Luận văn tài chính ngân hàng nâng cao chất lượng phân tích tài chính khách hàng tại công ty tài chính dầu khí việt nam

  • Số trang: 72 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 10 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24635 tài liệu

Mô tả:

KÝ HIỆU VIẾT TẮT PVFC: Công ty tài chính dầu khí NHTM: Ngân hàng thương mại TSCĐ: Tài sản cố định TSLĐ: Tài sản lưu động VLĐR: Vốn lưu động ròng NQR: Ngân quỹ ròng CTTC: Công ty tài chính CIC: Trung tâm thông tin ngân hàng NHNN: Ngân hàng nhà nước TCTD: Tổ chức tín dụng UT: Uỷ thác TCKT: Tổ chức kinh tế CN: Cá nhân PS: Báo cáo triển khai dự án 1 DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ Bảng 1: Bảng nguồn vốn và sử dụng vốn PVFC Bảng 2: Tổng hợp các chỉ tiêu kinh doanh Giai đoạn 2003 - 2005 Bảng 3: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2006 Bảng 4: Quy mô tài sản có năm 2006 Bảng 5: Quy mô nguồn vốn năm 2006 Phụ lục 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PVFC Biểu đồ 2.1: Tổng giá trị thu xếp vốn PVFC đến năm 2006 Biểu đồ 2.2: Tín dụng với các đơn vị trong ngành của PVFC Biểu đồ 2.3: Cho vay đối với các TCTD của PCFC Biểu đồ 2.4: Cho vay các tổ chức kinh tế và cá nhân của PVFC Biểu đồ 2.5: Thu từ lãi cho vay của PVFC 2 LỜI NÓI ĐẦU Thế giới đang từng ngày thay đổi một cách lớn lao về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và Việt Nam cũng không đứng ngoài xu thế chung đó. Bước sang thế kỷ mới sự thay đổi đó lại càng thể hiện rõ nét hơn, từ khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã có nhiều sự thay đổi mới mẻ và đầy khởi sắc. Sự phát triển lớn mạnh của các công ty Nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế có ý nghĩa vô cùng to lớn góp phần đưa kinh tế đất nước ngày càng vững mạnh, trở thành "Con rồng Châu Á". Công ty Tài chính Dầu khí là một tổ chức tài chính phi ngân hàng trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, sau một thời gian hoạt động đã phát triển lớn mạnh trên nhiều phương diện về quy mô, địa bàn lĩnh vực. Với nghiệp vụ thu xếp vốn và tín dụng doanh nghiệp công ty đã thu được lợi nhuận từ hoạt động này. Tuy nhiên thu xếp vốn và tín dụng doanh nghiệp cũng chứa đựng yếu tố rủi ro khá cao. Do đó để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tang của khách hàng song song đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, công tác phân tích tín dụng nói chung và công tác phân tích tài chính khách hàng nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong việc hạn chế tối đa rủi ro tín dụng. Quá trình học tập nghiên cứu và thực tập tại công ty Tài chính Dầu khí, được sự hướng dẫn tận tình của TS Trần Đăng Khâm cũng như sự giúp đỡ của các anh chị tại công ty, em đã lựa chọn đề tài "Nâng cao chất lượng phân tích tài chính khách hàng tại Công ty Tài chính Dầu khí Việt Nam" làm đề tài luận văn tốt nghiệp với mong muốn tìm hiểu kỹ hơn hoạt động phân tích tài chính khách hàng tại công ty và trau dồi thêm kiến thức cho bản thân. 3 Kết cấu của chuyên đề Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động phân tích tài chính khách hàng tại Công ty Tài chính. Chương 2: Thực trạng công tác phân tích tài chính khách hàng tại Công ty Tài chính Dầu khí Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng công tác phân tích tài chính khách hàng tại Công ty Tài chính Dầu khí Việt Nam. Em Xin chân thành cảm on thầy giáo và các anh chị tại PVFC đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH 1. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm công ty tài chính Từ thế kỷ XV đã có những ngân hàng đầu tiên được thành lập. Có thể thấy rất rõ lợi ích mà hệ thống các ngân hàng mang lại. Tuy nhiên ngân hàng không phải chiếm vị trí duy nhất trong hệ thống các tổ chức tài chính trung gian mà còn có rất nhiều các loại hình tổ chức khác: Các công ty tài chính, các công ty bảo hiểm, công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán… Các hoạt động dịch vụ tài chính của các công ty tài chính mới chỉ xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX. Có nhiều lý do cho sự xuất hiện của các công ty tài chính: - Sự hạn chế của luật ngân hàng, nhiều dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng không được phép mở rộng sang các địa hạt khác. Cần có những tổ chức thích hợp đáp ứng nhu cầu đó. 4 - Hệ thống ngân hàng lúc đó không thể đáp ứng cho nhu cầu to lớn và đa dạng vốn đầu tư. Công ty tài chính làm một số nghiệp vụ như ngân hàng, nhưng không phải là ngân hàng thương mại, nên hầu hết các nước đều xếp các công ty tài chính vào loại hình các tổ c hức tín dụng phi ngân hàng. 1.1.1.1. Khái niệm về công ty tài chính Theo Điều 2 - Nghị định của chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính. Công ty tài chính được hiểu là: "LOại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính - tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật. Công ty tài chính không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm". Ở mỗi nước, tuỳ thuộc vào môi trường kinh tế, bối cảnh và điều kiện mà công ty tài chính thực hiện những chức năng khác nhau. Có thể chỉ ra đây một vài loại hình về công ty tài chính: - Loại thứ nhất: Các tổ chức tài chính chuyên môn do nhà nước thành lập hoặc nhà nước cho phép thành lập. Loại hình này thường là các tổ chức công, bán công hoặc cổ phần hoạt động trong lĩnh vực chuyên trách, tài trợ trung hạn và dài hạn, với nguồn vốn từ ngân sách hoặc quỹ kinh doanh của nhà nước cấp, hoặc từ phát hành các công cụ nợ: trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ…. - Loại thứ hai: Các công ty tài chính do các ngân hàng hoặc tập đoàn ngân hàng lập ra, để thực hiện một số nghiệp vụ chuyên biệt của ngân hàng, như chuyên về cấp bảo lãnh, đầu tư bất động sản, hoặc thuê mua thiết bị… - Loại thứ ba: Các công ty tài chính do công ty sản xuất, thương mại lập để tài trợ cho người mua hàng hóa của công ty mẹ (công ty tài chính bán hàng). 5 1.1.1.2. Đặc điểm của Công ty tài chính Thông qua việc tìm hiểu về các công ty tài chính ở một số nước: Pháp, Malaixia, Hoa Kỳ, Singapore, Thái Lan…. có thể rút ra một số đặc điểm sau: Thứ nhất: Công ty tài chính là một loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tuy hình thành sau hệ thống các ngân hàng nhưng đã phát triển khá nhanh, rất đa dạng về loại hình và đa dạng về dịch vụ tài chính. Thứ hai: Công ty tài chính là một tổ chức tài chính trung gian vì thế cũng đóng vai trò là cầu nối luân chuyển vốn giữa người tiết kiệm và nhà đầu tư (nghĩa là vai trò của một nhà cung cấp tín dụng). Sự khác nhau giữa Công ty tài chính với các tổ chức tín dụng khác là ở chỗ: Các ngân hàng thương mại (NHTM) được phép tiền gửi không hạn chế về loại tiền, thời hạn. NHTM được mở tài khoản cho khách hàng đây là cơ sở để ngân hàng tiến hành nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối các nghiệp vụ khác. Công ty tài chính lại không được phép thực hiện các nghiệp vụ trên. Luật pháp chỉ cho phép các công ty tài chính được huy động vốn trung và dài hạn, không được phép huy động vốn ngắn hạn dưới 1 năm… Đó chính là hạn chế lớn nhất ngăn cản sự lớn mạnh của các công ty tài chính. Bên cạnh đó hành lang pháp lý cũng tạo điều kiện mở cho các công ty tài chính phát triển các dịch vụ không bị hạn chế trong quy định về mở chi nhánh, quy định cách thức huy động vốn… nhằm đáp ứng các nhu cầu dịch vụ tài chính cho công chúng, mà các NHTM không đáp ứng được, hoặc cạnh tranh với các ngân hàng thương mại ở các lĩnh vực cần chuyên sâu: đầu tư, thuê mua, trả góp, bán hàng hóa… 1.1.2. Các hoạt động cơ bản của công ty tài chính Một là: công ty tài chính được huy động vốn từ các nguồn: - Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; - Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có 6 giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật hiện hành; - Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong, ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế; - Tiếp nhận vốn uỷ thác của Chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước. Hai là: Công ty tài chính được cho vay dưới các hình thức: - Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. - Cho vay theo uỷ thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy quy định hiện hành của Luật Tổ chức tín dụng và hợp đồng uỷ thác. - Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay mua trả góp. Ba là: Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác. - Công ty tài chính được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với các tổ chức và cá nhân. - Công ty tài chính được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác với các tổ chức tín dụng khác. Bốn là: Bảo lãnh, công ty tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Việc bảo lãnh của công ty tài chính phải được thực hiện theo quy định tại Điều 58, Điều 59, Điều 60 Luật các Tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Năm là: Công ty tài chính được cấp tín dụng dưới các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Sáu là: Công ty tài chính được thực hiện các hoạt động khác sau đây: - Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng 7 khác; - Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng; - Tham gia thị trường tiền tệ; - Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng; - Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp; - Được quyền nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng; - Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng; - Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác. Bảy là: Công ty tài chính được thực hiện các nghiệp vụ dưới đây sau khi được Ngân hàng Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan cho phép: - Hoạt động ngoại hối; - Hoạt động bao thanh toán; - Các hoạt động khác. 1.1.3. Vai trò hoạt động phân tích tài chính khách hàng của Công ty Tài chính. Phân tích tài chính là một nguồn tài liệu quan trọng để các doanh nghiệp đưa ra các quyết định trong từng thời kỳ hoạt động của bản thân công ty. Do đó mức độ chính xác của các thông tin từ công tác phân tích tài chính đưa ra có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả hoạt động của công ty. Phân tích tài chính không chỉ quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp mà còn cho các nhà đầu tư, các chủ nợ có cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính của doanh nghiệp họ đang quan tâm. Từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn nhất nhằm 8 đạt mục tiêu hiệu quả trong kinh doanh. Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm phương pháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ, chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp. Trong quá trình kinh doanh trên thị trường như hiện nay, các doanh nghiệp đều có quyền bình đẳng như nhau, có quyền lựa chọn ngành nghề mà mình kinh doanh và trong sự lựa chọn tự do đó bản thân mỗi doanh nghiệp sẽ phải tiếp xúc với nhiều đối tượng khác nhau: nhà đầu tư, người cho vay, nhà quản lý, người lao động, ngân hàng… Mỗi đối tượng sẽ quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp ở những giác độ khác nhau. Đối với công ty tài chính hoạt động phân tích tài chính đóng vai trò quyết định về sự tồn tại và hiệu quả trong công việc của công ty. Công ty tài chính: Với tư cách là một nhà đầu tư: Mối quan tâm mà họ hướng đến chính là sự rủi ro, mức sinh lãi, thời gian hoàn vốn… Vì ở giác độ này họ là người bỏ vốn đầu tư cho doanh nghiệp, cái mà họ mong muốn sẽ là lợi nhuận mà họ thu được là bao nhiêu? Hay tỷ suất sinh lời trên một suất đầu tư là bao nhiêu? Vì vậy nhà đầu tư sẽ chú ý đến thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Để từ đó đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn, hạn chế hay giảm thiểu những rủi ro. Với tư cách là nhà cung cấp tín dụng: Công ty sẽ quan tâm đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Phân tích tài chính là một khâu quan trọng trong quá trình thẩm định cho vay của công ty. Cách phân tích này sẽ giúp công ty nhìn nhận một cách logic tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và xu hướng vận 9 động của doanh nghiệp trong tương lai. Phân tích tài chính giúp công ty trả lời những câu hỏi: doanh nghiệp có khả năng trả nợ hay không? Khả năng tự chủ về tài chính và sử dụng nợ vay ở mức độ nào?... Và nếu doanh nghiệp gặp khó khăn thì công ty có thể tư vấn cho doanh nghiệp về quyết định tài chính, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Như thế bớt được nỗi lo đối với bản thân công ty tài chính vì có thể theo dõi được khoản tiền cho doanh nghiệp vay. Công ty tài chính có thể đánh giá rủi ro của doanh nghiệp đặc biệt là rủi ro về khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai, có thể cho doanh nghiệp vay được hay không, mức độ rủi ro mà doanh nghiệp gánh chịu khi chấp nhận cung cấp tín dụng. Không những thế trong quá trình sử dụng khoản vay doanh nghiệp vẫn phải cung cấp những báo cáo về tài chính cho công ty và như vậy công ty có thể có thể có những can thiệp kịp thời khi doanh nghiệp có những dấu hiệu xấu. Ngoài ra phân tích tài chính giúp công ty tài chính xây dựng kế hoạch cho vay trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính mỗi doanh nghiệp. Xây dựng tín dụng phù hợp sẽ giúp cho công ty tài chính nâng cao hiệu quả cho vay, thu được lợi nhuận cao. 1.2. HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH 1.2.1. Quy trình phân tích tài chính khách hàng của công ty tài chính. 1.2.1.1. Thu thập thông tin Trong phân tích tài chính các cán bộ thẩm định phải thu thập sử dụng mọi nguồn thông tin phản ánh thực trạng hoạt động tài chính của khách hàng những nguồn thông tin đó sẽ giúp cho người phân tích đưa ra những kết luận, nhận xét chính xác. Công ty tài chính có thể thu thập thông tin từ các nguồn sau: - Hồ sơ khách hàng: Thông tin về tình hình tài chính của khách hàng 10 được cung cấp thông tin qua báo cáo tài chính: bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính, kế hoạch về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp. - Phỏng vấn trực tiếp khách hàng: Các thông tin này góp phần bổ xung thêm, xác minh lại tính chính xác, trung thực của các thông tin thu được từ nguồn khác. - Từ các ngân hàng hay các tổ chức tín dụng có quan hệ tín dụng, thanh toán với khách hàng. Xem xét mức độ tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng xem tổng dư nợ của khách hàng tại các tổ chức này, có bị nợ quá hạn hay không? Và doanh nghiệp dã có cách giải quyết như thế nào đối với những khoản nợ quá hạn này. - Thông tin lưu trữ trong công ty tài chính: là những thông tin của doanh nghiệp đã có quan hệ kinh tế đối với công ty. - Thông tin từ các chủ nợ, các con nợ có mối quan hệ kinh tế đối với khách hàng đánh giá mối quan hệ về thanh toán giữa khách hàng với các chủ nợ. - Người phân tích tài chính có thể đến trực tiếp công ty cần phân tích để xem xét tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kiểm tra tính trung thực, chính xác của những thông tin được đưa ra trong các bản báo cáo tài chính… - Các nguồn thông tin khác: Trung tâm thông tin tín dụng của ngân hàng nhà nước CIC, thông tin từ các đối thủ cạnh tranh, từ các cơ quan thuế, kiểm toán, hải quan, cơ quan quản lý thị trường… Các thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan báo chí… Như vậy đối với việc thu thập thông tin sẽ có rất nhiều nguồn khác nhau để nhà phân tích có đủ dữ liệu trong hoạt động của minh. Tuy nhiên các thông tin này là nhiều chiều và có những cách hiểu khác nhau về cùng một thông tin do đó đòi hỏi nhà phân tích cần phải biết sàng lọc kỹ lưỡng các nguồn dữ liệu 11 để đưa ra kết luận chính xác về doanh nghiệp. Cán bộ thẩm định phải đưa ra kết quả một cách chĩnh xác. Thông qua các dữ liệu mà mình thu thập được nhờ vào việc: - Áp dụng chế độ kế toán, nguyên tắc hạch toán - Nguồn số liệu có được cơ quan thuế chấp thuận hay chưa? Đã được kiểm toán độc lập? Nguồn dữ liệu do công ty tự lập?... - Thông qua trung tâm thông tin tín dụng - Phải xem xét số liệu có khớp với các báo cáo tài chính hay không? 1.2.1.3. Quy trình phân tích Hoạt động phân tích tài chính diễn ra không mang tính chất thời điểm mà mang ý nghĩa lâu dài và vì thế việc phân tích phải được tiến hành trước và sau khi có quan hệ kinh tế đối với công ty. Phân tích trước khi cho vay: Dựa vào nguồn dữ liệu đã qua xử lý, công ty tài chính sẽ tiến hành phân tích tài chính khách hàng, đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và năng lực của doanh nghiệp trong tương lai đồng thời dự báo nhu cầu tài trợ vốn, khả năng trả nợ của doanh nghiệp, từ đó có những quyết định tài trợ hay không tài trợ đối với doanh nghiệp ở mức độ bao nhiêu? Và trong bao lâu? Phân tích sau khi giải ngân: Sau khi giải ngân, công ty sẽ tiếp tục theo dõi xem doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích hay không, kiểm soát các khoản tín dụng bằng cách theo dõi các báo cáo tài chính định kỳ, kiểm tra các tài sản thế chấp, phân tích lại các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, nguồn trả nợ, xem xét thực trạng về sản xuất kinh doanh để từ đó theo dõi các khoản tín dụng hay sự suy giảm chất lượng tín dụng, dự báo nhu cầu tài chính của doanh nghiệp trong các kỳ tiếp theo. Xếp hạng các khoản vay xem là tốt, bình thường, hay là có vấn đề đưa ra quyết định có nên cung cấp tiếp vốn hay không cho doanh nghiệp. Nếu có nợ quá hạn hay nợ có vấn đề cần tìm hiểu rõ nguyên nhân và có biện pháp xử lý kịp thời. 12 1.2.1.4. Chấm điểm và xếp loại doanh nghiệp Công ty tài chính cũng giống như các NHTM, cùng với hoạt động phân tích thì chấm điểm khách hàng cũng rất quan trọng. Công việc này sẽ hỗ trợ đắc lực khi công ty tài chính đưa ra quyết định kinh tế. Bởi đây là những chỉ tiêu được chuẩn hóa cho phù hợp với bản thân công ty tài chính cũng như môi trường tài chính tại Việt Nam. 1.2.2. Nội dung phân tích tài chính khách hàng Hoạt động phân tích tín dụng khi tiến hành cần chia làm hai lĩnh vực: phân tích tài chính và phân tích phi tài chính đối với khách hàng. Với phân tích tài chính là phân tích những vấn đề ít hoặc không liên quan đến vấn đề tài chính của khách hàng một cách trực tiếp: uy tín của doanh nghiệp, tính cách của doanh nghiệp. Phân tích tài chính là phân tích thực trạng tài chính và dự báo tài chính doanh nghiệp trong tương lai nhằm tiên lượng những tình huống xấu có thể xảy ra làm ảnh hưởng khoản vay. Khi phân tích tài chính khách hàng các công ty tài chính quan tâm lớn nhất đến khả năng trả nợ của khách hàng và vì thế công ty thường chú ý đến các khoản tiền, các tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền rồi đem so sánh với khoản nợ ngắn hạn để biết khả năng chi trả của doanh nghiệp và khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi của khoản vay, đồng thời chú ý đến cơ cấu tài chính an toàn trong doanh nghiệp để phòng ngừa rủi ro. Nội dung phân tích tài chính đối với doanh nghiệp bao gồm: - Cân bằng tài chính - Phân tích các hệ số tài chính + Phân tích tình hình và khả năng thanh toán ngắn hạn + Phân tích năng lực hoạt động của tài sản + Phân tích khả năng sinh lời. + Phân tích khả năng cân đối vốn 13 - Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn - Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian… Tài liệu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp gồm: báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính. Báo cáo kết quả kinh doanh: phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, dựa vào báo cáo tài chính có thể thấy rõ kết quả hoạt động của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư tài chính, các hoạt động bất thường, hoạt động thực hiện nghĩa vụ với nhà nước… Bảng cân đối kế toán: cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định, dựa vào bảng cân đối kế toán có thể thấy được quy mô, cơ cấu vốn của doanh nghiệp, mức độ tự chủ và khả năng tài chính, cũng như khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó… Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp các thông tin về luồng tiền ra luồng tiền vào, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ Công ty Tài chính có thể xác định được khi nào lượng tiền mặt thặng dư, khi nào bội chi, biết được các khoản dễ chuyển đổi thành tiền, khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. 1.2.2.1. Phân tích cân bằng tài chính Cân bằng tài chính là sự cân bằng giữa tài sản với nguồn tài trợ tương ứng của nó. Mỗi quan hệ trong trường hợp này thể hiện qua các phương thức, chính sách tài trợ tài sản cố định (TSCĐ) và tài sản lưu động (TSLĐ). Chỉ tiêu phân tích: vốn lưu động ròng (VLĐR), nhu cầu VLĐR và ngân quỹ ròng (NQR). VLĐR được xác định là phần chênh lệch giữa TSLĐ và đầu tư ngắn hạn với nợ ngắn hạn, hoặc VLĐR được tính là phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với TSCĐ và đầu tư dài hạn. 14 Còn nhu cầu VLĐR bằng (=) hàng tồn kho cộng (+) nợ phải thu của khách hàng trừ (-) nợ phải trả ngắn hạn (không kể vay ngắn hạn). NQR là phần chênh lệch giữa VLĐR và nhu cầu VLĐR. - Nếu VLĐR âm liên tục qua các năm thì doanh nghiệp sẽ mất cân bằng tài chính, tình hình và khả năng thanh toán sẽ gặp khó khăn; tuy nhiên, để có đánh giá đầy đủ hơn cần thông qua chỉ tiêu NQR. + Nếu NQR âm, có nghĩa là doanh nghiệp phải huy động các khoản vay ngắn hạn để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu VLĐR và tài trợ cho TSCĐ; cân bằng tài chính kém an toàn và bất lợi cho doanh nghiệp. + Nếu NQR dương thể hiện một cân bằng tài chính rất an toàn vì doanh nghiệp không phải vay để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu VLĐR và tài trợ cho TSCĐ; cân bằng tài chính kém an toàn và bất lợi cho doanh nghiệp. + Nếu NQR dương thể hiện một cân bằng tài chính rất an toàn vì doanh nghiệp không phải vay để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu VLĐR. 1.2.2.2. Các nhóm chỉ tiêu sử dụng khi phân tích tài chính a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán Doanh nghiệp được nhìn nhận làm ăn có hiệu quả không chỉ thể hiện thông qua mức lợi nhuận cao mà còn thể hiện ở khả năng thanh toán. Nhìn vào một doanh nghiệp làm ăn có lãi nhưng việc có lãi đó chủ yếu là mua bán chịu và đi vay nợ thì đó không thể coi là một doanh nghiệp có tình hình tài chính vững mạnh. Đối với những nhà đầu tư và những nhà tài trợ, những chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán được coi là vô cùng quan trọng, nó quyết định đến khả năng được tài trợ và được các nhà đầu tư chú ý đến. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau: Khả năng thanh toán hiện hành= Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp nó cho biết khả năng mà các tài sản lưu động có 15 thể chuyển hóa thành tiền để trang trải cho các khoản nợ ngắn hạn. Tuy nhiên nếu hệ số này cao quá cũng không tốt vì khi đó doanh nghiệp đã tập trung quá nhiều vốn vào tài sản lưu động mà không đầu tư vào hoạt động sinh lời tức là đầu tư không hiệu quả. Để đo lường khả năng thanh toán, chúng ta tính chỉ tiêu: Hệ số thanh toán nhanh = Hệ số là thước đo khả năng thanh toán của nhanh của doanh nghiệp không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (hàng tồn kho). Vì vốn bằng tiền + Các khoản phải thu = Tài sản lưu động - Hàng tồn kho và hàng tồn kho khó chuyển đổi thành tiền hơn các tài sản lưu động khác, khi bán dễ bị lỗ nhất. Tỷ số này quá cao cũng không tốt. Hệ số thanh toán tức thời = Hệ số này cho biết khả năng huy động các nguồn tiền có thể huy động nhanh và các chứng khoán có thể dễ dàng chuyển đổi được thành tiền để trả nợ, tỷ lệ này < 0,5 là tốt, thể hiện lượng tiền quá nhiều gây hiện tượng sử dụng vốn không hiệu quả. Khi phân tích khả năng thanh toán đối với doanh nghiệp, ngoài những chỉ tiêu tính được, cần chú ý đến khả năng tạo tiền, sự tăng trưởng và những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự gia tăng các khoản phải thu và hàng tồn kho. Vì đây là những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. b. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng cân đối vốn Nhóm chỉ tiêu này dùng để đo lường phần vốn góp các chủ sở hữu của doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với các doanh nghiệp, phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp. Nếu hệ số nợ càng thấp (hay tỷ suất tự tài trợ càng cao) thì sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào người cho vay càng ít, món nợ của người cho vay càng được đảm bảo và do vậy việc cho vay càng an toàn và 16 ngược lại sẽ kém an toàn. Hệ số nợ trên tổng tài sản = Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các chủ nợ. Thông thường, các chủ nợ thích tỷ số này vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng cao được bảo đảm trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi đó, chủ sở hữu doanh nghiệp lại muốn tỷ số này cao vì họ muốn nắm quyền điều hành và kiểm soát, muốn lợi nhuận gia tăng nhanh. Tỷ số này quá cao doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. = Hệ số này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo cho khả năng trả lãi hàng năm như thế nào. Đây cũng là chỉ tiêu mà doanh nghiệp quan tâm phân tích vì nó thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Hệ số này càng cao thì rủi ro mất khả năng chi trả lãi tiền vay càng thấp và ngược lại. Các chủ nợ thường chấp nhận mức lớn hơn hoặc bằng 2. c. Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động Các chỉ tiêu về khả năng hoạt động đánh giá hiệu quả việc sử dụng vốn nói chung, chú trọng đến từng bộ phận cấu thành nên nguồn vốn của doanh nghiệp. Vòng quay hàng tồn = Chỉ tiêu này đo lường khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Bình quân một đơn vị sản phẩm hàng hóa dự trữ tham gia vào quá trình kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng giá vốn. Hệ số này càng cao thể hiện việc thu tiền bán hàng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn, hoạt động kinh doanh càng tốt và ngược lại. Khi phân tích đánh giá cần so sánh với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cùng ngành nghề để so sánh. Nếu vòng quay hàng tồn kho của khách hàng thấp, cán bộ thẩm định cần tìm hiểu kỹ xem có hàng tồn kho mất phẩm chất, kém chất lượng hay mẫu mã không phù 17 hợp với thị hiếu của người tiêu dùng hay không. Vòng quay vốn lưu động = Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng. Số vòng quay càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao và ngược lại. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Hiệu suất tài sản cố định nói lên cứ một đồng tài sản đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập. Nếu so với kỳ trước hệ số này giảm chứng tỏ sức sản xuất của tổng tài sản giảm. Kỳ thu tiền bình quân = Kỳ thu tiền bình quân được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân một ngày. Nếu kỳ thu tiền bình quân cao, chứng tỏ doanh nghiệp bị ứ đọng vốn ở các khoản phải thu hoặc doanh thu bình quân một ngày nhỏ là do hàng hóa không tiêu thụ được, nếu tỷ số này thấp chứng tỏ khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp nhanh. d. Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời Phân tích khả năng sinh lời là một trong những nội dung phân tích mà các nhà quản trị tài chính, các nhà cho vay, đầu tư quan tâm vì nó gắn liền với lợi ích của họ. Hệ số sinh lợi doanh = Đây là chỉ tiêu phản ánh trong một đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này có thể thay đổi do chi phí hoặc giá bán sản phẩm thay đổi. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phụ thuộc vào tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp và doanh thu thuần, nếu doanh thu thuần lớn do giá bán tăng cao chứng tỏ khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là cao, phù hợp với thị hiếu, doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Hệ số sinh lời của tài sản = 18 Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản phản ánh 1 đồng giá trị tài sản doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh tạo ra mấy đồng lợi nhuận trước thuế. Hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu = Đây là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của vốn chủ sở hữu, phản ánh 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ vào kinh doanh mang lại bao nhiêu đồng lời nhuận sau thuế. Tỷ lệ càng lớn biểu hiện xu hướng tích cực, doanh nghiệp có thể đi tìm vốn mới trên thị trường để tài trợ cho tăng trưởng của mình. Ngược lại nếu nhỏ và dưới mức của tỷ lệ thị trường thì doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc thu hút vốn. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh lời vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũng thuận lợi bở lẽ có thể do vốn chủ sở hữu nhỏ, điều này thể hiện mức độ mạo hiểm càng lớn. 1.2.2.3. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn Người ta thường xem xét sự thay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanh nghiệp trong một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán. Một trong những công cụ mà các nhà tài chính sử dụng đó là bảng kê nguồn vốn và sử dụng vốn. Nó giúp nhà quản lý xác định rõ các nguồn cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn cung ứng đó. Để lập được bảng này trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ. Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở 2 cột: sử dụng vốn và nguồn vốn theo nguyên tắc: - Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hoặc các khoản mục bên nguồn vốn giảm thì điều đó thể hiện việc sử dụng vốn. - Nếu các khoản mục bên tài sản giảm hoặc các khoản mục bên nguồn 19 vốn tăng thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn. Bảng 1: Bảng nguồn vốn và sử dụng vốn Sử dụng vốn Chỉ tiêu Số tiền Tăng tài sản Giảm nguồn vốn Tổng vốn Nguồn vốn Chỉ tiêu Số tiền Giảm tài sản % 100 % Tăng nguồn vốn Tổng nguồn vốn 1.2.2.4. Phân tích các chỉ tiêu tài chính trung gian Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường kết hợp chặt chẽ những đánh giá về trạng thái tĩnh với những đánh giá về trạng thái động để đưa ra một bức tranh toàn cảnh về doanh nghiệp. Thông qua các báo cáo tài chính các nhà phân tích đánh giá những thay đổi về ngân quỹ của doanh nghiệp. Khi phân tích trạng thái động, trong một số trường hợp người ta còn chú trọng tới các chỉ tiêu quản lý tài chính trung gian nhằm đánh giá chi tiết hơn về tình hình tài chính và dự báo những điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp: Lãi gộp, thu nhập trước khấu hao và lãi,… 1.2.3. Phương pháp phân tích 1.2.3.1. Phương pháp so sánh Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính, khi thực hiện phép so sánh thì hai số liệu đưa ra cần đảm bảo các điều kiện: - Cùng nội dung kinh tế. - Thống nhất về phương pháp tính - Cùng đơn vị đo lường và được thu thập trong cùng một độ dài thời gian. - Các chỉ tiêu phải được quy đổi về cùng một quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau. Có thể so sánh số tuyệt đối, so sánh số tương dối, hoặc so sánh bằng số bình quân. Nội dung so sánh gồm: 20
- Xem thêm -