Luận văn thạc sĩ thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh

  • Số trang: 141 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 74 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH NHẠC VIỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRẦN THANH HẢI THỊ HIẾU THẨM MỸ ÂM NHẠC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Qua trường hợp của hai trường THPT Tenlơman và Lê Minh xuân) Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ÂM NHẠC Mã số : 60 14 02 02 LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Trần Thế Bảo TP.HỒ CHÍ MINH – Năm 2014 LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu suốt hai năm qua, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của rất nhiều quý thầy cô, bạn bè, các cơ quan, trường học tại Tp.HCM, để em hoàn thành luận văn một cách tốt nhất. Đầu tiên, em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Phó giáo sư – tiến sĩ Trần Thế Bảo, người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này! Em xin cảm ơn ban giám hiệu, phòng Sau đại học, các thầy cô giáo trường Nhạc viện Tp.HCM đã đã đem lại cho em những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua. Đồng thời quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa học! Xin trân trọng cảm ơn ban giám hiệu, các cô chú, các thầy cô giáo và các em học sinh tại hai trường THPT Lê Minh Xuân (Huyện Bình Chánh) và THPT Ernst Thalmann (Quận 1) của Tp.HCM đã hỗ trợ, tạo điều kiện giúp tôi thực hiện các khảo sát, thu thập tài liệu để hoàn thành tốt luận văn này! Cuối cùng, xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè và tất cả những người thân yêu đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sỹ của mình! Tp.HCM, ngày 5 tháng 10 năm 2014 TRẦN THANH HẢI LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi số liệu nêu trong luận văn hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN TRẦN THANH HẢI MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU----------------------------------------------------------------------------------1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TÂM SINH LÝ VÀ THỊ HIẾU THẨM MỸ ÂM NHẠC CỦA HỌC SINH THPT---------------------------------------------------7 1.1. Một số vấn đề về tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh THPT-----------------------------7 1.1.1. Đặc điểm cơ thể của lứa tuổi học sinh THPT------------------------------------------8 1.1.2. Đặc điểm sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT------------------------------------8 1.1.3. Những đặc điểm nhân cách chủ yếu ---------------------------------------------------9 1.1.3.1. Sự phát triển của tự ý thức -------------------------------------------------------------9 1.1.3.2. Sự hình thành thế giới quan và nhân sinh quan------------------------------------11 1.1.3.3. Giao tiếp và đời sống tình cảm ------------------------------------------------------12 1.2. Một số vấn đề về thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc -------------------------------------------16 1.2.1. Khái quát chung về vấn đề thẩm mỹ âm nhạc---------------------------------------16 1.2.1.1. Khái niệm thẩm mỹ âm nhạc --------------------------------------------------------16 1.2.1.2. Những biểu hiện đặc trưng của nghệ thuật âm nhạc theo quan điểm của Mỹ học hiện đại---------------------------------------------------------------------------------------17 1.2.1.3. Mối quan hệ thẩm mỹ trong hoạt động thẩm mỹ âm nhạc --------------------23 1.2.2. Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc--------------------------------------------------------------28 1.3. Vai trò của Âm nhạc trong đời sống con người -------------------------------------32 1.3.1. Chức năng của âm nhạc ---------------------------------------------------------------32 1.3.2. Tác động của âm nhạc đối với các quá trình tâm sinh lý của con người ---------36 1.3.2.1. Âm nhạc tác động lên mặt tâm lý của con người --------------------------------36 1.3.2.2. Âm nhạc tác động lên mặt sinh lý của con người --------------------------------39 TIỂU KẾT --------------------------------------------------------------------------------------44 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ ÂM NHẠC VÀ THỊ HIẾU THẨM MỸ ÂM NHẠC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY------------------------------------------------------45 2.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế và văn hóa – xã hội của Tp.HCM những năm gần đây---------------------------------------------------------------------------------------45 2.1.1. Điều kiện tự nhiên và quy hoạch của Tp.HCM--------------------------------------45 2.1.2. Điều kiện về phát triển nền kinh tế của TP-------------------------------------------46 2.1.3. Điều kiện về văn hóa – xã hội của TP-------------------------------------------------48 2.2. Khái quát về tình hình âm nhạc dành cho lứa tuổi HS THPT tại Tp.HCM giai đoạn 2000 đến nay--------------------------------------------------------------------------------------50 2.2.1. Đời sống âm nhạc trong giới trẻ hiện nay---------------------------------------------50 2.2.2. Một số hoạt động âm nhạc dành cho lứa tuổi THPT tại Tp. HCM ---------------55 2.2.3. Khái quát về tình hình sáng tác âm nhạc dành cho lứa tuổi học sinh THPT-----58 2.3. Khảo sát thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của học sinh THPT tại Tp. HCM giai đoạn hiện nay ----------------------------------------------------------------------------------------62 2.3.1. Thể loại âm nhạc mà HS THPT của TP thích nghe và thường nghe nhất--------62 2.3.2. Sở thích âm nhạc của HS THPT theo từng khu vực, độ tuổi và giới tính--------67 2.3.2.1. Sở thích âm nhạc phân theo khu vực------------------------------------------------67 2.3.2.2. Sở thích âm nhạc phân theo giới tính------------------------------------------------69 2.3.2.3. Sở thích âm nhạc phân theo độ tuổi-------------------------------------------------70 2.3.3. Một số nhận định của HS THPT tại Tp.HCM về âm nhạc dành cho lứa tuổi- - -75 2.4. Đánh giá chung thực trạng về thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM trong những năm qua, nguyên nhân và một số vấn đề cần giải quyết--------77 2.4.1. Đánh giá chung---------------------------------------------------------------------------77 2.4.2. Nguyên nhân-----------------------------------------------------------------------------78 2.4.3. Một số vấn đề cần giải quyết-----------------------------------------------------------81 TIỂU KẾT---------------------------------------------------------------------------------------83 CHƯƠNG 3: TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ ÂM NHẠC CHO GIỚI TRẺ – ĐẶC BIỆT LÀ HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY----------------------------85 3.1. Vai trò của giáo dục thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ âm nhạc------------------------85 3.1.1. Giáo dục thẩm mỹ------------------------------------------------------------------------85 3.1.2. Giáo dục thẩm mỹ âm nhạc-------------------------------------------------------------88 3.2. Giáo dục âm nhạc cho HS THPT trong giai đoạn tiếp theo--------------------------93 3.2.1. Kinh nghiệm giáo dục âm nhạc của một số nước trên thế giới--------------------93 3.2.2. Mục tiêu nhiệm vụ của giáo dục âm nhạc cho học sinh THPT--------------------98 3.3. Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao và định hướng thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc cho HS THPT tại Tp.HCM trong giai đoạn tiếp theo-------------------------------101 3.3.1. Về công tác giáo dục và đào tạo------------------------------------------------------102 3.3.1.1. Ở trường chuyên nghiệp-------------------------------------------------------------102 3.3.1.2. Ở trường phổ thông-------------------------------------------------------------------104 3.3.2. Về công tác sáng tác, phê bình, tổ chức và quản lý của các hội, các cơ quan chức năng ---------------------------------------------------------------------------------------108 3.3.2.1. Về công tác sáng tác------------------------------------------------------------------108 3.3.2.2. Về công tác phê bình âm nhạc trên các phương tiện thông tin, truyền thông đại chúng ---------------------------------------------------------------------------------------111 3.3.2.3. Về công tác tổ chức, sản xuất-------------------------------------------------------111 3.3.2.4. Về công tác quản lý văn hóa trong lĩnh vực âm nhạc---------------------------115 3.3.3. Về phía gia đình-------------------------------------------------------------------------115 TIỂU KẾT--------------------------------------------------------------------------------------117 PHẦN KẾT LUẬN---------------------------------------------------------------------------119 PHỤ LỤC---------------------------------------------------------------------------------------122 TÀI LIỆU THAM KHẢO-------------------------------------------------------------------137 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TP Tp.HCM THPT THCS CĐ ĐH FC Kpop US – UK NS TS ThS GS PGS HTV VTV ĐHSP TW Nxb VH-TT&DL GD&ĐT NVH TTVH Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh Trung học phổ thông Trung học cơ sở Cao đẳng Đại học Fan club (câu lạc bộ người hâm mộ) Korean pop (Nhạc đại chúng Hàn Quốc) United States – United Kingdom (Nhạc Anh – Mỹ) Nhạc sỹ Tiến sỹ Thạc sỹ Giáo sư Phó giáo sư Hồ Chí Minh Television (đài truyền hình Tp.HCM) Việt Nam Television (đài truyền hình Việt Nam) Đại học sư phạm Trung Ương Nhà xuất bản Văn hóa – Thể thao và Du lịch Giáo dục và Đào tạo Nhà văn hóa Trung tâm văn hóa DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ Hình 1: Chủ đề I, chương I, bản giao hưởng số 5 của Beethovent ----------------------18 Hình 2: Mối quan hệ của ba khâu trong hoạt động thẩm mỹ âm nhạc-------------------23 Hình 3: Mô hình cấu trúc của chủ thể thẩm mỹ---------------------------------------------24 Hình 4: Sơ đồ cơ chế hình thành thị hiếu thẩm mỹ cá nhân-------------------------------29 Bảng 2.1: Tổng số liệu thống kê từ cuộc khảo sát về mức độ thưởng thức âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM--------------------------------------------------------------------------62 Biểu đồ 2.1: Mức độ thưởng thức âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM ----------------63 Bảng 2.2: Số liệu mức độ thưởng thức âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM phân theo khu vực ----------------------------------------------------------------------------------------67 Biểu đồ 2.2: so sánh mức độ thưởng thức âm nhạc của 2 trường THPT Lê Minh Xuân và Ernst Thalmann ------------------------------------------------------------------------------68 Bảng 2.3: Số liệu về mức độ thưởng thức âm nhạc phân theo giới tính của HS THPT tại Tp.HCM---------------------------------------------------------------------------------------69 Biểu đồ 2.3: Mức độ thưởng thức âm nhạc của HS nữ và HS nam ----------------------69 Bảng 2.4: Số liệu mức độ thưởng thức âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM phân theo độ tuổi ----------------------------------------------------------------------------------------71 Biểu đồ 2.4.1: Mức độ thích nghe phân theo độ tuổi của HS THPT tại Tp.HCM -----72 Biểu đồ 2.4.2: Mức độ yêu thích nhạc trẻ qua 3 độ tuổi của HS THPT tại Tp.HCM- -73 Biểu đồ 2.4.3: Mức độ thường nghe phân theo độ tuổi của HS THPT tại Tp.HCM---73 Biểu đồ 2.4.4: Mức độ thường nghe nhạc trẻ qua 3 độ tuổi của HS THPT tại Tp.HCM 74 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Ngày nay, trong thời đại của khoa học công nghệ và kỹ thuật số hóa, đặc biệt là sự xuất hiện của mạng thông tin toàn cầu (Internet), thế giới như bị thu nhỏ lại, ranh giới giữa các quốc gia cũng ngày càng trở nên mỏng manh hơn, không một quốc gia nào có thể phát triển trong sự biệt lập với thế giới bên ngoài. Ngược lại, sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng và tác động trực tiếp đến từng quốc gia, từng khu vực và toàn thế giới. Hiện tượng cộng sinh văn hóa là một tất yếu và là một đặc trưng mới của văn hóa thế giới. Internet đã tạo cơ hội để các dân tộc có thể gần gũi, hiểu biết và xích lại gần nhau. Sự giao thoa, tiếp biến văn hóa do đó đang diễn ra hết sức phức tạp và mạnh mẽ. Mỗi dân tộc vừa được sống với bản sắc văn hóa của dân tộc mình, vừa được tiếp xúc, học tập và tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác để làm phong phú thêm cho nền văn hoá của chính dân tộc mình. Trong sự giao lưu đó, nghệ thuật và nghệ thuật âm nhạc có thể được coi là một trong những lĩnh vực cực kì năng động của nền văn hóa. Nó được xem là lĩnh vực tiên phong trong việc giao lưu, giới thiệu và phát triển văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia ra với thế giới. Tuy nhiên có thể nói rằng, sự giao lưu văn hóa toàn cầu trong thời đại ngày nay đang đặt ra cho mỗi quốc gia rất nhiều thách thức. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, việc văn hóa mỗi quốc gia bị ảnh hưởng, xâm nhập là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, làm thế nào để không bị lai căng và đồng hóa lại là điều tùy thuộc vào khả năng, năng lực, cũng như những chính sách, đường lối quản lý và phát triển riêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Trong bối cảnh chung đó, Việt Nam không tránh khỏi những tác động mạnh của nền công nghiệp kỹ thuật số và thông tin toàn cầu (internet). Sự tiếp cận và giao lưu văn hoá quốc tế rộng rãi tạo điều kiện cho giới trẻ Việt Nam trong việc thưởng thức cái hay, cái đẹp của các nền văn hoá trên thế giới. Tuy nhiên, tác động của khuynh hướng thương mại hoá trong hoạt động văn hoá, văn nghệ, cùng với sự phát tán nhanh chóng của truyền thông, kĩ thuật số và internet, làm xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực cả trong lĩnh vực thẩm mỹ nghệ thuật nói chung và thẩm mỹ âm nhạc nói riêng, cũng như lối sống trong một bộ phận lớn giới trẻ hiện nay, nhất là ở các thành phố lớn. 2 Có thể nói, chưa bao giờ không gian nước ta lại vang lên đa dạng âm thanh của biết bao dòng nhạc trên thế giới, từ kinh điển, bác học đến đại chúng, giải trí và cũng chưa bao giờ Việt Nam lại có một nền âm nhạc lộn xộn và bế tắc như trong hơn một thập kỷ qua. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, âm nhạc đã đóng góp vai trò không nhỏ trong việc nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, làm cho cuộc sống không ngừng được cải thiện. Bên cạnh tính tích cực vốn có của dòng âm nhạc chính thống, thì trong đời sống hiện nay, một số hoạt động âm nhạc mang tính giải trí, thị trường còn bộc lộ tính yếu kém, xa rời bản sắc, thuần phong mỹ tục, làm cho cái đẹp trong âm nhạc, méo mó, biến dạng. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của giới trẻ Việt Nam – Những người luôn đi đầu trong việc tiếp cận với công nghệ thông tin, kĩ thuật số. Họ rất năng động trong việc tìm tòi cái mới lạ để khẳng định bản thân nhưng thiếu kinh nghiệm và sự định hướng cần thiết của xã hội. Giới trẻ, đặc biệt là lứa tuổi HS THPT – lứa “tuổi hồng” – lứa tuổi cực kì nhạy cảm về tâm sinh lý. Các em ở lứa tuổi này rất thích thể hiện bản thân, nhạy cảm với cái mới. Đây là lứa tuổi có nhiều mơ mộng, khát khao sáng tạo, ưa thích cái mới lạ, chuộng vẻ đẹp hình thức nên dễ bị cái đẹp bên ngoài lôi cuốn làm lung lay ý chí, có mới nới cũ. Thêm vào đó, việc bắt đầu quan tâm nhiều tới việc tham gia các nhóm bạn, coi tình bạn là mối quan hệ quan trọng nhất. Đó là một trong những điều kiện đặc trưng khiến các em ở lứa tuổi này rất dễ bị ảnh hưởng bởi các “hiệu ứng đám đông” hay tâm lý “bầy đàn” khi tham gia vào các hoạt động thưởng thức âm nhạc. Một số lượng các em HS THPT tại Tp.HCM còn tham gia cả vào những FC hùng hậu của các ca sỹ trẻ, nhóm nhạc trẻ ở trong và ngoài nước. Những hình ảnh fan cuồng Kpop ở giới trẻ là những điểm nhức nhối nhất trong vài năm qua đối với nền âm nhạc Việt Nam. Chính vì vậy, trong bối cảnh nền âm nhạc Việt Nam đang vấp phải sự khủng hoảng, rối ren trong những năm qua, khiến một bộ phận lớn các em HS THPT đã chạy theo những giá trị ảo, tầm thường của dòng nhạc thị trường nhiều màu sắc thị giác hơn là giá trị thực của một tác phẩm nghệ thuật. Đặc biệt ở các TP lớn thì vấn nạn “văn hóa thần tượng” trong giới trẻ đã trở thành đề tài đáng bàn hơn bao giờ hết. Thành phố Hồ Chí Minh – một trung tâm kinh tế văn hóa của Việt Nam, xưa nay vẫn được xem là mảnh đất lành của nền công nghiệp giải trí, với thị trường âm nhạc cực kì sôi động trong hơn một thập kỷ qua. Việc tiếp cận và du nhập các dòng âm nhạc 3 trên thế giới đã tạo cho Việt Nam nói chung và Tp.HCM nói riêng phát triển thêm một số dòng nhạc mới, tạo ra nhiều trào lưu âm nhạc cho giới trẻ. Tuy nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa với việc khiến họ phải đứng trước quá nhiều sự lựa chọn và họ đã lựa chọn thứ dễ nghe một cách dễ dãi, lâu dần nó trở thành thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc lệch lạc của một bộ phận lớn giới trẻ hiện nay ở Tp.HCM, nhất là lứa “tuổi hồng”. Đứng trước thực tế đó, là một giáo viên giảng dạy âm nhạc và hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc nhiều năm qua tại Tp.HCM, chúng tôi vô cùng trăn trở với tình hình xuống dốc nghiêm trọng của nền âm nhạc Việt Nam cùng với thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc lệch lạc của các em HS, nhất là các em HS THPT trong những năm gần đây. Phải làm thế nào để tìm cho ra căn nguyên, để từ đó có những giải pháp kịp thời, nhằm định hướng thẩm mỹ âm nhạc cho giới trẻ, đặc biệt là ở lứa “tuổi hồng” – lứa tuổi HS THPT tại Tp.HCM. Theo chúng tôi, vấn đề nghiên cứu này đang trở nên hết sức quan trọng và cấp thiết trong thời đại mới. Bởi vì theo chúng tôi, đây là lứa tuổi đặc biệt nhạy cảm về tâm sinh lý, là lứa tuổi kế tiếp làm chủ xã hội, rất cần sự định hướng của xã hội. Chính vì những lẽ đó, Tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM (Qua trường hợp của hai trường THPT Tenlơman và Lê Minh xuân)” làm luận văn thạc sỹ của mình. 2. Lịch sử của đề tài “Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc” là một đề tài năng động và hấp dẫn ở mọi quốc gia, mọi thời đại. Vấn đề này luôn thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình âm nhạc và của toàn xã hội. Nhất là trong những năm gần đây, đề tài này đã trở thành “đề tài nóng” trên các mặt báo, cũng như trong các cuộc hội thảo khoa học lý luận phê bình âm nhạc, Hội Âm nhạc Việt Nam… Đã có một số công trình nghiên cứu in thành sách đề cập đến vấn đề này như: - “Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ Tp.HCM” của nhiều tác giả do TS. Nguyễn Thị Hậu làm chủ biên, Viện nghiên cứu phát triển Tp.HCM, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, hoàn thành quý II năm 2013. - “Tìm hiểu thị hiếu âm nhạc trong các đối tượng đang được cải giáo” của tác giả Nguyễn Quang Khải, luận văn đại học lý luận, năm 1989. - “Vai trò của thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu nghệ thuật trong giáo dục con hiện nay” của tác giả Nguyễn Quốc Hưng, luận văn cao học, năm 2002. 4 - “Ca khúc trong đời sống âm nhạc ở Tp.HCM từ 1975 đến nay” của tác giả Nguyễn Thị Thư Nhường, luận văn cao học lý thuyết âm nhạc và lịch sử âm nhạc, năm 2008. Một số bài tham luận tại các cuộc hội thảo khoa học diễn ra trong những năm gần đây bàn về vấn đề thị hiếu âm nhạc như: - “Thị hiếu của khán giả truyền hình Tp.HCM qua một số chương trình ca nhạc trên sóng HTV” của tác giả Lê Đỗ Quỳnh Hương, tại Hội thảo Khoa học “Âm nhạc tại Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và Giải pháp” được tổ chức tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 15/11/2011. - “Vài nét về thị hiếu âm nhạc và biểu diễn ca nhạc hiện nay” của tác giả TS Phạm Trọng Toàn, tại Hội thảo khoa học lí luận phê bình âm nhạc được tổ chức tại trường ĐHSP Nghệ thuật TW, tháng 2 năm 2012. Vấn đề “Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của giới trẻ” nhận được rất nhiều sự quan tâm đánh giá và bàn luận của các nhà chuyên môn, của báo giới và của xã hội. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ dừng lại ở sự bình luận chung chung trên một số trang báo và các cuộc hội thảo mà chưa đi sâu phân tích thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc cụ thể ở lứa tuổi HS THPT. Bên cạnh đó, có rất ít công trình nghiên cứu đã in thành sách trình bày về vấn đề này một cách có hệ thống, cũng như chưa có được những số liệu đáng tin cậy cho thấy sự phát triển thị hiếu âm nhạc ở lứa tuổi này ở Tp.HCM. Luận văn cao học “Ca khúc trong đời sống âm nhạc ở Tp.HCM từ 1975 đến nay” của tác giả Nguyễn Thị Thư Nhường, năm 2008 cũng đã khảo sát được thị hiếu của giới trẻ Tp.HCM. Tuy nhiên, Tác giả mới chỉ đưa ra được số liệu về thị hiếu âm nhạc của thanh niên giới trẻ nói chung chứ chưa khảo sát được thị hiếu âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM. Do vậy, điều đó đã gây cho chúng tôi rất nhiều khó khăn trong việc thu thập tài liệu để nghiên cứu đề tài. Với mong muốn góp phần làm rõ hơn và cụ thể hơn thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của giới trẻ hiện nay ở từng lứa tuổi. Trong luận văn này, tác giả tập trung phân tích thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM hiện nay, để giúp người đọc có một cái nhìn tổng quan, đầy đủ, sâu sắc và chi tiết hơn về tình hình hoạt động âm nhạc, tình hình sáng tác ca khúc cho lứa “tuổi hồng”, cũng như khảo sát được thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của lứa tuổi này ở Tp.HCM diễn ra như thế nào trong thời điểm hiện nay. Đồng thời, đề ra được những giải pháp nhằm định hướng thẩm mỹ âm nhạc cho các em trong giai đoạn tiếp theo. 3. Mục tiêu của đề tài 5 Luận văn nghiên cứu vấn đề trên nhằm đạt được những mục tiêu sau: Thứ nhất, khái quát được thực trạng của nền âm nhạc Việt Nam và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc ở lứa tuổi HS ở các trường THPT tại Tp.HCM trong những năm vừa qua. (Tập trung nghiên cứu giai đoạn 2000 đến nay) Thứ hai, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự xuống cấp về thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS ở các trường THPT tại Tp.HCM trong những năm qua. Từ đó rút ra bài học cho việc phát triển nền âm nhạc của TP trong những năm tiếp theo. Thứ ba, từ những nguyên nhân, những vấn đề tồn tại, những vấn đề đặt ra, tác giả xin đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao và định hướng cho thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc cho HS ở các trường THPT tại Tp.HCM 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  Đối tượng Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau: Thứ nhất, những vấn đề lý luận cơ bản về tâm sinh lý, về thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT, cũng như những vai trò, chức năng, tác động của âm nhạc tới tâm sinh lý của con người và những vấn đề về giáo dục thẩm mỹ âm nhạc làm cơ sở cho nghiên cứu. Thứ hai, tình hình phát triển của nền âm nhạc Việt Nam và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS ở các trường THPT tại Tp.HCM giai đoạn 2000 đến nay. Những nhân tố khách quan, chủ quan có ảnh hưởng tới nền âm nhạc và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp. HCM trong thời đại công nghiệp kĩ thuật số, internet và hội nhập.  Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản, thực tiễn chủ yếu của nền âm nhạc Việt Nam và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS ở các trường THPT tại Tp. HCM giai đoạn 2000 đến nay (không nghiên cứu lứa tuổi này hiện đang học ở Nhạc viện). Trong đó, tác giả tập trung đi sâu phân tích những sản phẩm âm nhạc dành cho lứa tuổi HS THPT trong những năm qua, tiến hành khảo sát, tìm hiểu thực tế các khuynh hướng thẩm mỹ âm nhạc của một vài nhóm HS THPT tại hai trường THPT nội thành và ngoại thành ở Tp.HCM giai đoạn hiện nay làm cơ sở cho nghiên cứu. 5. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp đi thực tế, lập phiếu thăm dò, khảo sát, thống kê, so sánh, đối chiếu, sơ đồ hóa, bảng biểu, phỏng vấn, phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử cụ thể, quy nạp và diễn dịch… Trong quá trình nghiên cứu, tác giả kế thừa có chọn lọc những thông tin của các công trình nghiên cứu trước đó, cập nhật 6 những thông tin mới nhất có liên quan đến đề tài để làm rõ hơn những vấn đề nghiên cứu của luận văn 6. Đóng góp của luận văn Luận văn hoàn thành sẽ khảo sát được tình hình thực tế về thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM hiện nay. Bên cạnh đó, luận văn cũng làm sáng tỏ được sự cần thiết phải tìm hiểu để định hướng cho thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM trong những năm tiếp theo. Ngoài ra, luận văn cũng đề ra được một số giải pháp giúp nâng cao và định hướng thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM. Luận văn cũng sẽ cung cấp nhiều thông tin bổ ích, dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tìm hiểu đến vấn đề này. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Tổng quan về vấn đề tâm sinh lý và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT. Chương 2: Thực trạng về âm nhạc và thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của HS THPT tại Tp.HCM giai đoạn hiện nay. Chương 3: Tầm quan trọng của vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho giới trẻ – Đặc biệt lứa tuổi HS THPT tại Tp.HCM CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TÂM SINH LÝ VÀ THỊ HIẾU THẨM MỸ ÂM NHẠC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1. Một số vấn đề về tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh THPT Học sinh THPT, lứa tuổi vị thành niên, về tâm sinh lý là lứa tuổi có nhiều biến động rất mạnh, được xác định là giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên trong xã hội. Tuổi thanh niên là một hiện tượng tâm lý xã hội. Xuất phát từ những trường phái khác nhau nên có những quan niệm khác nhau về tuổi thanh niên và có những tiêu chí khác nhau để xác định tuổi thanh niên. Trường phái sinh vật học coi tiêu chí quan trọng nhất để xác định tuổi thanh niên là sự phát triển của cơ thể, là các quá trình sinh vật học của sự trưởng thành. Các nhà phân tâm học quan tâm nhiều nhất đến sự phát triển của tính dục, các nhà xã hội học lại lấy mức độ xã hội hoá của mỗi cá thể là tiêu chí để xác định. Còn các nhà tâm lý 7 học hiện đại cho rằng, cần nghiên cứu lứa tuổi thanh niên trong một mối tổng hoà các yếu tố sinh học, tâm lý học, phân tâm học và xã hội học. Theo các nhà tâm lý học, lứa tuổi thanh niên được định nghĩa là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì cho đến khi bước vào tuổi trưởng thành. Như vậy theo định nghĩa này, thời điểm bắt đầu của tuổi thanh niên lấy tiêu chí là sinh lý còn thời điểm kết thúc là tiêu chí xã hội. Theo định nghĩa đó tuổi thanh niên là thời kỳ từ 14, 15 đến 25 tuổi và được phân chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất từ 14, 15 đến 17, 18: giai đoạn đầu tuổi thanh niên (còn được gọi là tuổi thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh). Lứa tuổi HS THPT (15 - 18) nằm trong giai đoạn này. Giai đoạn thứ hai từ 18, 19 đến 25: giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên (còn được gọi là tuổi thanh niên sinh viên). Sự phân chia giai đoạn cũng chỉ mang tính tương đối. Một số nhà nghiên cứu lại phân chia tuổi thanh niên ra làm ba giai đoạn. Tuy nhiên, dù thế nào thì các nghiên cứu vẫn luôn xác định rằng: Lứa tuổi HS THPT là lứa tuổi thuộc giai đoạn đầu của tuổi thanh niên. “Tuổi thanh niên (từ 14,15 đến 18 tuổi) là “thế giới thứ 3” theo nghĩa đen của từ này, tồn tại giữa tuổi trẻ em và tuổi người lớn” (I.X.Côn). Thời điểm bắt đầu và kết thúc của tuổi thanh niên không bất biến, cứng nhắc mà phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống và giáo dục. 1.1.1. Đặc điểm cơ thể của lứa tuổi học sinh THPT Tuổi 15 - 18 là giai đoạn mà cơ thể con người đang dần hoàn chỉnh, bắt đầu thời kỳ phát triển êm ả về mặt tâm sinh lý. Sự phát triển của hệ xương tiến tới thời kỳ hoàn thiện. Tuy nhiên quá trình cốt hoá vẫn đang tiếp tục (quá trình này thường kết thúc vào khoảng 24-25 tuổi). Khối lượng và sức mạnh cơ bắp tăng nhanh. Khối lượng cơ đạt 43 - 44% khối lượng toàn thân. Sự phát triển của tim và mạch máu đã đạt sự cân bằng. Tần số nhịp tim và huyết áp đạt gần mức người lớn. Hoạt động của các tuyến nội tiết trở nên bình thường. Khối lượng của não tăng không đáng kể (vì khối lượng của não đã tăng rất nhanh từ những thời kỳ trước đó), nhưng cơ cấu bên trong của não trở nên phức tạp hơn nhiều. Số sợi dây thần kinh liên kết các phần của não tăng lên nhiều, số đường liên hệ thần kinh tạm thời cũng tăng lên, sự mất cân bằng giữa hai quá trình thần kinh (hưng phấn và ức chế) đã giảm một cách đáng kể. Tất cả những điều đó tạo điều kiện cho sự phức tạp các hoạt động phân tích tổng hợp của vỏ bán cầu đại não. Bên cạnh đó, các hormone của tuyến sinh dục làm phát triển những dấu hiệu sinh dục ở em nam như: mọc lông, mọc râu, giọng trầm; và ở em nữ như: nở to tuyến vú, 8 mọc lông ở mu và các biến đổi khác lúc dậy thì làm cho hình dáng của các em phát triển như người lớn. Các hormone của tuyến yên và tuyến sinh dục phát triển khiến HS THPT có nhiều khả năng sinh sản hơn so với lứa tuổi HS THCS. 1.1.2. Đặc điểm sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT Trong giai đoạn này, khả năng nhận thức và trí tuệ của HS THPT tăng đáng kể. Có thể nói tiềm năng về trí tuệ đạt mức cao nhất, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức. Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn. Điều này làm cho khả năng cảm thụ âm nhạc và hội họa của các em được nâng cao. Tri giác có mục đích phát triển ở mức rất cao. Tuy nhiên, sự tri giác của tuổi này cũng vẫn rất cần sự hướng dẫn của giáo viên, vì họ vẫn dễ dàng kết luận sai hoặc chưa đầy đủ khi chưa tích lũy đủ sự kiện. Khả năng trí nhớ đạt đỉnh cao, trí nhớ chủ định, ghi nhớ ý nghĩa, lôgic phát triển mạnh và chiếm ưu thế. Hoạt động tư duy của HS THPT phát triển mạnh. Các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá đều phát triển khá mạnh giúp các em có khả năng tiếp thu tốt các khái niệm trừu tượng và phức tạp. “Các phẩm chất tư duy phát triển mạnh như: tính độc lập, tính lập luận, tính phê phán, tính linh hoạt, tính hệ thống, tính khái quát, tính sáng tạo” [50, 102]. Tư duy lý luận tăng lên biểu hiện ở sự thích thú tranh luận về các vấn đề khác nhau. Thậm chí các em thích suy nghĩ, lập luận, bàn bạc ngay cả trong các trường hợp các em không đủ kiến thức để làm điều đó. Tư duy lôgic và tính phê phán của tư duy phát triển mạnh hơn. Các em suy nghĩ chặt chẽ, nhất quán hơn. Chính sự phát triển mạnh mẽ của tư duy đã góp phần thúc đẩy sự xuất hiện nét tâm lý mới ở lứa tuổi này đó là sự hoài nghi khoa học. Thiếu sót cơ bản của tư duy trong giai đoạn này là tính độc lập trong tư duy chưa phát triển đến mức cần thiết. Trong nhiều trường hợp các em chưa cố gắng phát huy khả năng độc lập suy nghĩ của bản thân, do đó kết luận vội vàng hoặc lặp lại ý tưởng, cách chứng minh của người khác, nhất là của những người có uy tín (thần tượng) với các em. Do đó, dạy học cần chú trọng việc phát triển khả năng nhận thức cho HS. Tuy nhiên cũng cần nhận thức rõ, khả năng phát triển của tư duy ở mỗi em HS là khác nhau. Do đó, quá trình nhận thức của các em HS nói chung và các em HS THPT chia ra làm ba cấp độ. Thứ nhất là loại khả năng nhận thức xuất sắc. Thứ hai là loại khả năng nhận thức trung bình, khá. Thứ ba là loại thiểu năng trí tuệ. Như vậy, với mỗi loại khả năng nhận thức khác nhau, các nhà giáo dục cũng phải tiến hành những 9 phương pháp giáo dục chung và cá biệt để đảm bảo quá trình nhận thức của HS có kết quả như mong muốn. 1.1.3. Những đặc điểm nhân cách chủ yếu 1.1.3.1. Sự phát triển của tự ý thức Khả năng tự ý thức của con người bắt đầu xuất hiện từ những lứa tuổi trước và hoàn thiện từng bước nhưng thực sự phát triển mạnh ở lứa tuổi này. Sự phát triển tự ý thức của các em thể hiện ở một số mặt sau: Thứ nhất, HS THPT rất quan tâm đến việc tự đánh giá về ngoại hình của cơ thể (về vóc dáng, về những chi tiết trên khuôn mặt, cơ thể…). Tâm lý làm đẹp biểu hiện khá rõ, (soi gương, chú ý nhiều đến ăn mặc, chạy theo mốt, tập luyện thể thao để hoàn thiện, cải tạo hình thể…). Tất nhiên là sự tự đánh giá về hình ảnh cơ thể của các em rõ ràng mang màu sắc giới tính. Thứ hai, HS THPT có nhu cầu mạnh mẽ về việc tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của bản thân theo các chuẩn mực đạo đức xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống... Tuy nhiên, sự tự đánh giá của các em thường không khách quan, thiếu kinh nghiệm sống nên cách đánh giá của các em thường có xu hướng cường điệu với những thái cực khác nhau. Đa số các em đánh giá cao nhân cách của bản thân (năng lực, tính cách) dẫn đến những biểu hiện tự cao, coi thường người khác. Thứ ba, ý thức làm người lớn được thể hiện ở nhu cầu tự khẳng định mình. Các em có nguyện vọng thể hiện cá tính của mình trước mọi người một cách độc đáo. Theo các nhà giáo dục học: “đây là giai đoạn đầu của tuổi thanh niên, một số phẩm chất cơ bản của nhân cách đã được định hình. Điều này thể hiện trước hết ở sự phát triển tính độc lập và lòng khao khát tự khẳng định mình, tự chịu trách nhiệm về cái “tôi” của mình bằng khả năng quan sát, phân tích, so sánh, tự đánh giá với hoạt động của bạn bè và người lớn.” [41, 82]. Các em HS THPT tìm mọi cách để người khác quan tâm, chú ý đến mình hoặc làm gì đó để mình nổi bật trong nhóm, đôi khi hành động đó mang tính phô trương, hình thức. Thứ tư, HS THPT thường cố gắng tự biểu hiện bản thân. Điều này liên quan đến tính tích cực sáng tạo ngày càng tăng mà đặc biệt rõ nét trong những hình thức hoạt động khác nhau: sáng tác theo các đề tài tự do; ghi nhật ký; làm thơ; viết nhạc; tham gia các cuộc thi tuyển; hội thi, hội diễn văn nghệ; thi đấu thể thao…. Mặt khác, theo ThS tâm lý Huỳnh Lâm Anh Chương, khi thể hiện bản thân, HS THPT thường biểu hiện theo hai hướng tích cực và tiêu cực: “Cách thể hiện tích cực có thể là: cố gắng học giỏi một môn học, vượt qua mọi rào cản để thực hiện một hành động cao đẹp… 10 Cách thể hiện tiêu cực như là: tạo ra một kiểu thời trang cho bản thân một cách khác người và không phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ xã hội, thực hiện những hành vi gây sự chú ý của nhiều người nhưng lại không được chấp nhận, chạy theo một lối sống xa xỉ và không phù hợp với tuổi thanh niên chưa tự lập về tài chính,…” [50, 111-112]. Còn với các nhà tâm thần học thì khẳng định: “Lứa tuổi từ 14 đến 18 là lứa tuổi khủng hoảng đối với tâm thần học.” (A.E.Litrco – chuyên gia tâm thần học của Nga). Thứ năm, HS THPT ưa thích cái mới lạ, rất nhạy cảm với cái mới, có thể nói lứa tuổi thanh niên nói chung dễ dàng chấp nhận và ủng hộ cái mới nhất. Đặc điểm ưa thích cái mới kết hợp với nhu cầu muốn biểu hiện bản thân, sự phán xét đánh giá phân định đúng sai... chưa khách quan, thiếu chính xác đã đưa HS THPT đến hai khả năng phát triển: Có thể rất tốt nếu những điều “mới lạ” đó là tích cực giúp phát triển và hoàn thiện nhân cách. Nhưng nếu cái “mới lạ” đó là những tiêu cực có thể đưa các em đến những hành vi “lệch chuẩn”, tội lỗi thậm chí phạm pháp. Nói về đặc điểm này, nhà giáo dục học Phạm Đình Chương viết: “Đây là giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành, các yếu tố của nhân cách định hình chưa thật vững bền, chưa được trải nghiệm nhiều. Do đó, ở một số em có hiện tượng manh động, bột phát, hiếu thắng, chủ quan… dễ dẫn đến những sai lầm trong nhận thức và hành vi văn hóa, đạo đức.” [41, 83]. 1.1.3.2. Sự hình thành thế giới quan và nhân sinh quan Tuổi đầu thanh niên là tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan và nhân sinh quan. Hay nói cách khác, tuổi thanh niên là giai đoạn định hình nhân cách. Thế giới quan và nhân sinh quan là một hệ thống các quan điểm về thế giới tự nhiên và xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc cư xử, về các chuẩn mực, định hướng giá trị về đạo đức, văn hóa, về quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong xã hội...Thực ra, những cơ sở của thế giới quan, nhân sinh quan đã được hình thành từ những lứa tuổi trước, ngay từ khi còn nhỏ. Nhưng chỉ đến giai đoạn lứa tuổi này mới được xây dựng thành một thế giới quan và nhân sinh quan tương đối hoàn chỉnh. Để chuẩn bị bước vào đời, HS THPT thường trăn trở với các câu hỏi về ý nghĩa và mục đích cuộc sống, về cách xây dựng một kế hoạch sống có hiệu quả, về việc lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp và có ý nghĩa... Theo Ericson đó là một cái mốc quan trọng của sự hình thành bản sắc người thanh niên mới lớn. Ở nước ta hiện nay khi mà các giá trị xã hội có nhiều biến động, không ít HS THPT chưa xác định được ý nghĩa của cuộc sống, không có định hướng nghề nghiệp rõ nét và cũng chưa thể lập được cho bản thân một kế hoạch sống cụ thể. Hiện tượng này tồn tại không phải đơn thuần do trình độ phát triển tâm lý ở lứa tuổi thành niên chưa chín 11 muồi, mà quan trọng hơn là do những khiếm khuyết trong giáo dục ở nhà trường, gia đình và trong xã hội (thông qua các ấn phẩm sách báo, văn hóa, nghệ thuật...). Một trong các khía cạnh quan trọng của quá trình hình thành thế giới quan ở lứa tuổi HS THPT là trình độ phát triển ý thức đạo đức. Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng thế giới quan về lĩnh vực đạo đức bắt đầu hình thành ở con người từ tuổi thiếu niên. Song sang tuổi thanh niên, ý thức đạo đức đã được phát triển lên một bậc cao hơn cả về mặt nhận thức tình cảm và hành vi. Về mặt nhận thức HS THPT không chỉ có khả năng giải thích một cách rõ ràng các khái niệm đạo đức, quy chúng vào một hệ thống nhất định thể hiện một trình độ khái quát cao hơn, mà ở họ còn xuất hiện một cách có ý thức nhu cầu xây dựng các chính kiến đạo đức của riêng mình về các vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Ở khía cạnh tình cảm, các chuẩn mực đạo đức đã có được những ý nghĩa riêng tư đối với HS THPT, nhờ đó các hành vi tương ứng với các chuẩn mực đạo đức nhất định có thể khơi dậy ở họ những xúc cảm đặc biệt. Nói cách khác, ở lứa tuổi HS THPT, niềm tin đạo đức đã bắt đầu hình thành. Sự hình thành niềm tin đạo đức biến các em từ chỗ là người chấp nhận, phục tùng các chuẩn mực đạo đức trở thành chủ thể tích cực của chúng. Điều này thể hiện đặc biệt rõ trong việc tìm kiếm hình mẫu lý tưởng. HS nhỏ tuổi tiếp nhận hình mẫu lý tưởng xuất phát từ tình cảm khâm phục một con người cụ thể và khi đó hình mẫu lý tưởng sẽ chi phối hành vi đạo đức của các em. Điều này khác hẳn đối với HS THPT. Các em HS THPT tìm kiếm hình mẫu lý tưởng một cách có ý thức. Theo ThS. Huỳnh Lâm Anh Chương thì: “Các em thường so sánh những phẩm chất, những khả năng, mục đích sống và giá trị xã hội của mình với “hình mẫu” mà mình lựa chọn.” [50, 109]. Hình ảnh một con người cụ thể chỉ là phương tiện để các em gửi gắm những nguyên tắc, những biểu tượng đạo đức mà các em tiếp nhận. Tuy nhiên từ lâu các nhà tâm lý học đã nhận thấy mâu thuẫn bên trong ý thức đạo đức ở lứa tuổi HS THPT. Trong các đánh giá của mình, các em có thể rất cứng nhắc tuân theo các chuẩn mực đạo đức mà các em đã tiếp nhận, song đồng thời lại cũng nghi ngờ về tính đúng đắn của chúng. Để lý giải điều này có thể cho rằng: Lứa tuổi HS THPT vẫn là lứa tuổi mà ý thức đạo đức đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành. Mặt khác về phương diện trí tuệ, HS THPT đã hiểu được tính tương đối của các chuẩn mực. Sự nghi ngờ lật lại các chuẩn mực đạo đức của xã hội đã có thể hiện như một thao tác tìm kiếm, nghiên cứu, học hỏi để tiếp thu. 1.1.3.3. Giao tiếp và đời sống tình cảm Thứ nhất, về hoạt động giao tiếp 12 Một là giao tiếp với người lớn. HS THPT thường có tâm lý cho rằng người lớn không hiểu, không đánh giá đúng đắn và nghiêm túc về suy nghĩ, tâm tư của các em nên các em có xu hướng xa lánh, lạnh nhạt với người lớn mà tìm đến sự đồng cảm của những bạn cùng lứa tuổi. Mối quan hệ phụ thuộc, dựa dẫm vào cha mẹ dần dần được thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập. Tính tự lập của các em được thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập về tình cảm và tự lập về đạo đức và giá trị. Vì vậy, nhiều bậc cha mẹ không thấy hết những đặc điểm này của thanh niên mới lớn nên đã xảy ra xung đột gay gắt với các em chứ hoàn toàn không phải sự nổi loạn hay xung đột giữa các thế hệ. Nếu cha mẹ không cản trở việc thực hiện những khao khát bình đẳng, tự lập đó thì sự xung đột giữa họ và các em HS THPT sẽ ít xảy ra. Tuy nhiên, trong những môi trường giao lưu tự do, trong những hoàn cảnh nhàn rỗi, tiêu khiển, trong định hướng nhu cầu, sở thích nghệ thuật, HS THPT thường định hướng vào bạn bè cùng tuổi hơn là vào cha mẹ, nhưng khi nói đến các giá trị đạo đức thì ảnh hưởng của cha mẹ đối với các em lại mạnh mẽ hơn bạn bè cùng trang lứa. Từ đó, ta thấy dù cho mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái phức tạp đến đâu thì vốn tình cảm tích lũy từ thời thơ ấu vẫn sâu đậm trong lòng các em HS THPT. Trong mối quan hệ giao tiếp với thầy cô giáo có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển về trí tuệ và nhân cách của HS THPT. Vai trò chủ động, sáng tạo trong học tập của các em được giáo viên nhận thức và thực hiện. Bên cạnh đó, việc xã hội công nhận vai trò người lớn của các em và đòi hỏi các em thực hiện nghĩa vụ của một công dân như: Quyền và nghĩa vụ bầu cử, nghĩa vụ lao động hay nghĩa vụ quân sự… vào cuối lứa tuổi (18 tuổi) tạo ra cho các em những điều kiện thuận lợi và là động lực để thể hiện, rèn luyện và trưởng thành [50, 91-95]. Hai là giao tiếp trong nhóm bạn. Ở tuổi này quan hệ bạn bè chiếm vị trí quan trọng hơn những loại quan hệ khác. Do tính xúc cảm cao nên các em thường lý tưởng hoá tình bạn và ít nhận thấy đặc điểm thực tế của bạn mình. Điều quan trọng đối với tuổi này là được giao lưu với các bạn trong nhóm bạn thân, được thừa nhận, nghĩa là có uy tín, có vị trí nhất định trong nhóm. Các em coi tình bạn là mối quan hệ quan trọng nhất. Cảm giác cô đơn là cảm giác đáng sợ với lứa tuổi này. Nên có những thanh niên chọn con đường theo “chúng bạn”, sa vào những hành động sai phạm bất chấp sự phản đối của cha mẹ. Hiện tượng này đặc biệt rõ ở các nam thanh niên mới lớn. 13 Tình bạn ở lứa tuổi này có cơ sở của lý trí và bền vững hơn tình bạn ở tuổi thiếu niên. Việc chọn bạn thường không cảm tính, bề ngoài như ở tuổi thiếu niên nữa mà được xây dựng dựa trên những tiêu chí nhất định. Ví dụ như có chung sở thích, hứng thú, cùng có chung quan điểm về một số vấn đề nào đó, mến phục bạn về những phẩm chất đức tính nào đó... Nên tình bạn của lứa tuổi này thường sâu sắc và rất bền vững có khi kéo dài suốt cuộc đời. Sự gặp nhau về xu hướng, tính cách hay năng lực của các em là cơ sở để hình thành những nhóm bạn, có thể cùng giới hay khác giới. Hình thức học tập nhóm ở trường THPT, sự phát triển của giao tiếp nhóm trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay thông qua các kênh truyền thông là những nguyên nhân cũng góp phần, kích thích sự hình thành nhóm bạn của HS THPT. Nhóm bạn có thể là một thế giới thu nhỏ mà ở đó các em học cách giao tiếp, học cách làm việc và thể hiện cái tôi, từ đó hoàn thiện nhân cách của mình [50, 106-107]. Ba là quan hệ giới tính. Một loại tình cảm rất đặc trưng xuất hiện ở độ tuổi này là tình yêu nam nữ. Cảm giác về mối tình đầu đã có thể xuất hiện lẻ tẻ. Đây là một hiện tượng rất tự nhiên trong đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn. Nhìn chung, tình yêu ở lứa tuổi này thường trong sáng, thuần khiết, hồn nhiên và giàu cảm xúc. Có thể nói đây là yếu tố chi phối mạnh mẽ sự phát triển tâm lý cũng như đời sống tình cảm của thanh niên trong lứa tuổi này. Tuy nhiên, khoa học và thực tế đời sống đã chứng minh rằng, ở độ tuổi này, sự chín muồi về sinh lý và tính dục đã đi trước một bước so với sự trưởng thành về tâm lý, về xã hội và kinh nghiệm sống. Trong khi đó cảm giác của mối tình đầu gây những rung cảm rất mãnh liệt. Nói cách khác, những điều kiện cần và đủ để đi vào tình yêu đôi lứa chưa hội tụ đủ. Điểm đặc trưng trong tình yêu ở lứa tuổi này là có sự pha trộn giữa tình yêu và tình bạn mà bản thân các em cũng không phân biệt rạch ròi. Tình cảm các em dành cho nhau rất kín đáo, thầm kín, nhiều e thẹn và rất chân thành. Các em thường ấp ủ trong tâm hồn nhiều hơn là biểu lộ ra bên ngoài nhưng ấn tượng lại rất mạnh, rất sâu sắc mà nếu đổ vỡ thường gây nhiều đau khổ cho cả hai. Ít đi tới hôn nhân, đơn giản là vì các em còn thiếu rất nhiều điều kiện để thực hiện hôn nhân và cuộc đời phía trước các em còn nhiều biến động. Người lớn cần phải coi đây là một hiện tượng rất bình thường và tự nhiên trong quá trình trưởng thành của con người, không nên coi đây là một vấn đề nghiêm trọng cần phải can thiệp “gấp”. Mọi sự can thiệp thô bạo, cấm đoán đều không phải là những
- Xem thêm -