Luận văn thạc sĩ 2014 quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp á châu

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Đã đăng 9559 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  ĐẶNG THỊ BÍCH NGỌC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  ĐẶNG THỊ BÍCH NGỌC QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng Mã số : 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS. LÝ HOÀNG ÁNH TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng: 1.1.1. Rủi ro tín dụng: 1.1.1.1. Khái niệm: - Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi ngân hàng. - Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. 1.1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng: Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh có thể chia rủi ro tín dụng thành 2 loại sau: * Rủi ro giao dịch: Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch gồm ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro giao dịch là loại hình rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình giao dịch tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. Rủi ro giao dịch là loại rủi ro mang nặng tính chủ quan của bên cho vay trong quá trình tác nghiệp, bao gồm: 2 - Rủi ro lựa chọn: + Rủi ro lựa chọn là quá trình đánh giá, phân tích, lựa chọn khi tác nghiệp chưa tốt. + Phân tích, đánh giá khách hàng thiếu bao quát, còn nhiều sơ hở. + Phân tích, lựa chọn phương án vay vốn của khách hàng còn lỏng lẻo, qua loa. + Lựa chọn phương án thu nợ thiếu cân nhắc có nhiều sơ hở dẫn đến rủi ro. - Rủi ro đảm bảo: + Rủi ro đảm bảo là rủi ro liên quan đến đảm bảo tài sản. + Điều khoản đảm bảo tín dụng thiếu chặt chẽ, rõ ràng. + Danh mục tài sản đảm bảo thiếu tính cụ thể. + Hình thức đảm bảo và phương pháp xử lý tài sản còn bất cập. + Tỷ lệ đảm bảo tài sản thiếu dứt khoát, rõ ràng. - Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả vệc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. * Rủi ro danh mục: Rủi ro danh mục là loại hình rủi ro tín dụng phát sinh trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục là loại rủi ro vừa mang tính chủ quan, lại vừa bị tác động của yếu tố khách quan, bao gồm: - Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố rủi ro bên trong của mỗi khách hàng vay vốn, ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực hoạt động. 3 - Rủi ro tập trung: là loại rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng tập trung vốn cấp tín dụng quá nhiều đối với một số khách hàng; cùng cấp tín dụng cho nhiều doanh nghiệp trong cùng một ngành, một lĩnh vực kinh tế; hoặc một loại hình cấp tín dụng có rủi ro cao. 1.1.1.3. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng: * Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng: - Ngân hàng bị rủi ro: khi một khoản cho vay nào đó bị thất thoát thì sẽ phát sinh rủi ro tín dụng, suy giảm doanh thu, thêm vào đó là các chi phí do các vụ kiện tụng, làm cho lợi nhuận giảm. Nợ quá hạn chính là hậu quả mà ngân hàng phải gánh chịu. - Hệ thống ngân hàng: nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu đến các ngân hàng và bộ phận kinh tế khác. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của Ngân hàng nhà nước và chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các ngân hàng thương mại khác, làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. * Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội: Ngày nay hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hóa cao nên một khi rủi ro tín dụng xảy ra đối với ngân hàng thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế - xã hội. Cụ thể hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp và các cá nhân. 1.1.1.4. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng: * Nguyên nhân khách quan: Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng chính tham gia là ngân hàng cho vay và người đi vay. Người đi vay sử dụng tiền vay trong một khoảng thời gian, không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định 4 mà ta gọi là môi trường kinh doanh, đây chính là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng, rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là nguyên nhân khách quan. Nguyên nhân này bao gồm: - Nguyên nhân bất khả kháng: các thiệt hại từ nguyên nhân thiên tai, bão lụt, hạn hán, hỏa hoạn và động đất. Những thay đổi về nhu cầu của người tiêu dùng hoặc về kỹ thuật một ngành công nghiệp có thể làm sụp đổ cả cơ nghiệp của một hãng kinh doanh và đặt người đi vay từng làm ăn có lãi vào thế thua lỗ. - Nguyên nhân từ môi trường kinh tế: các yếu tố như vấn đề chu kỳ kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá. Môi trường kinh tế có ảnh huởng lớn đến môi trường kinh doanh của khách hàng, vì vậy ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. Thực tế chứng minh trong thời kỳ suy thoái, khủng hoảng tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thường tăng cao. - Nguyên nhân do chính sách của Nhà nước: trong điều kiện kinh tế mở cửa dưới nhiều hình thức và phương tiện, những biến động lớn về kinh tế chính trị trên thế giới có ảnh hưởng đến các quan hệ kinh tế đối ngoại của một nước mà biểu hiện là cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái,… ảnh hưởng đến sự biến động của giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu, lãi suất, mức cầu tiền tệ,…Nếu chính sách của Nhà nước thường xuyên thay đổi hoặc thay đổi một cách đột ngột, doanh nghiệp sẽ không lường trước được khả năng rủi ro xảy ra. - Môi trường pháp lý: cùng với môi trường kinh tế, môi trường pháp lý tạo nên môi trường cho vay của các NHTM. Môi trường cho vay có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực, có thể làm hạn chế hay tăng thêm rủi ro đối với hoạt động kinh doanh tín dụng của các NHTM. * Nguyên nhân từ phía người vay: 5 Nguyên nhân từ phía người vay là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Các nguyên nhân như thông tin gian dối, thiếu trung thực, khách hàng không hợp tác, sự yếu kém trong quản lý, sự đỗ vỡ của đối tác, sản phẩm và công nghệ lạc hậu, thiếu vốn trong đầu tư dài hạn, yếu tố cạnh tranh, sự phản đối, tẩy chay của công chúng đối với tác động xấu của sản phẩm/ hành vi của một doanh nghiệp. Nhìn chung các nguyên nhân này ngân hàng có thể xác định được thông qua quá trình tìm hiểu cả trước, trong và sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích sử dụng tiền vay và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh. * Nguyên nhân do ngân hàng: Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào lợi nhuận ngân hàng nên khi cho vay quá chú trọng vào lợi tức. Nhân viên tín dụng không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay, vi phạm đạo đức kinh doanh. Định giá tài sản không đảm bảo chính xác hoặc không thực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý cần thiết. Do sự cạnh tranh của các ngân hàng mong muốn có tỷ trọng cho vay nhiều hơn các ngân hàng khác. Việc ngân hàng không thu hồi được vốn có thể do đã buông lỏng quản lý, cấp tín dụng không minh bạch; áp dụng một chính sách tín dụng kém hiệu quả; trình độ, năng lực yếu kém, thiếu trách nhiệm, mất phẩm chất của một số nhân viên tín dụng tham gia cấp tín dụng. * Nguyên nhân từ các đảm bảo tín dụng: Do sự biến động giá trị tài sản đảm bảo theo chiều hướng bất lợi nghĩa là phụ thuộc vào đặc tính của tài sản và thị trường giao dịch các tài sản đó. Có 3 yêu cầu đối với tài sản đảm bảo là: - Dễ được định giá. - Dễ cho ngân hàng quyền được sỡ hữu hợp pháp. - Và dễ tiêu thụ. 6 1.1.2. Quản lý rủi ro tín dụng: Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy, công cụ và phương thức quản lý để phòng ngừa, cảnh báo và đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn. 1.1.2.1. Sự cần thiết của quản lý rủi ro tín dụng: Để hạn chế rủi ro tín dụng cần phải làm tốt từ khâu phòng ngừa cho đến khâu giải quyết hậu quả do rủi ro tín dụng gây ra. Như vậy, các nhà quản lý đề ra những mục tiêu cụ thể giúp ngân hàng đi đúng hướng trong phòng ngừa và giải quyết hậu quả của rủi ro tín dụng. Quản lý rủi ro tín dụng là không thể thiếu trong hoạt động tín dụng của mỗi ngân hàng. Công tác quản lý rủi ro tín dụng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng khi mà mức độ rủi ro tín dụng cũng như mức độ nguy hiểm của nó đối với ngân hàng thương mại ngày càng gia tăng. Rủi ro tín dụng luôn gây tổn thất cho các ngân hàng thương mại. Ở mức thấp, rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận, thậm chí còn làm giảm nguồn vốn tự có của các ngân hàng. Còn nếu rủi ro tín dụng không được kiểm soát tốt làm cho tỷ lệ các khoản vay mất vốn tăng lên quá cao, các ngân hàng thương mại sẽ phải đối mặt với nguy cơ phá sản. Như vậy có thể nhận thấy, rủi ro tín dụng ngày càng đe dọa sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển môi trường kinh doanh không ổn định, thị trường tài chính kém phát triển, mức độ rủi ro đối với hoạt động ngân hàng thì nhu cầu phải quản lý rủi ro tín dụng một cách hiệu quả càng trở nên cấp thiết. 1.1.2.2. Nhiệm vụ của công tác quản lý rủi ro tín dụng: - Tổ chức nghiên cứu, dự báo rủi ro có thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân dẫn đến rủi ro, hậu quả ra sao,… 7 - Hoạch định phương hướng tổ chức phòng chống rủi ro có khoa học nhằm chỉ ra những mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể chấp nhận được,… - Tham gia xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát– phòng chống rủi ro; phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên; lựa chọn các công cụ; kỹ thuật phòng chống rủi ro; xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả mà rủi ro gây ra một cách nghiêm túc. - Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng chống rủi ro đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, sai sót khi giao dịch,…Từ đó đưa ra các biện pháp điều chỉnh, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý rủi ro tín dụng. 1.2. Quy trình quản lý rủi ro tín dụng: 1.2.1. Nhận diện rủi ro tín dụng: Nhận diện rủi ro tín dụng là quá trình xác định liên tục, có hệ thống nhằm theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng rủi ro tín dụng, xác định nguyên nhân gây ra rủi ro trong từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra rủi ro tín dụng. Phương pháp: để nhận diện rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện bằng các phương pháp như lập bảng câu hỏi nghiên cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ tín dụng, đặc biệt quan tâm điều tra các hồ sơ đã có vấn đề, phương pháp nhận biết các dấu hiệu cảnh báo khoản cấp tín dụng có vấn đề. Công tác nhận diện rủi ro tín dụng chủ yếu được thực hiện thông qua: - Tiếp xúc khách hàng. 8 - Phân tích các báo cáo tài chính của khách hàng, phân tích hồ sơ đề nghị vay vốn. - Thông qua thẩm định thực tế. 1.2.2. Lượng hóa rủi ro tín dụng: Lượng hóa rủi ro tín dụng là xác định mức rủi ro trên cơ sở các chỉ tiêu định tính và định lượng, làm căn cứ để xác định giới hạn tín dụng tối đa cho một khách hàng. Nói cách khác, lượng hóa rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro mang lại từ phía khách hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng, cũng như để trích lập dự phòng rủi ro. Một vài mô hình được áp dụng tương đối phổ biến: 1.2.2.1. Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s: Rủi ro tín dụng thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay. Việc thực hiện này được thể hiện bằng một số dịch vụ xếp hạng, trong đó có Moody’s và Standard & Poor’s là những dịch vụ tốt nhất. Đối với Moody’s xếp hạng cao nhất từ Aaa, với Standard & Poor’s cao nhất là AAA. Sau đó xếp hạng giảm dần từ Aa, A, Baa. Ba, B,…(Moody’s) và AA, A, BBB, BB, B,…( Standard & Poor’s). 1.2.2.2. Mô hình chấm điểm: - Các chỉ tiêu tài chính: các chỉ tiêu tài chính mà các cán bộ tín dụng thường được sử dụng để đánh giá khách hàng vay vốn của mình bao gồm: + Các tỷ số thanh khoản để đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. + Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động để đo lường mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của doanh nghiêp. 9 + Các chỉ số đòn bẩy tài chính để đo lường mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. + Các chỉ tiêu khả năng sinh lời để đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp. - Các chỉ tiêu phi tài chính: các chỉ tiêu phi tài chính được thu thập từ các nguồn thông tin trong và ngoài doanh nghiệp như lĩnh vực hoạt động kinh doanh, uy tín trong quan hệ với các tổ chức tín dụng, khả năng trả nợ từ lưu chuyển tiền tệ, trình độ quản lý của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng ứng phó của doanh nghiệp trên thương trường,… 1.2.2.3. Mô hình xếp hạng tín dụng: - Thông thường mô hình này được thực hiện theo những bước sau: + Thu thập thông tin. + Phân loại theo ngành. + Phân loại doanh nghiệp theo qui mô. + Xây dựng chỉ tiêu phân tích cơ bản. + Xây dựng bảng tính điểm. + Đưa vào hệ thống xếp hạng rủi ro tín dụng doanh nghiệp. + So sánh kết quả phân tích xếp hạng qua các năm, các doanh nghiệp cùng ngành, lĩnh vực. - Kết quả xếp hạng tín dụng khách hàng được chia thành các loại: AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C. + Khách hàng xếp hạng A là khách hàng có tình hình kinh doanh tốt, tình hình tài chính lành mạnh, rủi ro tín dụng thấp, ngân hàng sẵn sàng đáp ứng tín dụng. 10 + Khách hàng xếp hạng B là khách hàng kinh doanh có hiệu quả từ khá đến trung bình nhưng bị hạn chế nhất định về tài chính, kinh doanh, ngân hàng cho vay với những điều kiện nhất định. + Khách hàng xếp hạng C là khách hàng có tình hình kinh doanh, tài chính yếu kém, ngân hàng nên hạn chế, ngừng cho vay. 1.2.2.4. Mô hình 6C: Mô hình 6C gồm: Tư cách người vay (Character); Năng lực của người vay (Capacity); Thu nhập của người vay (Cash); Bảo đảm tiền vay (Collateral); Các điều kiện (Conditions); Kiểm soát (Control). Đây là mô hình khá phổ biến đang được thực hiện tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, bởi lẽ mô hình này có nhiều lợi thế và khá phù hợp với các ngân hàng thương mại trong điều kiện Việt Nam hiện nay, cụ thể là: - Tận dụng được kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu của các cán bộ tín dụng, các chuyên gia tài chính để phân tích các chỉ tiêu tài chính. Việc phân tích dựa trên công nghệ đơn giản, hệ thống lưu trữ ổn định, sử dụng hồ sơ sẵn có. - Đây là mô hình tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hình này là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của nhân viên tín dụng. - Mô hình này có thể áp dụng cho các khoản vay riêng lẻ, mang tính đặc thù chịu ảnh hưởng các yếu tố vùng miền, phong tục, tập quán thì việc dựa trên các yếu tố định lượng, không đưa ra được quyết định chính xác mà phải dựa trên ý kiến và kinh nghiệm của các các bộ tín dụng. - Các ngân hàng thương mại sử dụng mô hình này sẽ chịu chi phí cao do tốn nhiều thời gian để đánh giá và đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có tính chuyên nghiệp, có kinh nghiệm và kỹ năng. 11 - Vì đây là mô hình đơn giản nên ngân hàng chỉ cần có tiềm lực tài chính trung bình với một đội ngũ cán bộ tín dụng tương đối tốt cùng với một hệ thống thông tin quản lý cập nhật là có thể thực hiện được. 1.2.3. Kiểm soát và đánh giá rủi ro tín dụng: 1.2.3.1. Kiểm soát rủi ro tín dụng: Kiểm soát rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và những quá trình nhằm biến đổi rủi ro của một tổ chức thông qua việc né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu bằng cách kiểm soát tần suất và mức độ của rủi ro, tổn thất hoặc lợi ích. Phương pháp: căn cứ vào mức độ rủi ro đã được tính toán, các hệ số an toàn tài chính và khả năng chấp nhận rủi ro mà có những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm làm giảm mức độ thiệt hại. Các biện pháp bao gồm: ngăn ngừa rủi ro, bán nợ, phân tán rủi ro và quản lý rủi ro thông qua công cụ phát sinh. 1.2.3.2. Đánh giá rủi ro tín dụng: - Nợ quá hạn: là toàn bộ hoặc một phần nợ gốc đã quá hạn trả không phân biệt vì lý do gì. Để đảm bảo quản lý chặt chẽ các khoản nợ quá hạn trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam được phân loại theo thời gian và được phân chia theo thời hạn thành cấp độ quá hạn như sau: + Nợ quá hạn dưới 91 ngày là khoản mục chính của khoản Nợ thuộc nhóm 2 – Nợ cần chú ý. + Nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày là khoản mục chính của Nợ thuộc nhóm 3 – Nợ dưới tiêu chuẩn, các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi một phần nợ gốc và lãi. 12 + Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày là khoản mục chính của khoản Nợ thuộc nhóm 4 – Nợ nghi ngờ, các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao. + Nợ quá hạn trên 361 ngày là khoản mục chính khoản Nợ thuộc nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn, các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn. - Tỷ lệ nợ quá hạn: chỉ số được sử dụng đến đánh giá mức độ nợ quá hạn là tỷ lệ nợ quá hạn. Dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = * 100 (1.1) Tổng dư nợ + Trong đó tổng dư nợ gồm: các khoản cho vay, ứng trước thấu chi và cho thuê tài chính; các khoản chiết khấu, tái chiết khấu chứng từ có giá; các khoản bao thanh toán; các hình thức tín dụng khác. + Dư nợ: là số tiền đã giải ngân cho khách hàng tại một thời điểm cụ thể, được tính bằng số dư cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán. Dư nợ của ngân hàng được tính như sau: Dư nợ cuối kỳ = Dư nợ đầu kỳ + Doanh số cho vay trong kỳ Doanh số thu nợ. - Tỷ lệ nợ nhóm 2: Dư nợ nhóm 2 Tỷ lệ nợ nhóm 2 (%) = * 100 (1.2) Tổng dư nợ - Nợ xấu: là những khoản nợ quá hạn nhưng ở cấp độ nghiêm trọng hơn, do đó được gọi là nợ xấu. Nợ xấu có thể gây ảnh hưởng nặng nề đến kết quả 13 hoạt động kinh doanh của ngân hàng, do đó cần được theo dõi, quản lý chặt chẽ. Nợ xấu bao gồm: + Nợ quá hạn thuộc nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn. + Nợ quá hạn thuộc nhóm 4 – Nợ nghi ngờ. + Nợ quá hạn thuộc nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn. - Tỷ lệ nợ xấu: Tổng nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu (%) = Tổng dư nợ - Dư nợ trên vốn huy động: * 100 (1.3) Dư nợ Dư nợ trên tổng vốn huy động (%) = * 100 (1.4) Vốn huy động Chỉ tiêu này cho biết có bao nhiêu đồng vốn huy động được sử dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Dư nợ trên vốn huy động còn gián tiếp phản ánh khả năng huy động vốn của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng nhỏ, chứng tỏ vốn huy động tham gia vào dư nợ ít. - Chỉ tiêu hệ số thu nợ: Doanh số thu nợ Hệ số thu nợ (%) = * 100 (1.5) Doanh số cho vay + Doanh số thu nợ: là tổng số tiền mà ngân hàng thu hồi từ các khoản giải ngân cho khách hàng trong một thời gian nhất định, kể cả khoản vay năm nay và những năm trước đó, kể cả thanh toán dứt điểm hay một phần hợp đồng. Doanh số thu nợ càng lớn và tăng so với tổng dư nợ cho vay chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng ngày càng tốt. + Doanh số cho vay: là tổng số tiền mà ngân hàng thực tế giải ngân cho khách hàng dưới hình thức tiền hoặc chuyển khoản trong một thời gian nhất định. Đây chỉ là chỉ tiêu phản ánh quy mô tuyệt đối của hoạt động 14 tín dụng, nếu quy mô lớn và ngày càng mở rộng chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng tốt. Hệ số thu nợ cao cho thấy công tác thu nợ đang tiến triển tốt, rủi ro tín dụng thấp. Chỉ tiêu này còn biểu hiện khả năng thu hồi nợ của ngân hàng từ việc cho khách hàng vay. 1.3. Một số công cụ trong quản lý rủi ro tín dụng: 1.3.1. Hệ thống chấm điểm: Đây là mô hình xếp hạng tín dụng khách hàng đã có từ lâu nhằm đánh giá khách hàng vay vốn qua các hoạt động phân tích của nhân viên tín dụng ở ngân hàng thương mại thông qua các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính. Mô hình này là mô hình hết sức đơn giản và dễ thực hiện để đánh giá khách hàng. 1.3.2. Hệ thống xếp hạng tín dụng: Việc chấm điểm và xếp hạng tín dụng khách hàng được thực hiện trên cơ sở căn cứ vào các thông tin tài chính, phi tài chính của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng và hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chí do ngân hàng xây dựng. Mô hình này được nhiều ngân hàng sử dụng trong việc đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng doanh nghiệp nhằm mục đích hỗ trợ ngân hàng trong việc ra quyết định cấp tín dụng, giám sát các khoản vay của khách hàng, đánh giá rủi ro của danh mục cho vay. 1.3.3. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng: 1.3.3.1. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng bằng cách nâng cao chất lượng tín dụng: Chính sách này được thực hiện chủ yếu thông qua việc phân tích thẩm định kỹ lưỡng các thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính của người nhận nợ và áp dụng thủ tục cấp tín dụng chặt chẽ trước khi đầu tư nhằm phân 15 loại khoản vay và các đối tác vay vốn dựa vào mức độ rủi ro tín dụng của nó để quản lý. 1.3.3.2. Chính sách quản lý rủi ro bằng cách trích lập dự phòng rủi ro: Tổ chức tín dụng trích lập ra một khoản dự phòng ngằm bù đắp cho những rủi ro có thể xảy ra căn cứ vào mức độ rủi ro của các tài sản có. 1.3.3.3. Chính sách quản lý rủi ro bằng cách bảo hiểm rủi ro tín dụng: - Ngân hàng thương mại yêu cầu người nhận nợ phải có một khoản chi phí phụ thêm cho việc mua bảo hiểm nhằm bảo đảm cho khách hàng trong trường hợp phá sản. - Chất lượng tín dụng càng cao thì tỷ lệ bảo hiểm rủi ro tín dụng càng thấp, khi rủi ro tín dụng của một doanh nghiệp tăng lên, các nhà đầu tư trái khoán và các ngân hàng thương mại sẽ yêu cầu tỷ lệ bảo hiểm tín dụng cao hơn. - Việc tăng lên của các khoản bảo hiểm này là cần thiết để bù đắp cho mất mát dự kiến cao hơn về trái khoán hoặc khoản vay vì khả năng khoản vay sẽ không được hoàn trả. Kết quả là mức độ thấp về chất lượng tín dụng có thề làm tăng chi phí vay của nó. 1.3.3.4. Chính sách quản lý rủi ro bằng cách phân tán rủi ro: - Nắm giữ nhiều tài sản có rủi ro thay vì tập trung nắm giữ một hay một số loại tài sản có rủi ro nhất định. Việc phân tán rủi ro tín dụng cho nhiều người vay cho phép các tổ chức tín dụng và các nhà đầu tư giảm rủi ro tín dụng đối với toàn bộ tài sản có. - Tập hợp nhiều loại cho vay trong một tài sản cho phép tổ chức tín dụng giảm sự thay đổi về thu nhập của chúng. Thu nhập từ các khoản cho 16 vay thành công sẽ bù đắp phần lỗ từ những khoản cho vay bị vỡ nợ. Do đó làm giảm khả năng tổ chức tín dụng đó sẽ bị thiệt hại. 1.3.4. Phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng: 1.3.4.1. Phương pháp xếp hạng và giám sát rủi ro danh mục tín dụng: - Bước 1: Phân hạng rủi ro danh mục tín dụng Mục đích của việc xếp hạng khách hàng theo mức độ rủi ro tín dụng để: + Cho phép có một nhận đ ịnh chung về danh mục cho vay trong bảng cân đối của ngân hàng. + Phát hiện sớm các khoản cho vay có khả năng bị tổn thất hay đi chệch hướng khỏi chính sách tín dụng đã được đề ra của ngân hàng. + Có một chính sách định giá chính xác hơn. + Xác đ ịnh rõ khi nào cần tăng sự giám sát hoặc các hoạt đ ộng đ iều chỉnh khoản vay hoặc ngược lại. + Làm cơ sở để xác định mức dự phòng rủi ro. Một hệ thống phân hạng rủi ro là một hệ thống ghi lại các ước tính về mức độ rủi ro tiềm tàng trong từng khoản tín dụng của một danh mục tín dụng. Dựa trên những dữ liệu đã có và tầm quan trọng của từng dữ liệu, hệ thống phân hạng sẽ có một bảng định mức rủi ro đối với từng khoản tín dụng. Các cấp độ rủi ro này được đánh giá dựa trên các thông số và dữ liệu như: + Bảng cân đối kế toán ít nhất 3 năm và các hệ số tài chính cơ bản. + Kinh nghiệm, tính cách và độ tin cậy của người đ iều hành doanh nghiệp. + Lịch sử nợ vay của doanh nghiệp. + Sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào khách hàng mua và cung ứng chủ yếu. 17 + Mức độ rủi ro ngành kinh doanh mà khách hàng đang thực hiện. + Những biến động trong kinh doanh của khách hàng. + Trình độ của các cán bộ chủ chốt. + Chất lượng của các chiến lược kinh doanh trung và dài hạn. Sau khi xác định được cấp độ rủi ro của từng khách hàng như trên theo thiện chí và khả năng trả nợ, ngân hàng đánh giá chất lượng tài sản đảm bảo khoản vay để có nhận định hoàn chỉnh về hướng cho vay và hướng xử lý sau này. - Bước 2: Giám sát việc xếp hạng rủi ro Mọi biến động ảnh hưởng đến quá trình xếp hạng này phải được đánh giá lại ngay. Việc giám sát được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, tùy vào từng ngân hàng hoặc dùng đồng thời các phương pháp, đó là: + Phương pháp dùng bảng so sánh. + Phương pháp dùng đồ thị. + Phương pháp kiểm tra tại chỗ. 1.3.4.2. Quản lý rủi ro tín dụng theo Basel 1: - Tiêu chuẩn cấp tín dụng và quy trình giám sát tín dụng: Một phần công việc thiết yếu của hệ thống thanh tra là đánh giá chính sách, thông lệ và quy trình liên quan đến việc cấp tín dụng, thực hiện đầu tư cũng như công tác quản lý và danh mục đầu tư hiện tại. Chức năng tín dụng và đầu tư ở các ngân hàng là khách quan và dựa trên nguyên tắc lành mạnh. Duy trì chính sách cho vay, mục đích cho vay và thủ tục cho vay thận trọng với các văn bản cho vay hơp lý là cần thiết đối với quản lý chức năng cho vay của ngân hàng. Ngân hàng cân phải có một quá trình giám sát quan hệ tín dụng hiện tại của khách hàng. Cơ sở dữ liệu là nhân tố quan trọng của hệ thống thông tin quản lý, cần phải được chi tiết danh mục cho vay. 18 - Đánh giá chất lượng tài sản và dự phòng rủi ro mất vốn tín dụng: Thanh tra ngân hàng cần phải biết rằng ngân hàng thiết lập và duy trì các chính sách, thói quen và thủ tục phù hợp với việc đánh giá chất lượng tài sản, dự phòng rủi ro mất vốn tín dụng. Ngân hàng phải xây dựng một quy trình quan sát các khoản nợ có vấn đề và chọn lọc các món nợ quá hạn. Khi thực hiện bảo lãnh hoặc nhận vật thế chấp ngân hàng phải có phương pháp đánh giá uy tín của người bảo lãnh và đánh giá vật thế chấp. Khi có các khoản nợ có vấn đề thì ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay trên cơ sở đảm bảo cấp tín dụng và sức mạnh tài chính tổng thể. - Sự tập trung rủi ro và các rủi ro lớn: Ngân hàng phải có hệ thống thông tin quản lý, cho phép xác định những điểm đáng chú ý trong danh mục đầu tư và phải thiết lập giới hạn an tòan để hạn chế xu hướng ngân hàng tập trung vào các khách hàng đơn lẻ hoặc các nhóm khách hàng có quan hệ. - Cho vay khách hàng có mối quan hệ: Để ngăn ngừa sự lạm dụng phát sinh từ việc cho vay khách hàng có mối quan hệ, quan hệ vay vốn phải dựa trên nguyên tắc “trong tầm kiểm soát” như thế thì việc mở rộng tín dụng được giám sát một cách có hiệu quả, kiểm soát và giám thiểu rủi ro. Giao dịch cho vay khách hàng có mối quan hệ thường gây ra những rủi ro đặc biệt cho ngân hàng, vì thê nên có sự chấp thuận của Hội đồng quản trị. 1.3.4.3. Tiếp cận rủi ro tín dụng theo Basel 2: Có hai phương pháp tiếp cận để tính toán rủi ro tín dụng của ngân hàng: Phương án thứ nhất: sẽ đo lường rủi ro tín dụng theo phương pháp tiếp cận chuẩn hoá được hỗ trợ bởi các đánh giá bên ngoài về tín dụng.
- Xem thêm -