó Exenhin say sưa với nữ nghệ sĩ Augusta Miklashevskaya. Hai năm sau, Exenhin kết hôn với cháu gái đại văn hào L. Tonxtoi. Những trắc trở , những khủng hoảng tâm thần một cách bất thường đến với cuộc đời, buộc ông phải vào bệnh viện điều trị. Năm 1924 nhà thơ đi du lịch tại vùng núi Capca ở miền núi Nga. Năm 1925 nhà thơ đã dùng caravat thắt cổ tự tử trong một tâm trạng cô đơn trong một khách sạn ở Leningrat. 1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Exenhin Trong thời kỳ đầu, các sáng tác thơ của ông thể hiện rõ tình yêu say đắm thiên nhiên, đời sống nông thôn Nga và chịu ảnh hưởng của truyền thống dân gian Nga. Sau đó là thời kỳ ông chịu ảnh hưởng của tôn giáo, của chủ nghĩa biểu tượng, chủ nghĩa hình ảnh nên các sáng tác trở nên nặng nề, trừu tượng. Thời gian tiếp sau đó cho tới 8 trước khi ông tự vẫn là thời kỳ ông sáng tác thành công nhất. Trong các sáng tác của ông, người ta thấy ông đã lấy lại được sự bình tĩnh, giản dị, súc tích, cân đối trong hình tượng, cách biểu cảm và hình thức thể hiện. Với âm điệu tha thiết, uyển chuyển làm rung động người đọc, câu thơ đẹp đến mức cổ điển, ngôn ngữ tinh tế, lột tả được nội tâm và diễn tả trọn vẹn cảnh trí thiên nhiên đẹp. Các sáng tác của Exenhin được coi như tài sản tinh thần quý giá trong nền Văn học Nga. Năm 1914, tạp chí Mirok in những bài thơ đầu tiên của Exenhin. Năm 1916 Exenhin cho ra đời tập thơ đầu tay là “Radunitsa” tạm dịch là “Lễ cầu hồn” được in ấn và phát hành; ông vinh dự đón nhận giải thưởng trong một buổi đọc thơ với sự hiện diện của hòang hậu và các công chúa Radunitsa, tập thơ có nội dung ca ngợi các cuộc cách mạng tháng hai và tháng mười. Năm 1918, ông cho ra mắt thêm 3 tác phẩm khác có ảnh hưởng tôn giáo: “ Iisus Mladenets” (tạm dịch: Hài Đồng Giêsu), “Preobrazhenie” (tạm dich: Lễ Chúa biến hình) và “Selskiy Chasosloc” (tạm dịch: Sách thánh ca). Năm 1919 là thời điểm huy hoàng của ông trong việc sáng tác, những tác phẩm của ông được đại đa số quần chúng tán thưởng. Cũng vào lúc đó, ông cùng những nhà thơ khác như Anatoly Mariengof, Vadim Ahershenevich, Riurik Ivnev… thành lập nhóm thơ “Trừu Tượng”… Năm 1920, ông cho xuất bản thêm hai tập thơ " Treiadnista" và "Triptich". Năm 1921 tác phẩm " Ispoved' Khooligana" (tạm dịch: Lời thú tội của tên côn đồ) xuất bản. Năm 1923 ông sáng tác tập thơ “Mối tình của tên du dãng”. Tác phẩm “Stikhi skandaista” ( tạm dịch: Thơ của người gây tin đồn) xuất bản năm 1923, “Moskva Kabatskaya” ( tạm dich: Mokva thô bỉ) xuất bản năm 1924. Những năm 1924 – 1925, Exenhin đi về vùng Kapkage (Azerbajan, Gruzia). Cảm xúc trước vẻ đẹp của vùng này, cùng với ấn tượng về các nhà thơ Ba Tư cổ là nguồn cảm hứng cho ông viết tập thơ “Những mô-típ Ba Tư” – đỉnh cao trong sáng tạo của ông. Tóm lại được mệnh danh là “thi sĩ của làng quê”, Exenhin đã góp vào nền thơ ca Nga đầu thế kỷ một phong tiếng nói nghệ thuật trong sáng của thơ cổ điển. Thơ Exenhin là loại thơ tâm tình, đi sâu vào phân tích đời sống nội tâm của con người. Có những bài thơ viết về lẻ sống, cái chết, vinh quang, buồn vui, bản chất của con người, đậm màu sắc triết học phương Đông nhưng vẫn chứa chan tình yêu quê hương đất nước. Exenhin là nhà thơ, nhà văn hóa lớn của nước Nga và của cả nhân loại [7;tr 13] 1.3 Vài nét về thơ tình của Exenhin 1.3.1 Tình yêu quê hương đất nước 9 Tình yêu quê hương đất nước quán xuyến toàn bộ thơ trữ tình của Exenhin. Tình yêu quê hương đất nước trong thơ Exenhin được biểu hiện ở hai đề tài đó là tình yêu thiên nhiên và tình yêu quê hương: Tình yêu thiên nhiên: Exenhin đã sáng tạo ra những hình ảnh tuyệt diệu về thiên nhiên và cuộc sống làng quê Nga. Nhà thơ luôn có một sức rung cảm mạnh mẽ trước vẻ đẹp của thiên nhiên, dù cho đó là một sự vật bình thường nhất: “Ánh mặt trời mùa đông Bò quanh cây chầm chậm Lại rắc thêm lớp bạc Mới tinh khôi trên cành” [2; tr 33] Thiên nhiên trong thơ Exenhin như có hồn và hòa quyện với con người, con người trong thiên nhiên, thiên nhiên mang tâm hồn của con người. Có thể nói, thiên nhiên, đất nước, con người trong thơ Exenhin đã hòa lẫn làm một trong những rung cảm đẹp đẽ. Thiên nhiên trong thơ Exenhin được miêu tả bằng những tình cảm chân thành: “Nơi bình minh nghiên đổ nước hồng Tưới đầm những luống dài bắp cải Cây phong non ngửng đầu chới với Bú dòng sữa mẹ, sữa màu xanh” [2; tr 16] Đôi lúc thiên nhiên tươi đẹp làm cho nhà thơ “phải lòng” “Tôi thi sĩ cuối cùng của đồng quê Chiếc cầu gỗ khiêm nhường trong bài hát Tôi chống việc đến dự ngày lễ thánh Hồn phải lòng những chiếc lá bạch dương” [2; tr 80] Qua nhiều bài thơ tả cảnh, tả tình, người đọc như thấy nhà thơ giao cảm với thiên nhiên, cảm nhận thiên nhiên bằng tất cả các giác quan của mình, bằng cả tâm hồn mình. Từng cánh đồng, ngọn cây đi vào trong thơ ông thật thân quen và có hồn, cũng biết rung cảm như con người, đúng như Gorki đã nhận định: Exenhin không chỉ là một con người mà còn là một chiếc đại phong cầm do thiên nhiên sáng tạo ra để dành cho thơ, để thể hiện nỗi buồn vô tận của đồng ruộng, để thể hiện tình yêu quê hương đối với tất cả mọi vật trên trái đất. Tình yêu quê hương: Quê hương, tổ quốc là một trong những cảm hứng chủ yếu trong toàn bộ sáng tác của Exenhin. Thơ của Exenhin mang đậm hương vị của đồng quê Nga, mỗi dòng thơ đều chứa chan tình yêu quê hương đất nước đến quặn lòng. Nói đến quê hương là nhà thơ nói đến người thân, đến bạn bè, đến mảnh vườn, con đường làng hay cánh đồng lúa. .. tất cả những con người, những sự vật có quan hệ gắn bó mật thiết với làng quê Nga: “Ôi nước Nga đồng ruộng đủ rồi Đủ lắm rồi, mãi lê thê sau cày gỗ Nhìn cái nghèo của người cái khổ Đến bạch dương, dương liễu cũng đau lòng” [2; tr 119] 10 Đôi khi quê hương hiện lên rất gần gũi, rất yên bình trong ký ức của đứa con xa xứ. Để hai chữ “cố hương” mãi lắng động trong lòng tác giả mỗi khi nhớ về nơi ấy: “Anh muốn về thăm lại cố hương sao Nắm dưới hàng tân lê nghe rì rào tiếng lá Lặng chìm trong vô danh không bon chen hối hả Lại ước say triền miên cùng bạn cũ thuở nào” [14; tr 91] Với Exenhin nhớ về quê hương cũng là nhớ về mẹ, bởi ở nơi yên bình, xa xôi ấy có người mẹ già nua vẫn “khoác áo choàng xưa cũ nát” ngóng đợi con về: “Con sẽ về khi vừa chớm mùa xuân Quanh nhà ta trắng hoa, cây nảy xanh vườn tược Nhưng mẹ ơi, khi vừa hé bình mình Mẹ đừng đánh thức con như tám năm về trước” [2; tr 83] Quê hương hiện lên trong thơ của Exenhin thường gắn liền với những gì thân quen, bình dị, nhưng ẩn sâu trong đó là tình yêu quê hương vô bờ bến của “thi sĩ đồng quê Nga”. 1.3.2 Tình yêu đôi lứa: Thơ tình của Exenhin lúc nào cũng trong sáng, hồn nhiên và trinh bạch: “ Em nói rằng, Xaadi Chỉ được hôn em vào ngực Lạy chúa tôi, xin e đợi đấy Mùa quýt sang năm tôi sẽ học điều này” [14; tr 146] Hình ảnh người thiếu nữ trong thơ tình của Exenhin hiện lên với vẻ đẹp quyến rũ không trần tục, đẹp một cách đằm thắm dịu dàng: “Tôi đã hái những bông hoa đó rồi Chỉ một bông làm tôi sung sướng Chẳng có gì trên đời Đẹp hơn Saganê yêu mến” [14; tr 146] Thơ tình của Exenhin luôn bộc lộ một tình yêu chung thủy thiết tha: “Những hạt mưa không nhìn thấy thoảng bay Tất cả ấm dần, ấm dần lên mọi thứ Trong mưa bụi, anh nhớ em, anh nhớ Anh Xergây Êxênhin” [14; tr 43] Tóm lại thơ tình của Exenhin luôn mang một phong cách rất riêng, rất đặc biệt. Bên cạnh tình yêu quê hương, đất nước thì thơ viết về tình yêu đôi lứa cũng có vị trí quan trong trong sự nghiệp sáng tác của Exenhin và đã để lại dấu ấn khó phai trong lòng độc giả. 1.3.3 Chất triết lý Exenhin sống gần gũi với thiên nhiên và con người, yêu mọi thứ tồn tại xung quanh ông. Trong thơ Exenhin, mỗi sự vật, sự việt đều được ông nâng lên thành những vấn đề mang tính triết lí, nhất là vấn đề sống, chết, ý nghĩa nhân sinh. Nhà thơ đã từng 11 khẳng định rằng “trên đời này chết phải đâu là mới” nhưng nếu sống không có ý nghĩa thì “sống cũng chẳng mới gì hơn”: “Vĩnh biệt bạn, không bắt tay, không nói Bạn thân yêu, đừng đau khổ đừng buồn Trên đời này chết là điều không mới Và tất nhiên, sống cũng chẳng mới hơn” [14; tr 161] Tuy Exenhin sống cuộc đời ngắn ngũi nhưng là một người từng trải. Nhà thơ sống qua hai thời kỳ đầy sóng gió của nước Nga trước và sau cách mạng tháng Mười, nên cuộc đời nhà thơ cũng gặp nhiều biến động, đầy băn khoăn, mâu thuẫn. Những trải nghiệm trong cuộc đời đã làm cho thơ ông mang màu sắc triết học. Trong thơ Exenhin ẩn chứa chất triết lý phương Đông thâm trầm nhưng sâu sắc, giản dị mà tự nhiên. 1.3.4 Giọng thơ của Exenhin mang một nỗi buồn sâu sắc Thơ Exenhin là sự tổng hợp giữa cái buồn và cái đẹp. Thơ Exenhin mang âm hưởng của dân ca Nga. Hồn thơ của ông được nuôi dưỡng từ bầu sữa ngọt ngào của ca dao dân ca Nga qua lời bà ngoại. Exenhin bẩm sinh đã buồn, trong thơ ông từ cảnh sắc thiên nhiên, đất nước đến những con người nghèo khổ, hay đơn giản chỉ là nhưng âm thanh cũng gợi nên nỗi buồn sâu lắng: “Những bài ca ưu phiền, những âm thanh buồn bã Hãy cho ta được thở bình thường Người mang đến cho ta bao đau thương vất vả Trong ngực ta nhức nhói triền miên.” [14; tr 12] Đôi khi đang đi trên quê mẹ, nhà thơ cũng cảm nhận một nỗi buồn đang đè nặng lòng mình: “Nhưng khi tôi trên quê mẹ mến thương Những giọt lệ lại lắng trong lòng ngực Có thể tôi sẽ quên và chìm vào giấc ngủ Trong nấm mồ lạnh lẽo, thấy không anh?” [14; tr 13] Khi cách mạng thánh Mười thành công, Exenhin một mặt chào đón cuộc sống mới nhưng vẫn mang trong lòng nỗi hoài cổ. Nhà thơ vẫn yêu thương và muốn giữ gìn cảnh thanh bình yên ả của làng thôn Nga và lo sợ sự hiện đại hóa, công nghiệp hóa nông thôn sẽ làm mất đi vẻ đẹp vốn có của làng thôn Nga. Giọng thơ Exenhin luôn mang một nỗi buồn sâu lắng, mang hương vị của dân ca và thể hiện một tình yêu tha thiết với quê hương đất nước, con người Nga. 1.3.5 Sáng tạo những hình ảnh mới lạ Trong thơ Exenhin có nhiều hành ảnh mới lạ, sáng tạo và độc đáo: “Bình nguyên tuyết, vầng trăng trắng toát Mặt đất quê vải liệm phủ trắng mình Và bạch dương choàng áo tan đứng khóc Ai qua đời? Ai chết! Chính tôi chăng? [2; tr 126] Hay là trong bài thơ “Lời tự thú của kẻ lãng du” nhà thơ đã ví đầu mình như là đèn dầu hỏa: “Tôi cố ý để tóc bù bước tới 12 Đầu tôi như đèn dầu hỏa trên vai” [14; tr 72] Còn tóc thì như bong bóng lắc lư: “Khi đó mắt tôi nheo và tay tôi nắm chặt Như bong bóng lắc lư. Tôi phồng căng đầu tóc” [14; tr 72] Trong bài thơ “Lời tự sự của kẻ lãng du” nhà thơ tự nhận mình là kẻ lãng du xưng tội, nhưng ở bài thơ khác nhà thơ lại nói “nếu tôi không là nhà thơ, Tôi đã là thi sĩ”. Có thể nói trong thơ Exenhin nhiều hình ảnh sáng tạo mới mẻ, độc đáo làm cho người đọc bất ngờ, và chính điều này đã tạo nên phong cách rất riêng của Exenhin. CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG THƠ TÌNH CỦA EXENHIN 2.1 Những cảnh huống và tâm trạng, cảm xúc trong tình yêu Như chúng ta đã biết Exenhin là nhà thơ trữ tình đã có một vị trí xứng đáng với tài năng và tầm vóc của mình trên thi đàn nước Nga nói riêng và cả thế giới nói chung. Thơ ông đã làm say đắm biết bao trái tim của độc giả, bởi những vần điệu du dương và tình cảm thiết tha được thể hiện một các nồng nàng mà sâu lắng, mãnh liệt mà tinh tế. Thơ là tiếng nói của con tim, là âm điệu của dây tơ lòng. Đến với mảng thơ viết về tình yêu ta bắt gặp trong thơ ông nhiều cảnh huống. Trong đề tài này chúng tôi tạm dùng thuật ngữ “cảnh huống” để chỉ những tình huống, hoàn cảnh, không gian, thời gian…mà nhân vật trữ tình xuất hiện. Xét về một khía cạnh nào đó cảnh huống thuộc về bình diện nghệ thuật. Tuy nhiên khi đi vào tìm hiểu nội dung thơ tình của Exenhin cũng như những cảm xúc, tình cảm mà nhà thơ gửi gắm trong thơ tình của mình, chúng tôi nhận thấy rằng những cảm xúc, tình cảm mà nhà thơ thể hiện luôn gắn liền với những cảnh huống cụ thể. Vì thế sau đây chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát một số cảnh huống trong thơ tình của Exenhin, từ đó làm nổi bật những tâm trạng, cảm xúc mà nhà thơ gửi gắm trong thơ mình. 2.1.1. Cảnh huống tỏ tình và tâm trạng lạc quan, yêu đời Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca, không ai cắt nghĩa được tình yêu và cũng không ai biết tình yêu có từ khi nào. Bởi lẽ tình yêu nó nhẹ như khói có thể lan tỏa xâm chiếm tâm hồn con người lúc nào không hay biết, và tình yêu cũng có thể nặng nề, mạnh mẽ như tiếng sét khi hai tâm hồn đồng điệu, hai trái tim hòa cùng nhịp đập lúc tình cờ gặp nhau. Và cũng có lẽ trong một phút giây nào đó Exenhin đã bất chợt gặp “một nửa” của mình, và nhà thơ đã thốt lên một cách đầy bất ngờ với những cảm xúc trào dâng như không thể kìm nén được: “Anh chưa thấy ai người xinh như thế Trong hồn anh ấp ủ một điều Em hình ảnh của anh thời tuổi trẻ Anh bồi hồi nôn nao bao nhiêu” 13 [14; tr 125] Một lời tỏ tình đầy ý nhị và tha thiết, có lẽ nhân vật “em” cũng rất hạnh phúc khi nghe những lời tỏ tình ấy bởi lời tỏ tình hết sức thiết tha và chân thành. Nhà thơ đã không giấu giếm mà bày tỏ thật lòng rằng “anh chưa bao giờ thấy ai xinh như thế”, và vẻ đẹp của nhân vật em đã làm cho tâm hồn của nhân vật anh ấp ủ một điều gì thầm kín. Cũng chính vì điều thầm kín ấy và hình ảnh của nhân vật em đã làm cho nhà thơ nhớ lại hình ảnh của mình thời tuổi trẻ, đó là nguyên nhân làm nhân vật anh “bôi hồi nôn nao bao nhiêu”. Qua bốn câu thơ tỏ tình ngắn ngủi nhưng rất trực tiếp mà lại không sỗ sàng, nhà thơ bộc lộ được sự chân thành của mình. Đồng thời các câu thơ trên cũng thể hiện được tâm trạng của nhà thơ lúc này đang rất vui tươi và tràn đầy niềm tin yêu cuộc đời, bởi chính vẻ đẹp của nhân vật em làm cho nhà thơ nhớ về thời tuổi trẻ của mình. Khi tình yêu đến một chút gì “nôn nao”, một chút gì “ấp ủ” làm cho cuộc sống hạnh phúc hơn, tâm trạng tươi vui hơn. Tâm trạng đó càng được thể hiện rõ hơn ở các câu thơ sau: “Giọng hát của em ấm lòng anh nỗi nhớ Chữa lành anh giấc mộng tuổi thơ Thanh lương trà nhà mình còn cháy Và trên cây khói trắng vẫn phủ mờ” [14; tr 125] Ta bắt gặp một tâm trạng đang hạnh phúc và dường như tâm hồn của tác giả cũng đang cảm thấy bình yên hơn khi “giọng hát của em ấm lòng anh nỗi nhớ và chữa lành anh giấc mộng tuổi thơ”. Dù hạnh phúc, dù đang đắm say trong tình yêu, tuy nhiên ta vẫn cảm thấy một nỗi buồn vô hình len lỏi vào tâm hồn của tác giả. Nỗi buồn đó xuất phát từ “nỗi nhớ” và “chữa lành”(từng bị tổn thương), tâm trạng ở đây không đơn lẻ mà dường như có sự đan xen với nhiều sắc thái và cảm xúc khác nhau. Tất cả như đang hòa quyện vào nhau làm nên một hồn thơ Exenhin mang đậm một nét riêng rất đặc trưng. Tình yêu giống như có phép màu, tình yêu có thể đem đến niềm vui và hy vọng, tình yêu cũng có thể làm ấm lại lòng người. Nhà thơ đã thố lộ với người mình yêu rằng: “Lần đầu tiên anh ấm bởi ánh trăng Lần đầu tiên anh vui vì giá lạnh Anh lại muốn sống thêm và hy vọng Vào tình yêu mà không có bao giờ” [14; tr 124] Cụm từ “lần đầu tiên” được nhắc lại ở đầu các câu thơ, tác giả như muốn nhấn mạnh lời tỏ tình của mình với người yêu-em là tình yêu đầu tiên của anh và cũng là duy nhất. Tình cảm của nhân vật anh là hoàn toàn trong sáng và trọn ven. Tình yêu tác giả thổ lộ với nhân vật em là rất chân thành và tác giả là người sống hết mình cho tình yêu. Nên gì thế nhân vật “anh” mới có thể cảm nhận chỉ một ánh trăng thôi cũng đủ làm cho cõi lòng mình ấm lại. Khi chìm đắm trong tình yêu, con người nhìn mọi vật thi vị hóa hơn và thường đem tâm trạng của mình gán ghép cho cảnh vật. Nên ánh 14 trăng cũng như tâm hồn của tác giả đang ấm dần lên, để rồi “Anh lại muốn sống thêm và hy vọng; Vào tình yêu mà không có bao giờ”. Ánh trăng như là yếu tố thiên nhiên góp phần làm cảnh vật trở nên thi vị hơn, làm tăng thêm cảm giác ấm áp trong lòng của nhà thơ. Những câu thơ tỏ tình rất bình dị nhưng đã thể hiện được tình yêu mãnh liệt của nhân vật anh dành cho nhân vật em. Qua đó tác giả thể hiện tâm trạng vui tươi, tràn đầy niềm tin vào cuộc sống của mình. Độc giả cảm nhận được tình cảm cũng như cảm xúc của tác giả dành cho người yêu khi tác giả thổ lộ tình yêu của mình với nhân vật em. Với cảm xúc và tâm trạng vui tươi, tấm lòng nhiệt tình với tình yêu nhân vật anh đã mạnh mẽ khẳng định rằng: “Bởi suốt đời anh không hề giấu giếm Yêu là không đơn lẻ một mình Ôi quê hương một mối tình da diết Một mối tình gắn em và anh” [14; tr 124] Xuất phát từ suy nghĩ “Yêu là không đơn lẻ một mình” nên nhà thơ tự do bộc bạch tình yêu của mình thông qua hình ảnh cây bạch dương: “Ôi bạch dương Nga Con đường – lối đi chật hẹp Cô gái dễ thương như giấc mơ Chỉ dành cho ai mà cô ấy mến Anh hãy đỡ bằng những nhành cây Như bằng những vòng tay tuyệt đẹp” [14; tr 147] Với tình yêu mãnh liệt dành cho thiên nhiên và qua những câu thơ trên Exenhin đã vẽ ra trước mắt người đọc một con đường và một lối đi chật hẹp, ở đó có một “lãng tử của thi ca” đang một mình dạo bước và hai bên đường là hàng bạch dương. Trong ánh mắt của chàng thi sĩ, hàng bạch dương lúc này không còn là bạch dương nữa mà bạch dương đã trở thành cô gái trẻ, đẹp, một cô gái dễ thương như giấc mơ và cô gái ấy chỉ dành cho ai mà cô ấy mến. Tác giả đã bày tỏ tình cảm của mình dành cho cô gái dễ thương ấy: “Anh hãy đỡ bằng những nhành cây; Như bằng những vòng tay tuyệt đẹp”. Qua cách bày tỏ tình cảm này ta thấy tác giả rất nâng niu, trân trọng “cô gái dễ thương” ấy. Cô gái ấy như là hiện thân cho vẻ đẹp của bạch dương, của thiên nhiên Nga. Chỉ có người thật sự yêu thương và sống chan hòa với thiên nhiên mới có thể hiểu được hết vẻ đẹp của nó. Các câu thơ trên ta thấy tác giả đã bày tỏ tình cảm của mình một cách rất kín đáo tình yêu lứa đôi và tình yêu thiên nhiên chan hòa vào nhau. Sẽ không có gì là quá đáng nếu chúng ta nói hiếm có nhà thơ nào lại dành những vần thơ đắm đuối tình yêu và tràn đầy những rung cảm thẩm mỹ với bạch dương Nga như Exenhin. Dù viết về bạch dương nhưng ta vẫn cảm nhận được tình cảm chan chứa và cảm xúc chân thành nhất. Bạch dương đã thoát khỏi dáng vóc của một loài thực vật mà trở thành một sinh thể có hồn, có tình cảm. Tác giả biết cách truyền tải cảm xúc đang trào dâng trong lòng mình sang hình ảnh bạch dương làm nó có sinh khí hơn, lung linh hơn. Và đặc biệt là tác giả thường miêu tả những “nàng bạch dương” vào những đêm trăng yên tĩnh. 15 Hình ảnh bạch dương trong thơ Exenhin có một vẻ đẹp đầy sức quyến rũ. Nó là một sức quyến rũ của một cơ thể khỏe mạnh, căng tràn sức sống. Sức sống ấy được Exenhin cảm nhận tinh tế qua từng bộ phận của cơ thể bạch dương: tóc bạch dương, thân bạch dương, vai bạch dương, ngực bạch dương, sữa bạch dương, bàn chân xinh xắn của bạch dương. Trong sự liên tưởng của nhà thơ, bạch dương đẹp như người thiếu nữ trẻ trung, trinh bạch. “Mái tóc xanh Lồng ngực tròn thiếu nữ Ôi bạch dương, mảnh dẻ Cớ chi người nhìn mãi xuống đầm?” [4; tr 173] Đứng trước một vẻ đẹp căn tràn, đầy sức sống như vậy, chàng thi sĩ bạch dương Nga đã không kiềm lòng được và chàng đã tỏ tình: “Hãy kể ta nghe những bí mật đời mình Những ý nghĩ giấu trong từng thớ gỗ Ta yêu tiếng xạc xào buồn bã Của ngươi vào những độ thu sang” [2; tr 76] Với Exenhin, bạch dương không chỉ một sinh thể có hồn mà còn như một thế giới linh hồn đầy bí ẩn, có sức cuốn hút đầy ma lực. Có lẽ khi yêu ai cũng muốn tìm hiểu, khám phá những bí ẩn của người yêu và Exenhin cũng không ngoại lệ. Nhà thơ muốn hiểu “người yêu” một cách sâu sắc và yêu cầu người yêu “Hãy kể ta nghe những bí mật đời mình cùng những ý nghĩ giấu trong từng thớ gỗ”, để rồi cuối cùng nhà thơ đã tỏ tình bằng cách thú nhận một cách trực tiếp rằng: “Ta yêu tiếng xạc xào buồn bã; Của ngươi vào những độ thu sang”. Với Exenhin yêu là phải yêu bằng cả trái tim và yêu tất cả những gì thuộc về người yêu. Chính vì thế nhà thơ không chỉ yêu vẻ đẹp đầy sức sống của bạch dương mà còn yêu cả tiếng xạc xào buồn bã. Đồng thời câu thơ này vừa diễn tả được độ mãnh liệt của tình cảm, vừa mở ra vẻ đẹp mê hồn của những cánh rừng bạch dương vào độ thu. Là người sinh ra để “thể hiển nỗi buồn vô tận của đồng ruộng” (M. Gorki), Exenhin có sự nhạy cảm kỳ lạ với những “âm thanh khiến người ta buồn”. Trong tiếng xạc xào của bạch dương, Exenhin như nghe thấy không chỉ nỗi buồn của bach dương mà còn là nỗi buồn thu, nỗi buồn đồng quê, nỗi buồn Nga muôn thuở [4; tr 175]. Lời thổ lộ của bạch dương trong ba khổ thơ cuối về tình yêu của chàng chăn cừu đối với mình là một sự liên tưởng hết sức kỳ thú của Exenhin: “Anh bạn tò mò ơi Đêm nay dưới trời sao vằng vặc Có một chàng chăn cừu Đã đến đây và khóc” 16 Trăng tỏa bóng mênh mông Một màu xanh huyền ảo Quỳ xuống đất chân trần Chàng ôm lấy thân tôi Và nặng nề cất tiếng thở dài Chàng khẽ nói trong rì rào cây lá Tạm biệt nhé con chim câu bé nhỏ Hẹn chờ nhau mùa sếu sang năm. [4;tr 174] Trong một khung cảnh hết sức huyền hoặc và thơ mộng, có một chàng chăn cừu đã thể hiện tình cảm thiết tha của mình cùng nỗi đau khi chia biệt người yêu :“Chàng ôm lấy thân tôi; Và nặng nề cất tiếng thở dài” rồi khẽ nói lời tạm biệt con chim câu bé nhỏ “trong rì rào cây lá”. Hình ảnh chàng chăn cừu với tình yêu đắm đuối bạch dương là một trong những hình ảnh đặc biệt, đã để lại dấu ấn với độc giả. Với những rung động sâu xa cùng với tình cảm chân thành và cảm xúc mãnh liệt trước vẻ đẹp của bạch dương, Exenhin đã thể hiện tuyệt vời những vẻ đẹp phong phú, tinh tế, tiềm ẩn của bạch dương Nga. Bạch dương không còn là một loài thực vật bình thường mà trở thành một sinh thể có hồn và là đối tượng để nhà thơ bộc lộ tình cảm. Ngoài ra trong thơ Exenhin ta còn bắt gặp cách tỏ tình gián tiếp, bóng gió xa xôi bằng cách nói lên điều mình ước ao, mơ tưởng: “Còn mong gì trong đời nặng nhọc Trách ngôi nhà hay số phận mình chăng Ôi ước gì có cô gái nhỏ xinh Bên cửa sổ cho mình nhìn thấy” [14; tr 157] Trong cuộc sống có biết bao nhiêu điều nặng nhọc, lo toan và đặc biệt cuộc đời của tác giả đã trải qua nhiêu bão tố. Đến một lúc nào đó khi cảm thấy mệt mỏi tác giả đã thốt lên “còn mong gì hơn” - một cách nói rất gần gũi những thể hiện được sự khát khao hạnh phúc của một con người trải qua nhiều sóng gió trong cuộc đời. Không ít lần tác giả đã thú nhận: “Dường như đời tôi không tránh khỏi khổ đau Trên đường tôi đi khổ đau và buồn thương ngăn lối Tôi với niềm vui luôn phải ly biệt nhau Nỗi buồn và vết thương khiến ngực luôn mệt mỏi” [14; tr 6] Dường như Exenhin là nhà thơ sinh ra là để làm thi sĩ và là thi sĩ có khả năng đặc biệt trong cách thể hiện nỗi buồn, buồn cho số phận mình, cho tình đời đen bạc, buồn cho nỗi đau mà nhân dân phải chịu đựng. Có lẽ vì thế ngay cả những câu thơ tỏ tình tràn đầy tình yêu cũng mang một nỗi buồn man mác. Tuy nhiên dù cuộc đời nặng nhọc, dù buồn thương ngăn lối nhưng Exenhin không hờn trách “Trách ngôi nhà hay 17 số phận mình chăng” mà tác giả hy vọng tình yêu có thể xoa dịu nỗi đau cho số phận mình thế nên: “Ôi ước gì có cô gái nhỏ xinh Bên cửa sổ cho mình nhìn thấy” Có lẽ trong thực tại tác giả đã tìm được tình yêu đích thực để xoa dịu nỗi đau của cuộc đời mình, nên tác giả đã miêu tả rất chân thực đôi mắt và giọng nói của người yêu: “Đôi mắt xanh của cô gái ấy Chỉ nhìn tôi Không nhìn ai khác Với giọng nói và tình yêu mới Em ru hồn và ru trái tim tôi” [14; tr 157] Một lời tỏ tình thật ngọt ngào và thi vị, trong cách tỏ tình của mình tác giả đã rất khéo léo. Lúc đầu tác giả nói về cuộc đời đau khổ, nặng nhọc của mình và đó là cái cớ để tác giả ước ao có một tình yêu đẹp (cô gái nhỏ xinh), để cứu vớt cuộc đời buồn đau của mình. Các câu thơ trên dường như là những câu nói bâng quơ than thân, trách phận không hề quy chiếu vào một đối tượng cụ thể nào hết. Tuy nhiên đến đây tác giả đã kín đáo miêu tả trực tiếp người mình muốn thố lộ tình cảm thông qua đôi mắt xanh và giọng nói. Có lẽ qua sự miêu tả ấy cô gái mà tác giả muốn tỏ tình chắc đã hiểu lời tỏ tình đó là dành cho mình. Tác giả đã khẳng định vị trí và tầm quan trọng của tình yêu, của nhân vật em trong trái tim của mình “Với giọng nói và tình yêu mới; Em ru hồn và ru trái tim tôi”. Lời tỏ tình kín đáo và giản dị, nhưng người đọc cảm nhận được tình yêu, cảm xúc và tâm trạng cũng như nỗi khát khao niềm hạnh phúc của tác giả. Ở đây ta không thấy một tâm trạng hoàn toàn vui tươi, phơi phới lạc quan tin yêu vào cuộc sống mà chút gì đó trầm tư, sâu lắng. Lời tỏ tình có chút gì đó hồn nhiên “Ôi ước gì có cô gái nhỏ xinh; Bên cửa sổ cho mình nhìn thấy” và chút gì đó ưu tư, sâu lắng “Với giọng nói và tình yêu mới; Em ru hồn và ru trái tim tôi”. Cảnh huống tỏ tình trong thơ của Exenhin có nhiều cách thể hiện khác nhau, khi thì tỏ tình thông qua hình ảnh cây bạch dương, khi thì tỏ tình thông qua cách nói bóng gió xa xôi, nhưng có lúc lại tỏ tình trực tiếp bằng những tặng vật cụ thể: “Nhưng vì cái thân hình uyển chuyển ra vào Và gương mặt như ban mai hồng thắm Chiếc khăn san Khôrrôxxan tôi tặng Tấm thảm Siraz này xin cũng được tặng ngay” [14; tr 143] Một cách tỏ tình rất trực tiếp và không kém phần táo bạo. Nhà thơ không ngần ngại mà thú nhận rằng: “vì cái thân hình uyển chuyển ra vào; Và gương mặt như ban mai hồng thắm” nên nhà thơ không chút ngần ngại mà tặng ngay cho người yêu “chiếc 18 khăn san Khôrrôxxan và tấm thảm Siaz”. Qua đó nhà thơ thể hiện tình yêu mãnh liệt của mình. Chỉ qua vài câu thơ ngắn ngủi như chúng ta cảm nhận sự nhiệt tình trong tình yêu của tác giả. Tâm trạng của tác giả đang rất vui tươi, lạc quan, yêu đời sẵn sàng hiến dâng tất cả cho tình yêu. Không chỉ thổ lộ tình cảm cùng cô giá Ba Tư với việc tặng chiếc khăn hay tấm thảm, mà hơn thế nữa tác giả còn thể hiện sự tò mò muốn biết gương mặt của người đẹp: “Chẳng vô ích khi mắt đen lấp lánh Vén cho tôi tấm mạng giấu lửa tình” [14; tr 143] Ở đây ta có thể hiểu “tấm mạng” là tấm khăn che mặt của các cô gái Ba Tư. Các cô gái Ba Tư có tập tục che mặt. Chủ thể trữ tình bị cuốn hút bởi vẻ đẹp bí ẩn của thiếu nữ nơi đây, muốn gỡ bỏ tấm khăn che mặt để giao lưu, gắn kết và hoà nhập. Và đồng thời tác giả muốn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cô gái Ba Tư sau “tấm mạng giấu lửa tình” . Trong tập thơ “Những mô típ Ba Tư” bằng trí tưởng tượng bay bổng, nhà thơ đã hình dung bước chân mình như đã đến với Ba Tư, và đó cũng là cơ sở để thi sĩ bộc lộ sự khao khát chiếm lĩnh vẻ đẹp thiên nhiên, con người, văn hoá của một đất nước kỳ bí và đặc biệt này. Exenhin xuất hiện ở xứ sở xa lạ này với phong thái quen thuộc của một kẻ lãng du. Trí tưởng tượng không biên độ, không hạn định đã đưa bước chân và tâm hồn thi sĩ lạc vào một không gian nghệ thuật huyền ảo: ở đó có người đẹp với những đôi mắt rực cháy sau tấm mạng giấu lửa tình. Khi tình yêu đến, nhà thơ say sưa bộc lộ, bày tỏ tình yêu của mình với tất cả sự chân thành, lòng nhiệt huyết của con tim. Và tác giả tin là cuộc đời này hạnh phúc là có thật: “Ôi tôi tin, tôi tin, hạnh phúc là có thật Trên thế gian mãi mãi sáng mặt trời Bình minh như trang Thánh kinh rõ rực Tiên đoán bao điều tốt trên đời Hạnh phúc là có thật tôi tin” [14; tr 50] Đây là những câu thơ hiếm hoi thể hiện tâm trạng vui tươi, lạc quan, trong sáng và yêu đời của tác giả. Tình yêu quả là dịu kỳ mang đến niềm vui cho con người. Với thơ Exenhin tình yêu là một thứ tình cảm trong sáng và cao cả, ta bắt gặp trong thơ ông nhiều cách tỏ tình khác nhau. Khi thì tỏ tình một cách thẳng thắn, bộc trực “Anh chưa thấy ai người xin như thế; Trong hồn anh ấp ủ một điều…”, khi tỏ tình một cách bóng gió xa xôi “Ôi ước gì có cô gái nhỏ xin; Bên của sổ cho mình nhìn thấy”, có lúc tình yêu được bày tỏ hài hòa với tình yêu quê hương “Ôi quê hương một mối tình da diết; Một mối tình gắn kết em và anh”. Nhưng có lúc tình yêu lại được bày tỏ hài hòa với tình yêu thiên nhiên, với bạch dương Nga “Mái tóc xanh; Vòng ngọc tròn thiếu nữ; Ôi bạch dương mãnh dẻ; Cớ chi người nhìn mãi xuống đầm”. Mỗi cách tỏ tình gắn với những tâm trạng, cảm xúc khác nhau, khi thì vui vẻ, hồn nhiên lúc thì trong sáng, thiết tha. Tất cả điều tạo nên nét đặc trưng cho hồn thơ Exenhin. 19 2.1.2 Cảnh huống bên nhau và tâm trạng vui tươi, hạnh phúc lẫn đau đớn, xót xa 2.1.2.1 Cảnh huống bên nhau tình yêu nồng thắm và tâm trạng hạnh phúc, vui tươi Exenhin đã từng nói: “Điều tôi yêu thích trước nhất là sự biểu hiện của bản thân, nghệ thuật đối với tôi không phải là sự cầu kỳ của những nét hoa văn, mà cái quan trọng nhất đó chính là ngôn ngữ”. Cái mà Exenhin gọi là sự biểu hiện của bản thân ấy thật kỳ diệu, chân thành và sáng rõ biết bao. Đọc thơ ông ta cảm nhận như cảm xúc đang dâng lên, xâm lấn tâm hồn ông, đòi lấy hình thức cho nó, và khi đó ông đã biểu hiện chúng ra ngoài với hình thức của những vần thơ chứa chan tình cảm: “Nhưng giấc mộng dịu dàng vẫn lặng lẽ cháy lên Tất cả đều tàn phai trong xanh mờ khói tỏa Một thế giới cho em là cánh đồng ngả rạ Một thế giới cho em ngôi nhà gỗ trong hồn’ [14; tr 115] Đọc những vần thơ trên ta cảm nhận được sự sâu lắng trong cảm xúc, và ngôn ngữ mộc mạc đã vẽ lên trước mắt chúng ta cái khung cảnh lãng mạn của thế giới chỉ có em và anh. Rồi tất cả đều tàn phai trong xanh mờ khói tỏa, chỉ có tình yêu giữa em và anh là mãi không tàn phai. Khi nhân vật anh và nhân vật em bên nhau có một thế giới dành riêng cho họ nơi làng quê bên cánh đồng ngả rạ. Và một thế giới nhân vật anh dành riêng cho nhân vật em là ngôi nhà gỗ trong hồn. Ngôi nhà ấy là biểu tượng cho mái ấm yên bình, đặc biệt ngôi nhà gỗ này không phải là một thực thể ở ngoài thực tế mà là ở trong tâm hồn của tác giả. Phải chăng “Một thế giới cho em” ở trong tâm hồn của tác giả đó chính là trái tim tràn ngập tình yêu của thi nhân. Nơi đó chỉ có tình yêu dành cho nhân vật em, nơi đó là cả thế giới tình yêu của tác giả. Có lẽ do xuất thân từ đồng quê nên ta thấy trong thơ Exenhin có sự hòa quyện giữa tình yêu quê hương đồng ruộng và tình yêu nam nữ. Khi viết những vần thơ này, tâm trạng của tác giả cũng đang cảm thấy bình yên với tình yêu dành cho nhân vật em trong ngôi nhà gỗ bên cánh đồng ngả rạ. Nơi bình yên đó có hai trái tim bên nhau, hòa chung nhịp đập, một cảnh tượng hạnh phúc như một mái nhà tranh hai quả tim vàng. Người đời thường cho rằng, những ai sống với bản năng thì kết cuộc chẳng làm nên trò trống gì, và những ai chỉ biết hành động theo dục vọng thì chẳng có kết cuộc tốt đẹp. Tuy nhiên cái dục vọng trong thơ tình của Exenhin thì khác, đấy là cái dục vọng người nhất, nó có một cái gì thiêng liêng mà gần gũi: “Em thân yêu hãy ngồi lại gần anh Hay đứa mình cùng nhìn nhau vào mắt Để anh nghe trong cái nhìn khoảnh khắc Dục vọng dâng như bão tuyết quay cuồng” [14; tr 106] Khi trái tim hòa chung nhịp đập, hai người đang yêu đều muốn rút ngắn khoảng cách giữa nhau. Vì thế nhân vật anh đã mời gọi: “em thân yêu hãy ngồi lại gần anh; Để chúng mình cùng nhìn nhau vào mắt”- Bởi đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn và là nơi thể 20
- Xem thêm -