Tài liệu Luận văn thạc sĩ thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của vi hồng

  • Số trang: 124 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 25 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong

Đã đăng 59174 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ------------- O0O ---------- DƯƠNG THỊ XUÂN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VI HỒNG CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ : 60. 22. 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: TS. Đào Thuỷ Nguyên Thái Nguyên - 2009 LỜI CẢM ƠN! Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS. Đào Thủy Nguyên đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình thầy giáo Vi Hồng, các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, cùng gia đình, bạn bè người thân đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này. Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2009 Dương Thị Xuân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Lịch sử vấn đề 2 3. Giới thuyết về thế giới nghệ thuật 8 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9 5. Mục đích nghiên cứu 9 6. Phương pháp nghiên cứu 9 7. Cấu trúc luận văn 10 NỘI DUNG Chương 1: Cảm hứng nghệ thuật gắn với thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng 11 1.1. Khái niệm cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật. 11 1.2. Cảm hứng nghệ thuật gắn với thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng 13 1.2.1. Cảm hứng ngợi ca gắn với những con người đẹp đẽ 14 1.2.1.1. Ca ngợi những con người có vẻ đẹp lí tưởng về hình thể. 14 1.2.1.2. Ca ngợi những con người bình thường có tấm lòng nhân hậu, vị tha. 17 1.2.1.3. Ca ngợi những người trí thức có trí tuệ toả sáng 21 1.2.2. Cảm hứng cảm thương gắn với những con người bất hạnh 26 1.2.2.1. Cảm thương cho con người bị những hủ tục phong kiến xưa vùi dập, đoạ đầy 26 1.2.2.2. Cảm thương cho những con người bất hạnh trước tội ác dã man tàn bạo của bọn thống trị miền núi 32 1.2.3. Cảm hứng châm biếm, mỉa mai những con người vô học tối tăm và lên án phê phán, những con người xảo trá, tàn bạo 35 1.2.3.1. Cảm hứng châm biếm mỉa mai những con người vô học tối tăm 35 1.2.3.2. Cảm hứng phê phán, lên án những người có chức, có quyền bất tài, tráo trở, độc ác, vô nhân tính 39 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn Chương 2. Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng. 46 2.1. Khái niệm không gian nghệ thuật. 46 2.2. Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng 48 2.2.1. Không gian bối cảnh. 48 2.2.1.1. Bối cảnh thiên nhiên. 48 2.2.1.2. Bối cảnh xã hội. 61 2.2.2. Không gian sự kiện. 76 2.2.3. Không gian tâm lí. 80 Chương 3. Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng. 85 3.1. Khái niệm thời gian nghệ thuật. 85 3.2. Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng. 86 3.2.1. Thời gian sự kiện. 86 3.2.1.1. Thời gian sự kiện lịch sử. 86 3.2.1.2. Thời gian sự kiện đời tư. 91 3.2.2. Thời gian tâm lí. 99 3.2.2.1. Thời gian hiện tại. 100 3.2.2.2. Thời gian quá khứ. 103 3.2.2.3. Thời gian tương lai. 107 3.2.2.4. Thời gian đồng hiện. 110 3.2.3. Mối quan hệ giữa thời gian và không gian nghệ thuật. 111 KẾT LUẬN 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. 1.1. Vi Hồng là một cái tên được nhiều người biết đến trong đội ngũ nhà văn là người dân tộc thiểu số Việt Nam. Trong hành trình lao động nghệ thuật gần 40 năm, ông có số lượng sáng tác khá đồ sộ: 15 cuốn tiểu thuyết, 8 truyện ngắn, 6 tập sưu tầm truyện cổ Tày, Nùng và các công trình nghiên cứu về Sli lượn, khảm hải, dân ca nghi lễ... trong đó, có nhiều tác phẩm dành được nhiều giải thưởng có giá trị. Ông trở thành một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, để lại dấu ấn sâu sắc và một tình cảm nồng thắm nơi trái tim người đọc. 1.2. Vi Hồng sáng tạo trên nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, truyện viết cho thiếu nhi, các công trình nghiên cứu Sli lượn, Khảm hải... Ở thể loại nào nhà văn cũng thể hiện tài năng và một phong cách riêng rất rõ rệt. Tuy nhiên, thể loại tiểu thuyết là nơi mà ông tập trung nhiều tâm huyết và tinh lực nhất. Nhiều nhà nghiên cứu đã có những nhận xét khẳng định sự thành công của ông ở thể loại này. Yếu tố quan trọng làm nên sự thành công ấy chính là thế giới nghệ thuật. Vì vậy, tìm hiểu thế giới nghệ thuật là một việc làm không thể thiếu khi nghiên cứu sáng tác của Vi Hồng ở thể loại tiểu thuyết. 1.3. Là một sinh viên đã được nhà giáo Vi Hồng giảng dạy trong những năm học ở trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, người viết ước vọng qua những trang nghiên cứu này giúp người đọc hiểu hơn về con người, về cuộc đời, đặc biệt là tài năng của Thầy - một nhà văn dân tộc thiểu số tiêu biểu. Qua đó, góp phần khẳng định vị trí của nhà văn trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn 2. Lịch sử vấn đề. Vi Hồng là nhà văn tiêu biểu, đã có những đóng góp không nhỏ vào nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung và nền văn học dân tộc thiểu số nói riêng. Năm 26 tuổi (1959), ông được trao giải nhì, giải thưởng của Tổng hội Sinh viên Việt Nam với truyện ngắn Ngôi sao đỏ trên đỉnh núi Phja Hoàng. Ba năm sau (1962), ông lại vinh dự nhận một giải nhì nữa của báo “Người giáo viên nhân dân” với truyện ngắn Cây su su noọng ỷ. Có thể nói tên tuổi của ông đã được nhiều người biết đến và trở nên quen thuộc với bạn đọc cả nước từ những năm 70 của thế kỷ trước. Đã có một số công trình nghiên cứu về thành tựu sáng tác của Vi Hồng trong thành tựu chung của văn học dân tộc thiểu số: bài Nhìn lại Văn học Tày của Dương Thuấn Bài “Văn xuôi” trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại [190], và “Một mảng văn học đặc sắc” trong cuốn Văn học và miền núi [103] của tác giả Lâm Tiến Một số công trình nghiên cứu về toàn bộ sáng tác của Vi Hồng như bài: “Vi Hồng” của Hoàng Thi trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (nhiều tác giả) [146], Kỉ yếu hội thảo về nhà văn Vi Hồng của Hội văn học nghệ thuật Thái Nguyên, đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Phạm Mạnh Hùng đã đi sâu Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi Hồng... Một số bài viết về các tác phẩm cụ thể như: “Người trong ống của Vi Hồng” (Nguyễn Long) [14, 58], “Tiểu thuyết Gã ngược đời của Vi Hồng”(Tú Anh) [14,63], “Lòng dạ đàn bà - Tiểu thuyết của Vi Hồng” (Thuý Anh) [14, 66] ... Một số công trình đã đi vào nghiên cứu một số phương diện cụ thể trong tiểu thuyết của Vi Hồng như: “Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết của Vi Hồng” (Trần Thị Đoàn – Nguyễn Thị Thu Hà) [14, 19], “Giọng điệu trần thuật trong một số tiểu thuyết của Vi Hồng” (Ngô Thu Thuỷ) [14, 41], “Bản sắc dân tộc qua ngôn ngữ trong Đất bằng của Vi Hồng” (Nguyễn Thị Thu Hằng) [14, 53], “Bản sắc dân gian trong tiểu thuyết của Vi Hồng” (luận văn tốt nghiệp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn của Đỗ Thuỳ Liên 2007), “Tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng” (Luận văn thạc sĩ của Hoàng văn Huyên 2003), “Tính dân tộc trong tiểu thuyết Tháng năm biết nói, Chồng thật vợ giả, Núi cỏ yêu thương của Vi Hồng” (Luận văn tốt nghiệp Đại học của Nông Thị Quỳnh Trâm 2004), “Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Vi Hồng” (Luận văn tốt nghiệp Đại học của Nguyễn Thị Thu Hương 2008), “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng” (Luận văn thạc sĩ của Ma Thị Ngọc Bích 2004), “Chất thơ trong tiểu thuyết của Vi Hồng” (Vũ Minh Tú - Đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên 2009) Nhìn chung ở những công trình trên, các nhà nghiên cứu đã có những đánh giá về những thành công và hạn chế trong sự nghiệp sáng tác của Vi Hồng. Tác giả Hoàng Thi trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam khẳng định thành tựu sáng tác của Vi Hồng chủ yếu tập trung ở thể loại tiểu thuyết: “Nói chung mặc dù ông rất tâm huyết với thơ và cả kịch nữa, nhưng ông vẫn chưa đạt được kết quả như ý muốn. Chỉ khi đến với truyện ngắn đặc biệt là thể loại tiểu thuyết thì nhà văn mới phát huy được hết những tiềm năng của mình, ông mới thực sự được chú ý và chiếm được tình cảm nơi trái tim người đọc” [115,148]. Dương Thuấn trong bài “Nhìn lại văn học dân tộc Tày” (Tạp chí nghiên cứu Văn học số 5 – 2006) đánh giá: Vi Hồng là “Tác giả đáng chú ý nhất trong nền văn học thiểu số Việt Nam hiện đại” Nhà phê bình Lâm Tiến trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nxb Văn hoá dân tộc – 1995) và cuốn Văn học và miền núi - phê bình và tiểu luận (Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc – 2002) đã có cái nhìn khái quát về toàn bộ tiến trình phát triển của nền văn học thiểu số Việt Nam hiện đại và có những nghiên cứu khá sâu về các tác giả tiêu biểu, trong đó có nhà văn Vi Hồng. Lâm Tiến khẳng định những trang viết của Vi Hồng đã góp phần làm nên những hạt mầm cho nền văn học vẫn còn hết sức non trẻ. Năm 2006, Hội Văn học nghệ thuật Thái Nguyên đã tổ chức Hội thảo về nhà văn Vi Hồng và cuốn Kỉ yếu hội thảo về nhà văn Vi Hồng đã ra đời. Cuốn sách này, có rất nhiều tác giả là những người bạn, là đồng nghiệp, là học trò, là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn con của nhà văn… mỗi người góp thêm một tiếng nói để lưu giữ cuộc đời cũng như tài năng của một nhà giáo, một nhà văn đầy tâm huyết và giầu lòng yêu thương con người. Đọc bản thảo Đất bằng của Vi Hồng, nhà văn Nguyên Ngọc có nhận xét về nghệ thuật viết tiểu thuyết của Vi Hồng - nghệ thuật mang mầu sắc dân tộc rất riêng: “Cách viết của anh rất khác cách viết tiểu thuyết của ta - ít ra là của tôi... Riêng tôi, tôi hết sức chú ý và muốn suy nghĩ nhiều về cách viết của Vi Hồng, của YĐiêng... Cách viết bao gồm từ cách hình dung về nhân vật, xây dựng nhân vật, cách kể chuyện, dẫn dắt cốt truyện, lựa chọn cốt truyện, lựa chọn tình tiết...”(Báo nhân dân ngày 19/4/1980). Về cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng, nhà phê bình Lâm Tiến khẳng định: “Thành công lớn nhất trong tiểu thuyết của Vi Hồng là viết về những kỉ niệm, những mảng cuộc sống mà ông đã từng trải… Đó là những mối tình đẹp đẽ của người lao động. Vi Hồng đã biết kết hợp trong tác phẩm của mình giữa cuộc sống và chiến đấu, lao động sản xuất và tình yêu. Nhà văn làm cho chúng ta yêu mến thiết tha những nhân vật đó.” [14, 17]. Nhận xét về nhân vật trong sáng tác của Vi Hồng, Hoàng Thi viết: “phải tha thiết yêu quê hương làng bản, yêu những con người cụ thể của dân tộc, Vi Hồng mới thành công như vậy khi xây dựng nhân vật của mình. Đó chính là những con người quê hương anh... Họ đều là những người nói tiếng nói của quê hương, tiếng nói giầu hình ảnh, nhạc điệu của người Tày, người Dao. Có độc giả người dân tộc thiểu số nào ở Việt Bắc khi đọc Vi Hồng lại không cảm thấy mình đang sống lại, đang trở về với cội nguồn của mình” [15, 149]. Hoàng Thi đã đánh giá cao sự thành công của Vi Hồng khi xây dựng nhân vật. Dường như toàn bộ đối tượng sáng tác của ông đều là những con người miền núi. Họ mang những nét tiêu biểu nhất của những con người nơi họ sinh ra và lớn lên. Chính vì vậy mỗi người, nhất là những người dân tộc, khi đọc tiểu thuyết của Vi Hồng đều có thể Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn tìm thấy mình và cuộc sống của mình. Điều đó làm nên nét riêng khó lẫn trong sáng tác của Vi Hồng. Nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng đa dạng, phong phú, và thường được khám phá ở hai bình diện đối lập, đó là nhận định của nhà giáo Cao Xuân Thử:“ Vi Hồng đã bước đầu nhận ra, nhìn thấy khá rõ hai phương diện khác nhau, trái nhau, đối lập nhau ở một con người”. Và khi nhận thấy điều đó thì: “Nhà văn thừa nhận sự tồn tại của cái xấu, cái ác, cái chưa hoàn thiện trong con người, nhà văn trình bày nó để nó tồn tại như là sự tất yếu cùng với cái tốt và cái thiện” [14, 88]. Đọc tiểu thuyết của Vi Hồng, Hồ Thuỷ Giang phát hiện ra rằng: “Vi Hồng ít đề cập đến sự phức tạp về tâm lí. Anh nghiêng về khắc hoạ những nét đẹp hoang sơ và thuần khiết của tâm hồn” [14, 81]. Lâm Tiến cũng nhận định: “Nhân vật của ông thường có sự thống nhất giữa ngoại hình và tính cách… đã đẹp nết thì đẹp người và ngược lại. Đó là kiểu mô típ quen thuộc trong văn học dân gian” [8, 103]. Khi tìm hiểu “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng”, tác giả Ma Thị Ngọc Bích đã phân loại nhân vật từ góc độ loại hình nghề nghiệp xã hội: đó là nhân vật trí thức và nhân vật người lao động. Từ cách phân loại đó, tác giả của luận văn đã khái quát toàn bộ thế giới nhân vật, từ tầng lớp trí thức đến những người lao động bình thường, từ những con người đẹp đẽ đến những con người xấu xa, tầm thường tạo thành một thế giới nhân vật hết sức phong phú, đa dạng. Về không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng, nhìn chung các nhà nghiên cứu chú ý đến không gian bối cảnh thiên nhiên. Lâm Tiến nhận ra mầu sắc miền núi đậm nét trong không gian bối cảnh thiên nhiên: “Thiên nhiên trong tác phẩm của ông rực rỡ sắc mầu, rộn rã âm thanh, ngạt ngào hương vị như mang cả hơi thở cuộc sống, tâm hồn của người miền núi” [14, 17]. Cũng chung cảm nhận ấy nhà văn Hồ Thuỷ Giang phát hiện thêm một không gian huyền thoại: “Trong tiểu thuyết của Vi Hồng mọi cảnh sắc thiên nhiên từ mỏm đồi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn đến con suối, từ nẻo đường rừng đến bờ vực sâu, từ ánh trăng đến tảng đá núi đều hiện lên lung linh như huyền thoại” [14, 81]. Vũ Minh Tú trong Chất thơ trong tiểu thuyết của Vi Hồng (Đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên năm 2009) lại phát hiện ra một không gian thơ mộng, tràn ngập chất thơ. Chất thơ ấy được toát ra từ thiên nhiên, con người và cuộc sống miền núi. Qua việc khảo sát chất thơ trong tiểu thuyết của Vi Hồng, tác giả khẳng định: “Trong tiểu thuyết của ông, chất thơ của hồn núi rừng, làng bản cứ tuôn chảy lấp lánh, dạt dào từ ngòi bút có nghề” [41]. Khác với các nhà nghiên cứu trên, Hoàng Thi lại thấy: “Vi Hồng đã dẫn dắt người đọc trở về quê hương miền núi, về với bản làng mình sau những ngày đi xa, những cảnh vật quen thuộc (một cánh đồng, một dòng suối, một cây mận đang ra hoa…) một tiếng “úp lều” trâu húc nhau cùng với những con người xiết bao gần gũi mến yêu với những kỉ niệm êm đẹp từ thủa ấu thơ đến những ngày khôn lớn… Tất cả như đồng hiện kéo ta trở về cội nguồn” [15, 148]. Như vậy, theo Hoàng Thi không gian trong tiểu thuyết của Vi Hồng lại vô cùng quen thuộc, mộc mạc mà gần gũi thân thương đối với mỗi con người. Đó chính là cội nguồn nơi ta sinh ra và lớn lên. Về bối cảnh xã hội trong sáng tác của Vi Hồng, cũng có một số nhận xét thật xác đáng. Nhà giáo Cao Xuân Thử đã nhận thấy: “Vi Hồng là người am hiểu văn hoá Tày, anh say đắm Si lượn. Anh hiểu cặn kẽ phong tục, tập quán, lề thói, tập tục đến lễ hội, đến cái ăn, cái uống, sự mặc, việc dựng nhà cửa... nghĩa là tất cả nề nếp sinh hoạt của đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc anh. Đặc biệt anh cảm nhận thấu đáo, cảm nhận được cái tinh tuý, minh triết trong sự lựa chọn và ứng xử của mỗi con người trong đời sống cá nhân, đời sống xã hội, đời sống cộng đồng Tày”. [14, 85]. Trong bài Cách viết tiểu thuyết của nhà văn Vi Hồng, Lâm Tiến khẳng định: “Vi Hồng cũng thành công trong việc viết về những phong tục, tập quán của dân tộc Tày. Những ngày hội mùa thật náo nhiệt trong Núi cỏ yêu thương, đám Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn ma của Ké Xanh trong Đất bằng, đêm khẩu tảo, đêm mở đầu của đám ma thật bận rộn cùng với lời nguyền mang độc địa của già Xanh...” [14, 18]. Hoàng văn Huyên trong đề tài Tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng – luận văn Thạc sĩ khoa học năm 2003 cũng đã khái quát được bối cảnh thiên nhiên, bối cảnh xã hội. Tác giả khẳng định: “cả không gian, thời gian, sắc mầu của tự nhiên, con người và cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm luôn đậm đà bản sắc các dân tộc miền núi Việt Bắc” [78]. Về thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng, Lâm tiến có nhận xét thật sâu sắc: “Truyện thường phát triển theo mạch đi lên của thời gian. Nếu đảo lộn thì cũng chỉ là những đảo lộn đơn giản” . Trong bài Cốt truyện trong văn xuôi các dân tộc miền núi, tác giả phạm Duy Nghĩa nhận định: “Xét theo tiêu chí thời gian, loại cốt truyện phổ biến nhất ở mảng văn xuôi dân tộc thiểu số là cốt truyện tuyến tính (tự sự theo mạch thẳng thời gian, duy trì theo quan hệ nhân quả)” [21, 54]. Theo ông thì việc trần thuật theo thời gian tuyến tính có tác dụng là để cho độc giả miền núi dễ nắm bắt nội dung ý nghĩa của truyện, song sự so le giữa diễn biến cốt truyện với sự trần thuật đã bị bỏ phí. Từ những điểm chung đó người viết nhận ra điểm khác biệt trong cách viết của Vi Hồng: “Vi Hồng có ý thức sớm về điều này nên ở tiểu thuyết Vãi Đàng đã đảo lộn ở một số thời gian nhất định” [21, 54]. Phạm duy Nghĩa khẳng định sự đổi mới trong cách xử lí thời gian: “Sự xử lí thời gian như một phương tiện nghệ thuật mới trở nên linh hoạt và thường xuyên hơn, quan hệ của các tuyến nhân vật cũng chồng chéo, phức tạp hơn” [21, 55]. Có thể nói vẫn còn rất ít những nhận xét về thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Vi Hồng. Nghiên cứu về không gian và thời gian nghệ thuật thì hầu như chưa có một công trình nào chuyên biệt. Như vậy có thể thấy các yếu tố làm nên thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng đã được quan tâm ở một mức độ nhất định. Nhưng các ý kiến mới chỉ là những nhận định có tính khái quát, chung chung, chưa có một cái nhìn tổng thể, có tính hệ thống về toàn bộ thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn Thực tế đó đã gợi ý cho chúng tôi lựa chọn đề tài: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng. 3. Giới thuyết về thế giới nghệ thuật. Nhà văn Seđrin đã nói: “Tác phẩm văn học là một vũ trụ thu nhỏ, mỗi sản phẩm nghệ thuật là một thế giới khép kín trong bản thân nó”. Như vậy, một tác phẩm toàn vẹn phải xuất hiện như một thế giới nghệ thuật. Bêlinxki cũng đã từng nhận xét: “Mọi sản phẩm nghệ thuật đều là một thế giới riêng mà khi đi vào đó thì ta buộc phải sống theo các quy luật của nó, hít thở không khí của nó”. Từ những nhận xét trên ta có thể hiểu thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ. Nó là kiểu tồn tại đặc thù vừa trong chất liệu, vừa trong cảm nhận của người thưởng thức, vừa là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức trong chỉnh thể thẩm mỹ của tác phẩm. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì thế giới nghệ thuật là: “khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu). Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật (…). Khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ ” [16, 251]. Thế giới nghệ thuật có tính độc lập tương đối so với thế giới tự nhiên hay thực tại xã hội. Đó chính là sự thừa nhận quyền sáng tạo của người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm văn học không phải là sự sao chép, lệ thuộc máy móc vào thực tại bên ngoài, mà: “ là một thế giới riêng được sáng tạo theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy. Thế giới nghệ thuật có không gian, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng... chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tạo nghệ thuật” [16, 251]. Như vậy thế giới nghệ thuật phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, vũ trụ quan và cách cắt nghĩa đời sống rất riêng của chủ thể sáng tạo. Mỗi tác phẩm lớn, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn tác giả lớn đều có thế giới nghệ thuật riêng của mình thể hiện tính độc đáo trong tư duy và phong cách nghệ thuật của nhà văn. Cách hiểu trên đây về thế giới nghệ thuật là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong toàn bộ tiểu thuyết của Vi Hồng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 4.1. Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ tiểu thuyết của Vi Hồng gồm 15 cuốn: "Đất bằng"(1980), "Núi cỏ yêu thương", (1984), “Thung lũng đá rơi” (1985), “Vào hang” (1990), "Người trong ống”, “Gã ngược đời"(1990), “Ái tình và kẻ hành khất” (1990), "Lòng dạ đàn bà" (1992), "Dòng sông nước mắt" (1993), “Tháng năm biết nói “(1993), “Phụ tình” (1994), "Chồng thật vợ giả"(1994), “Đi tìm giầu sang” (1995), “Đoạ đầy” (1997), “Mùa hoa Bioóc loỏng” (1997). Tuy nhiên, khi nghiên cứu chúng tôi tập trung chú ý vào những tác phẩm tiêu biểu nhất của Vi Hồng. 4.2. Phạm vi nghiên cứu. Luận văn không đi sâu vào nghiên cứu tất cả những vấn đề thi pháp mà chỉ tập trung vào một số phương diện cơ bản trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Vi Hồng. Đó là: Cảm hứng nghệ thuật gắn với thế giới nhân vật, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật. 5. Mục đích nghiên cứu. Nghiên cứu một số vấn đề thi pháp trong tiểu thuyết của Vi Hồng, chúng tôi nhằm mục đích làm rõ hơn những nét riêng trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Vi Hồng. Từ đó, có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về những đóng góp của Vi Hồng trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. 6. Phương pháp nghiên cứu. Để hoàn thành nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp cơ bản sau: - Phương pháp thống kê, khảo sát. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn - Phương pháp hệ thống. - Phương pháp khái quát, tổng hợp. - Phương pháp đối chiếu, so sánh. - Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học. - Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại. 7. Cấu trúc luận văn. Luận văn gồm 3 phần: phần Mở đầu, phần Nội dung và phần Kết luận. Trong phần nội dung gồm có 3 chương: Chương 1: Cảm hứng nghệ thuật gắn với thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng. Chương 2: Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng. Chương 3: Thời gian nghệ thuật nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn NỘI DUNG Chương 1 CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT GẮN VỚI THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VI HỒNG 1.1. Khái niệm cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật Nghệ thuật là một phương tiện nhận thức thực tại. Đối tượng nhận thức của sáng tạo nghệ thuật không phải là những điều đã được nhìn thấy một cách thờ ơ mà là những xúc cảm được khắc sâu trong trái tim. Muốn thế, người nghệ sĩ phải có những tình cảm thật tha thiết, mãnh liệt với cuộc đời. Từ những xúc cảm ấy sẽ tạo thành những ấn tượng trực tiếp. Những tình cảm như: căm giận, buồn vui... sẽ chiếm lĩnh toàn bộ con người anh ta và thế là tư tưởng của nhà văn xuất hiện. Những biểu hiện tình cảm, tâm hồn của người nghệ sĩ được gợi lên từ những hiện tượng xã hội, được nhà văn phản ánh trong tác phẩm tạo thành nội dung cảm hứng của tác phẩm. Trong sáng tác nghệ thuật, cảm hứng được biểu hiện ở mọi biến thể, nhưng tất cả đều là sự ý thức về mặt tư tưởng và sự đánh giá về mặt cảm xúc. Có thể nói: "Cảm hứng nghệ thuật là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng và là một ham muốn tích cực đưa đến hành động, là niềm say mê khẳng định chân lí, lí tưởng, phủ định sự giả dối và mọi hình tượng xấu xa tiêu cực, là thái độ ngợi ca đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán tố cáo thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường" [25, 43]. Như vậy cảm hứng nghệ thuật là một phương diện đặc thù của tác phẩm văn học, bao gồm trong nó cả hai mặt chủ quan và khách quan. Nó xuất phát từ nhu cầu nội tại bên trong của người nghệ sĩ trước hiện thực khách quan. Cảm hứng phải là một trạng thái tình cảm sâu sắc mãnh liệt thể hiện tư tưởng của nhà văn trong sự chiếm lĩnh và khám phá bản chất cuộc sống. Các nhà nghiên cứu cho rằng : Cảm hứng nghệ thuật có thể có những biến thể khác nhau như cảm hứng cảm thương, cảm hứng ngợi ca, cảm hứng hài hước, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn châm biếm... Các biến thể ấy vừa mang những đặc trưng riêng, đồng thời cũng có những mối quan hệ bổ sung và tương hỗ lẫn nhau. Trong từng tác phẩm, cảm hứng này có thể trở thành một phương diện của cảm hứng kia. Cảm hứng nghệ thuật là một tình cảm xã hội được ý thức, nó đem đến cho tác phẩm một không khí cảm xúc nhất định, tác động mạnh mẽ đến người đọc. Cảm hứng nghệ thuật thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố nội dung cũng như hình thức của tác phẩm như: cốt truyện, kết cấu, xung đột, nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ trong đó nhân vật là nơi biểu hiện rõ nhất và trọn vẹn nhất cảm hứng nghệ thuật của nhà văn. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng như (Tấm Cám, chị Dậu, anh Pha) cũng có thể không có tên riêng như “thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong Truyện Kiều” [202] Trong tất cả các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, thậm chí cả thơ đều có nhân vật, đặc biệt với thể loại tiểu thuyết thì càng không thể thiếu nhân vật. “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực ở tất cả mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [16, 277]. Giữa cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật trong sáng tác của một nhà văn thường có mối quan hệ gắn kết mang tính hô ứng, tương giao. Cảm hứng nào thì nhân vật ấy, và ngược lại. Mỗi nhân vật luôn gắn với một cảm hứng và một phương diện nào đó của cảm hứng nghệ thuật. Tìm hiểu sự thể hiện con người trong văn học thông qua thế giới nhân vật, trong mối quan hệ phù hợp và hô ứng với cảm hứng nghệ thuật của nhà văn là tìm hiểu một phương diện cơ bản trong thế giới nghệ thuật của nhà văn, góp phần quan trọng vào việc xác định phong cách nghệ thuật của nhà văn. Khảo sát toàn bộ tiểu thuyết của Vi Hồng chúng tôi nhận thấy có một số cảm hứng cơ bản gắn với một số kiểu loại nhân vật phù hợp. Đó là cảm hứng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn ngợi ca gắn với những con người đẹp đẽ, cảm hứng cảm thương gắn với những con người bất hạnh, cảm hứng châm biếm, phê phán những con người vô học tối tăm và những kẻ xảo trá, tàn bạo. 1.2. Cảm hứng nghệ thuật gắn với thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng. Nhà văn Vi Hồng sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo dân tộc Tày ở bản Phai Thin xã Đức Long huyện Hoà An tỉnh Cao Bằng. Từ nhỏ, ông đã gắn bó với quê hương, được tiếp xúc với rất nhiều con người và những cảnh đời khác nhau. Có lẽ vì thế mà Vi Hồng có điều kiện thể hiện hình ảnh những đồng bào của mình trên trang viết một cách sâu sắc. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng rất đa dạng, phong phú. Trong thế giới ấy có nhân vật phụ nữ, trẻ em, thanh niên, người già, bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, thày mo, chẩu mường, quan Tây... Mỗi nhân vật có một tính cách riêng, hoàn cảnh riêng, nhưng họ đều là những người con của núi rừng Việt Bắc. Có thể nói, nguồn suối văn học dân gian cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tư duy sáng tạo nghệ thuật của Vi Hồng. Ngay từ nhỏ ông đã được tắm mình trong môi trường văn hoá dân gian, được nghe những bài dân ca trữ tình Tày, Nùng và những điệu hát then của gia đình, quê hương. Trưởng thành, ông lại được làm cán bộ giảng dạy văn học dân gian ở trường đại học hơn 30 năm. Trong văn học dân gian trắng - đen, thiện - ác được phân biệt một cách rõ ràng. Nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng cũng được phân chia thành hai nhóm rõ rệt: chính diện và phản diện, cao đẹp và tầm thường, thánh thiện và gian ác. Tuyến nhân vật chính diện thường là những con người đại diện cho cái đẹp, cái thiện. Họ có những suy nghĩ, hành động cao cả mang đầy tính nhân văn. Tuyến nhân vật phản diện thường là những nhân vật xấu xa, đại diện cho cái ác trong xã hội. Hai tuyến nhân vật này được đặt cạnh nhau, đấu tranh với nhau. Và cuối cùng phần thắng sẽ thuộc về cái tốt, cái thiện. Tuy nhiên để có được chiến thắng, nhân vật chính diện phải trải qua rất nhiều khó khăn, đau khổ thậm chí cả sự hi sinh nữa. Sáng tạo hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện trong tiểu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn thuyết của mình, nhà văn Vi Hồng muốn gửi tới bạn đọc một thông điệp đậm chất nhân văn: “Hãy yêu thương và biết yêu thương những cái đẹp, nhất là những con người đẹp đẽ, cao cả,đồng thời đem hết sức mình ra trừ diệt cái ác, kẻ ác. Trừ khử những kẻ phản bội trắng trợn, nguyền rủa những kẻ “béc kha cải” (đại nịnh hót), khinh bỉ lũ yếu hèn” [43, 61]. Quan niệm trên đã chi phối toàn bộ sáng tác của Vi Hồng cũng như việc xây dựng nhân vật của ông. 1.2.1. Cảm hứng ngợi ca gắn với những con người đẹp đẽ. Nghệ thuật thời nào cũng vậy, luôn luôn có xu hướng khuyếch đại cái tốt để nó trở nên đẹp đẽ, lộng lẫy, từ đó lôi cuốn, hấp dẫn mọi người, làm cho mọi người tin rằng trên đời bao giờ cũng còn có công lí, lương tri, bao giờ cũng có người tốt. Từ đó khơi dậy ở mỗi người khát vọng vươn tới lí tưởng, muốn noi gương, bắt trước, làm theo điều thiện, điều hay. Vì vậy, trong nghệ thuật không bao giờ thiếu được cái đẹp, thiếu chất lí tưởng, thiếu chất anh hùng lãng mạn, thiếu nhân vật tích cực. Có thể nói, cảm hứng ngợi ca cái đẹp, cái thiện đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong văn học Việt Nam mọi thời. Hướng tới giá trị nhân bản truyền thống ca ngợi cái đẹp, cái thiện, lên án cái xấu, cái ác đã trở thành nhu cầu bức thiết của tất cả các nhà văn nói chung và của Vi Hồng nói riêng. Ông say sưa sáng tác và đã dành nhiều trang viết để ngợi ca cái đẹp, nhất là những con người đẹp đẽ, cao cả. 1.2.1.1. Ca ngợi những con người có vẻ đẹp lí tưởng về hình thể. Vẻ đẹp hình thể là vẻ đẹp bên ngoài mà con người có thể nhìn ngắm được. Nó hiện lên qua vóc dáng, khuôn mặt, nước da... Đọc tác phẩm của Vi Hồng, người đọc thường có ấn tượng khá đậm về những con người có vẻ đẹp ngoại hình hoàn hảo mang đặc trưng của con người miền núi. Đó là những chàng trai khoẻ mạnh với những bắp thịt nở nang, đường gân cuồn cuộn, giỏi nghề săn bắt, đối mặt với hổ, gấu, chó sói mà không hề khiếp sợ. Mi Tráng trong Mùa hoa Bioóc Loỏng “ khoẻ như một con gấu ngựa... Những bắp chân, bắp tay với những thớ thịt đỏ au nổi lên cuồn cuộn. Tấm ngực rộng thênh như như võ sĩ trên màn ảnh”. Vẻ đẹp đó là kết tinh của những gì là tinh tuý, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn sự hoà quyện của núi rừng. Hình ảnh: “bộ ngực rất khoẻ của anh cũng nổi lên cuồn cuộn trong lần áo” khiến người đọc có thể cảm nhận được sức khoẻ dẻo dai, bền bỉ của người lao động. Anh xuất hiện trong trò chơi bắt vịt ở lễ hội Lồng tồng của mường Khoang Đông trước sự thán phục của mọi người. Trong khi mọi người “lặn đến đứt hơi” mà không bắt nổi một con thì anh chỉ cần một hơi đã bắt được tới ba con vịt. Không những thế Mi Tráng còn là người giật giải nhất trong các cuộc đua ngựa. “Cũng như mọi người khác, anh quắp lấy bụng con Mạ Lài, rạp người xuống nắm lấy bờm con Mạ Lài. Mạ Lài chạy rất êm và tốc độ không thay đổi”. Hình ảnh đó khiến Mi Tráng hiện lên như một kị binh thời trung cổ với sức mạnh bạt núi băng rừng, chiến thắng tất cả. Với một thân hình cao lớn, khoẻ mạnh, Tập Tạng trong Vào hang đã “đi săn gấu khắp núi rừng Cao – Bắc – Lạng, Thái – Tuyên – Hà. Ông đi khắp sáu tỉnh ngày ấy” bắt gấu, bắt hổ bằng tay không mà chưa hề thất bại. Nhân vật Cốc trong Núi cỏ yêu thương hiện lên với một thân hình khoẻ đẹp như một tượng đồng: “Cốc đen như mầu đồng đúc tượng, đậm chắc, những thớ thịt ở bắp chân, bắp tay xoắn cuộn với nhau như những thớ lõi gỗ nghiến, gỗ lim”. Được phân công thuần hoá hai con trâu khoẻ nhất, dữ nhất của trại chăn nuôi, nhiều lúc chúng húc nhau chí tử. Khi ấy anh phải dùng sức của “hai bắp tay gân nổi cuồn cuộn...” để can không cho hai con trâu khỏi húc nhau. Với sức khoẻ như thế, Cốc không những đã thuần phục được con trâu tưởng như bất kham ấy mà anh còn cùng mọi người tham gia làm cầu. Anh là người khoẻ nhất: “Cốc khiêng những hòn đá to. Mỗi ngày, họ phải thay mấy lần quang làm bằng dây rừng chắc, to, nếu với người khác họ phải dùng suốt tháng mới hỏng”. Cùng với vẻ đẹp về hình thể là một sức khoẻ dẻo dai, họ góp phần làm cho bản mường giầu đẹp hơn. Đọc tiểu thuyết của Vi Hồng, ta còn bắt gặp rất nhiều những con người như thế. Đó là Ki Nọi trong tiểu thuyết Đoạ Đầy, Đán trong Núi cỏ yêu thương... Họ đều là những người trai khoẻ mạnh, luôn phải đối mặt với thú dữ và cả những khó Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn khăn nguy hiểm mà chưa một lần bó tay. Họ chính là kết tinh sức mạnh của núi rừng Việt Bắc. Vẻ đẹp của những người phụ nữ trong sáng tác của Vi Hồng thường được so sánh với các nàng tiên trong cổ tích. Thu Lạ trong Mùa hoa Bioóc Loỏng đã được miêu tả theo bút pháp phóng đại: “Hàn Thu Lạ, cô gái tuổi hai mươi đẹp như một nàng tiên vừa từ trên trời xuống dự hội”. Đường nét trên khuôn mặt nàng được tác giả miêu tả tỉ mỉ, ấn tượng: “Cặp lông mày sắc như nước, vầng trán thon thả thanh tú... Cặp mắt đen láy long lanh, cặp môi nàng đều đặn, đỏ chót lúc nào cũng tủm tỉm cười. Nàng nói líu lo như tiếng chim hoạ mi”. Đúng là người thanh cái tiếng cũng thanh, “cái tiếng của nàng cũng khẽ khàng, mơ màng như chính sinh ra từ những làn gió núi, hay là cái tiếng đi về của những làn mây trắng như bông trên các mái đại ngàn”. Thu Lạ quả là một bông hoa rừng ngào ngạt hương sắc. Không gian miền núi thường là nơi sinh ra những con người kết tinh vẻ đẹp diệu kì. Hạ Chi cũng là một cô gái mang vẻ đẹp thần tiên như thế: “Hạ chi từ trong nhà tắm bước ra, mặt mũi tươi rói mới mẻ như một nàng tiên vừa qua lò luyện mĩ nhân trong một truyện cổ” khiến Mi Tráng ngắm nhìn Hạ Chi mà tưởng như đang ngắm nhìn “một pho tượng tuyệt sắc của trời đất... Choáng cả rừng xanh, lấp cả mọi thung lũng. Một kì công vĩ đại”. Tạo hoá không chỉ ban tặng cho miền núi một không gian đẹp đẽ trong lành mà như để hài hoà với cảnh, tạo hoá lại gửi đến đó những con người đẹp như nàng tiên lạc lối xuống trần gian và những chàng trai khoẻ mạnh tràn đầy sức sống. Cũng bằng bút pháp ước lệ tượng trưng, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người, nhân vật Ngọc trong Tháng năm biết nói của Vi Hồng mang vẻ đẹp riêng có của người phụ nữ Việt Bắc: “Xinh đẹp mà lại khoẻ mạnh. Thân hình tròn chắc..., nước da trắng như cây chuối bóc, mịn và thơm như bột nếp nhuyễn, má hồng như cánh hoa mạ vách núi, eo như lưng con ong mật, lông mày đen, sắc như con chim hoạ mi, cặp mắt cũng cặp mắt hoạ mi, cặp môi là quả nhót chín mọng”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -