Luân văn “ rủi ro tín dụng và một số biện pháp hạn chế rủi ro tại ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam - chi nhánh thăng long”

  • Số trang: 43 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 134 |
  • Lượt tải: 0
bangnguyen-hoai

Đã đăng 3509 tài liệu

Mô tả:

DANH MỤC VIẾT TẮT NHNN : Ngân hàng Nhà nước PGD : Phòng giao dịch TGTT : Tiền gửi thanh toán TMCP : Thương mại cổ phần LỜI MỞ ĐẦU Hoạt động kinh doanh Ngân hàng vốn đã hàm chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn, nhất là trong nền kinh tế thị trường như hiện nay. Đất nước hội nhập nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của nhiều hiệp hội hợp tác cùng phát triển như ASEAN, APEC, AFTA, WTO, hiệp định thương mại Việt-Mỹ (BTA) cũng đã được thông qua hoàn toàn…, hệ thống ngân hàng với tư cách là trụ cột của nền tài chính nước nhà đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới. Cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài có ưu thế hơn hẳn về phương diện vốn và công nghệ đòi hỏi các ngân hàng trong nước phải có những chiến lược mang ý nghĩa sống còn. Rủi ro là không thể tránh khỏi và là điều tất yếu trong kinh doanh nhưng làm thế nào để có thể giảm thiểu rủi ro đến mức tối đa mà vẫn đảm bảo mức sinh lời cao cho các ngân hàng là một bài toán trăn trở của những nhà nghiên cứu tâm huyết với nghành ngân hàng nói chung và của các nhà quản trị nói ngân hàng nói riêng. Nói đến rủi ro, người ta không thể không nhắc đến rủi ro tín dụng – một loại rủi ro gây tổn thất nặng nề tới hoạt động kinh doang trong ngân hàng. Xuất phát từ yêu cầu bức thiết đó, em lựa chọn đề tài: “ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH THĂNG LONG” làm luận văn tốt nghiệp. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương: Chương I: Ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại. Chương II: Thực trạng tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng Vietcombank Thăng Long. Chương III: Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng Vietcombank Thăng Long. Hà Nội, tháng 3 năm 2010 Sinh viên thực hiện Trần Mạnh Hoàng CHƢƠNG I NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về ngân hàng thƣơng mại. 1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính, một bộ phận hợp thành trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường. Trong mỗi nước có một mô hình riêng về hệ thống trung gian tài chính nhưng các ngân hàng thương mại lớn nhất về phạm vi, đối tượng, cũng như khối lượng hoạt động giao dịch và dịch vụ. Tại Việt Nam theo luật ngân hàng Nhà Nước và các tổ chức tín dụng được ban hành ngày 26/12/1997, NHTM được định nghĩa như sau: “NHTM là tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư, thực hiện nghĩa vụ chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán”. 1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại. Cùng với sự nghiệp đổi mới và đi lên của đất nước thì không phủ nhận vai trò đóng góp to lớn của nghành Ngân hàng: Thứ nhất: NHTM là nguồn chủ yếu huy động cung cấp vốn khơi dậy tiềm năng và phát triển kinh tế. Thứ hai: NHTM là thủ quỹ của các tổ chức kinh tế. Thứ ba: NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường thông qua hoạt động tín dụng của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp. Thứ tư: NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thứ năm: NHTM là cầu nối của nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. 1 2. Hoạt động tín dụng của NHTM Tín dụng Ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy nhiên nó vẫn giữ được bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng dinh lời. Các nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các quy định của ngân hàng Nhà nước. Khách hàng cam kết hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Các khoản tín dụng của ngân hàng có nguồn vốn chủ yếu từ các khoản vay và phát triển. Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. II. Một số vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại. 2.1. Tín dụng. 2.1.1. Khái niệm. Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng và các định chế tài chính khác với bên đi vay là cá nhân, doanh nghiệp…Trong đó quyền cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc lẫn lãi cho bên cho vay khi đén hạn thanh toán. Bên cạnh đó quan hệ tín dụng cũng cần được hiểu là quan hệ hai chiều, và ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Nghiệp vụ kinh doanh tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp những chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh, trong đó có chi phí bù đắp rủi ro tín dụng, và các chi phí khác. 2.1.2. Đặc điểm của tín dụng. - Những hình thức trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm cho vay và cho thuê . Tài sản giao dịch trong cho vay là bằng tiền và tài sản trong cho thuê là bất động sản và động sản. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. 2 - Lòng tin: Quan hệ tín dụng được hình thành trên cơ sở niềm tin rằng người đi vay sẽ hoàn trả đúng hạn. - Về mặt pháp lý, những văn bản xác dịnh quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…đó là những văn bản pháp lý nhằm ràng buộc những trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của hai bên cho vay và đi vay. - Tính hoàn trả: Người đi vay thông thường phải thanh toán phần lãi ngoài vốn gỗc, vì vậy người đi vay phải thanh toán nhiều hơn so với lúc đầu vay. - Tính thời hạn: Là khoảng thời gian mà người đi vay phải hoàn trả đúng hạn. 2.1.3. Vai trò của tín dụng. - Thứ nhất, tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình tái sản xuất đồng thời góp phần đầu tư vào phát triển kinh tế. Nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, bên cạnh đó quan hệ mua bán chịu luôn tồn tại trên thị trường, do đó với hoạt động tín dụng đã góp phần vào quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế được diễn ra nhanh hơn, giúp cho người cần vốn có thể tìm được vốn nhanh hơn, hiệu quả hơn để có thể duy trì hoạt động sản xuẩt kinh doanh được liên tục và giúp cho người thừa vốn có thể bảo quản an toàn, đồng thời kinh doanh kiếm lời. - Thứ hai, tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất. Bản chất đặc trưng hoạt động ngân hàng là huy động vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi phân tán trong nền kinh tế, trong xã hội để thực hiện cho vay tới các đơn vị kinh tế có nhu cầu vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. - Thứ ba, tín dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và luân chuyển tiền tệ. Tín dụng đã tham gia trực tiếp vào quá trình luân chuyển hàng hoá và luân chuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế, đặc biệt những ngành kinh tế trọng điểm trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế. -Thứ tư, tín dụng góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế Với sự tài trợ tín dụng của ngân hàng, mỗi doanh nghiệp phải thực hiện một chế độ hạch toán kinh tế và các định chế tài chính khác một cách minh bạch và hiệu quả hơn. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng các 3 hợp đồng tín dụng, phải thực hiện thanh toán lãi và nợ vay đúng hạn, cũng như việc chấp hành các quy định ràng buộc trách nhiệm nghĩa vụ khác ghi trong hợp đồng như là về vấn đề tài chính… - Thứ năm, tín dụng tạo điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của đát nước yêu cầu các doanh nghiệp phải mở rộng mối quan hệ kinh tế không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn phả mơ rộng ra phạm vi khu vực và thế giới. Đối với nước ta, một nước đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, tín dụng đóng vai trò rất quan trọng nhất là trong công tác xuất nhập khẩu, trong công cuộc quảng bá thương hiệu NGƯỜI VIỆT trên thế giới. 2.2. Rủi ro tín dụng và tiêu chí xác định rủi ro tín dụng : 2.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là những sự cố liên quan đến huy động vốn và cho vay, gây tổn thất về vốn, tài sản và uy tín của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường. 2.2.2. Bản chất rủi ro tín dụng Rủi ro tớn dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất và có quy mô lớn nhất của Ngân hàng thương mại – hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy an toàn. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng. Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại bỏ hoàn toàn. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng. Hoạt động tín dụng bao gồm nhiều hình thức khác nhau : cho vay, chiết khấu thương phiếu, cho thuê tài sản (leasing), bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh... Tuy 4 nhiên trong khuôn khổ đề tài, chỉ đề cập tín dụng là hoạt động cho vay và rủi ro tín dụng là rủi ro trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại. 2.2.3. Các loại rủi ro tín dụng 2.2.3.1 Rủi ro mất vốn Là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ. Bản chất của tín dụng ngân hàng chứa đựng nội dung ứng trước tiền cho doanh nghiệp (người vay), sau một chu kỳ sản xuất hoặc kỳ luân chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ ngân hàng. Nội dung “ứng trước” của tín dụng ngân hàng càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn. Ngân hàng thương mại cho vay bằng tín chấp mức độ rủi ro cao hơn cho vay có tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền thì rủi ro ít hơn tài sản thế chấp là bất động sản (ruộng, vườn, ao hồ, nhà cửa kèm theo thổ cư). Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh. Vì hơn 2/3 tài sản có của ngân hàng là các món cho vay và đầu tư, đem lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, do đó nếu các khoản cho vay của ngân hàng không được hoàn trả, ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn lãi. Số tiền thiệt hại này khi đã vượt quá vốn tự có của ngân hàng sẽ khiến ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản. 2.2.3.2 Rủi ro sai hẹn Là các khoản cho vay mà đến hạn khách hàng vẫn chưa thu hồi được vốn để trả cho ngân hàng. Thông thường trường hợp này khách hàng sẽ xin ngân hàng gia hạn thêm thời hạn trả nợ. Nếu lý do của khách hàng không được ngân hàng chấp thuận, họ sẽ phải chịu lãi suất phạt. Khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảo lộn kế hoạt kinh doanh của ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn. 5 2.2.3.3 Rủi ro lãi suất Quá trình chuyển hoá tài sản của ngân hàng bao gồm việc huy động vốn và việc sử dụng vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường không cân xứng với kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất. Giả sử lãi suất huy động vốn là 9%/năm và lãi suất đầu tư là 10%/ năm. Sau năm thứ nhất, bằng cách vay ngắn hạn 1 năm và cho vay dài hạn hai năm, ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 10% - 9% = 1%. Tuy nhiên lợi nhuận thu của năm thứ hai chưa biết trước là bao nhiêu cho nên sẽ là một số không chắc chắn. Nếu lãi suất thị trường không thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai thì ngân hàng có thể tái tài trợ tài sản nợ với mức lãi suất không thay đôỉ là 9%; và do đó, mức lợi nhuận thu được trong năm thứ hai sẽ bằng năm thứ nhất và bằng 1%. Vì lãi suất thị trường có thể thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai, cho nên ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về sự thay đổi lãi suất. Giả sử, sang năm thứ hai ngân hàng chỉ có thể huy động vốn theo mức lãi suất thị trường hiện hành là 11%, do đó lợi nhuận của ngân hàng sang năm thứ hai sẽ là một số âm, tức là ngân hàng sẽ chịu lỗ 10% - 11% = -1%. Như vậy lợi nhuận của năm thứ nhất chỉ đủ bù đắp cho khoản lỗ của năm thứ hai. Kết quả là, trong mọi trường hợp nếu ngân hàng duy trì tài sản có kỳ hạn dài hơn so với tài sản nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ. Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn bổ sung trong những năm tiếp theo tăng lên trên mức lãi suất đầu tư tín dụng dài hạn. Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có, thì khi lãi suất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp phải rủi ro giảm giá trị tài sản. Như chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuốn. Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản có và tài sản nợ sẽ tăng lên. Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng với nhau, ví dụ tài sản có có kỳ kỳ hạn dài hơn tài sản nợ, thì khi lãi suất thị 6 trường tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản nợ. Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng. 2.2.3.4 Rủi ro tỷ giá Rủi ro hối đoái thường diễn ra dưới hình thức của một chênh lệch giữa giá đặt mua và giá chào bán của tiền tệ. Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trị của một nước. Để thấy được rủi ro hôí đoái phát sinh như thế nào, chúng ta giả sử một ngân hàng Úc cấp tín dụng bằng đồng bảng Anh cho một công ty của Anh. Khi đồng bảng Anh giảm giá so với đồng đôla Úc. Thậm chí trong trường hợp nếu đồng bảng Anh giảm giá đáng kể, thì cả gốc và lãi khi chuyển đổi sang đôla Úc có thể là nhỏ hơn số gốc đầu tư ban đầu, và do đó kết quả đầu tư sẽ là âm. Nghĩa là khi chúng ta chuyển đổi gốc và lãi từ bảng Anh sang đôla Úc, thì số tiền lãi thu được chưa đủ để bù đắp rủi ro hối đoái. 2.2.4. Các chỉ tiêu xác định rủi ro tín dụng - Rủi ro huy động vốn + Lãi xuất tăng là biện pháp mang lại hiệu quả cao hơn trong việc chống lạm phát so với các biện pháp hành chính khác như kiểm soát tín dụng hay tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, do biện pháp này gây ra ít tác động tiêu cực hơn và lại có hiệu quả lâu dài hơn đối với nền kinh tế. + Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng nhằm rút bớt tiền từ lưu thông về, chủ động kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợ tín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. + Vốn bị ứ đọng không đầu tư được là do lãi xuất của ngân hàng ngày càng cao và áp lực phải hạn chế tăng trưởng tín dụng, tăng dự trữ bắt buộc nên ngân hàng đã cắt giảm hạn mức tín dụng thậm chí không quyết định cho doanh nghiệp vay vốn. + Mất vốn: Trong điều kiện nền kinh tế lạm phát như hiện nay các ngân hàng đang gồng mình để chống chọi nhằm đảm bảo công ăn việc làm cho nhân viên. 7 Với mức lãi xuất vay biến động. Các ngân hàng đang rơi vào trong tình trạng mất vốn. - Rủi ro trong cho vay: + Nợ quá hạn tăng với tỷ lệ lớn: Khi cỏc ngân hàng cho vay xuất hiện những khoản nợ quá hạn, việc đầu tiên là các ngân hàng cho vay phải tìm cách thu hồi nợ. Việc thu hồi nợ quá hạn vừa làm mất thời gian của cán bộ cho vay, vừa làm tăng khoản chi phí về đi lại để lấy nợ. Nếu các khoản nợ này có liên quan đến nhiều bên thì ngân hàng cho vay phải chi phí về cả thời gian lẫn tiền cho công việc thương lượng, gặp gỡ các bên trong quá trình xử lý nợ. Đây là những chi phí trước mắt mà các ngân hàng cho vay phải bỏ ra. - Rủi ro trong thanh toán: Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán tưc là đáp ứng được các nhu cầu thanh toán hiện đại, đột xuất khi có vấn đề nảy sinh và đáp ứng được khả năng thanh toán trong tương lai. Khi ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, nếu không được giải quyết một cách kịp thời có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán. Khi ngân hàng thừa khả năng thanh toán sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, làm giảm khả năng sinh lời, thu nhập của ngân hàng giảm. Rủi ro thanh toán nảy sinh do những nguyên nhân sau: + Do mất cân bằng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, nguồn vốn dư thừa quá lớn, trong khi đó thị trường đầu ra hạn hẹp nên một số ngân hàng đã dùng vốn huy động ngắn hạn để cho tập trung dài hạn quá mức, dẫn đến thiếu hụt khả năng thanh toán cuối cùng. + Loại rủi ro này còn có thể phát sinh trong quá trình thanh toán của ngân hàng, có thể do ngân hàng bị lợi dụng trong thanh toán điện tử, thanh toán séc chấp nhận thanh toán các chứng từ giả mạo hoặc do nhầm lẫn, sai sót trong hoạt động nghiệp vụ…dẫn đến sự thiệt hại của ngân hàng. - Rủi ro thuần tuý Đây là loại rủi ro khách quan do thiên tại gây ra như: lụt lội, động đất, hoả hoạn hoặc do bị mất trộm, bị lừa đảo, tham nhũng…làm thiệt hại hay phá huỷ các 8 tài sản của ngân hàng. Các rủi ro này xảy ra cũng gây mất mát, thiệt hại không nhỏ cho ngân hàng. - Rủi ro mất khả năng thanh toán Đây là loại rủi ro đặc trưng của NHTM liên quan đến sự sống còn của ngân hàng, nó là hậu quả của một hoặc nhiều loại rủi ro kể trên dẫn đến việc NHTM bị thua lỗ, không có đủ khả năng trả nợ cho người gửi tiền khi đến hạn hoặc không có đủ tiền nhất thời để chi trả cho nhu cầu rút tiền ồ ạt của khách hàng tại một thời điểm. Đây là loại rủi ro nghiêm trọng nhất, nó không những làm sụp đổ chính NHTM đó mà còn là nguy cơ dẫn đến sự phá sản của hàng loạt các chưc năng, các tổ chức tín dụng khác có liên quan. * Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng (1) NQH và tỷ lệ NQH / Tổng dư nợ (2) Nợ khó đòi và tỷ lệ Nợ khó đòi / Tổng dư nợ (3) Tính đa dạng của tài sản (4) Tình hình tài chính và phương án của người vay (5) Đảm bảo tiền vay (6) Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng (7) Môi trường hoạt động của người vay Do thời gian và mức độ giới hạn của luận văn nên chỉ xét hai chỉ tiêu chính và chủ yếu: NQH và tỷ lệ NQH / Tổng dư nợ, Nợ khó đòi và tỷ lệ Nợ khó đòi / Tổng dư nợ - NQH là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thoả thuận trên hợp đồng. - Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn đã quá một kì gia hạn nợ. - NQH / Tổng dư nợ Tổng giá trị NQH Tỷ trọng NQH = X 100 Tổng dư nợ Chỉ tiêu này phản ánh 100 đồng vốn cho vay của ngân hàng thì có bao nhiêu đồng chưa thu được. Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt 9 - Nợ khó đòi / Tổng dư nợ Tỷ trọng nợ khó đòi Tổng giá trị nợ khó đòi X 100 = Tổng dư nợ Tỷ lệ này phản ánh tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng - Nợ khó đòi / NQH Tỷ trọng Nợ khó đòi X 100 NQH Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả công tác xử lí rủi ro tín dụng của ngân hàng, cho biết bao nhiêu NQH không xử lí được. Các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độ rủi ro tín dụng khác nhau. Đối với ngân hàng việc khách hàng không trả đúng hạn có liên quan đến thanh khoản: Chi phí gia tăng để tím nguồn mới để chi trả tiền gửi và cho vay đúng hợp đồng 2.2.4. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro: - Nguyên nhân khách quan Đây là những nguyên nhân gây nên rủi ro co hoạt động kinh doanh của ngân hàng cho vay không xuất phát từ cán bộ cho vay hay ý thức trả nợ của khách hàng mà do môi trường bên ngoài tác động vào. Nguyên nhân này xuất hiện đột ngột, khó đoán, khó kiểm soát, nó thường gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng và ngân hàng cho vay. Bao gồm các nguyên nhân cụ thể sau. * Do sự thay đổi chính sách của chính phủ: Nước ta đang thực hiện quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế thị trường. Do đó phải tuân thủ và chấp nhận sự biến động theo quy luật của nền kinh tế thị trường. Mỗi khi nền kinh tế biến động lên, xuống thì lập tức chính phủ phải đưa ra các chính sách kinh tế mới phù hợp với điều kiện hiện hành nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế đất nước. Các chính sách của chính phủ thường xuyên quan tâm và có sự thay đổi kịp thời là: + Chính sách tài chính: Chính sách này liên quan đến cơ chế thu chi ngân sách chính phủ. 10 + Chính sách tiền tệ: Chính phủ sử dụng các công cụ như: lãi suất chiết khấu, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở… Để điều chỉnh mức cung ứng tiền tệ khi có biến động xẩy ra. + Chính sách đầu tư phát triển: Đây là những chính sách mà khi chính phủ điều chỉnh sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp cho các ngân hàng thương mại, thường là những ảnh hưởng không tích cực cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. * Nguyên nhân từ phía môi trường pháp lý. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lành mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận lợi. Ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thỡ rất rể bị lợi dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… Kinh tế xã hội không ổn định dẫn đến kinh doanh gập nhiều khó khăn, ngân hàng cho vay gặp rủi ro. * Môi trường tự nhiên. Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xẩy ra bất ngờ với thiệt hại lớn ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì vậy khi cú thiên tai địch hoạ xẩy ra khách hàng cùng các ngân hàng cho vay sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án, dự án kinh doanh không có nguồn thu… Điều đó đồng nghĩa với các ngân hàng cho vay phải cùng chia sẽ rủi ro với khách hàng của mình. 11 * Môi trường kinh tế xã hội. Môi trường kinh tế xó hội trong một nước biến động chịu ảnh hưỏng của những biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh tế trong đó hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa nhiều nguy cơ rủi ro lớn nhất. Bên cạnh đó hoạt động cho vay phụ thuộc rất nhiều thói quen, truyền thống, tập quán của ngươi dân. Những yếu tố đó nhiêu khi gây khó khăn và hạn chế mở rộng hoạt động cho vay của các ngân hàng cho vay. - Nguyên nhân chủ quan Do chính sách của ngân hàng cho vay không phù hợp, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ hoặc đặt mục tiêu lợi nhuận quá cao. Chúng ta đều biết đặc điểm của kinh doanh tiền tệ là: Lợi nhuận cao luôn đi cùng với các ngân hàng cho vay phải biết lựa sức mình để xác định, lợi nhuận hợp lý cho ngân hàng của mình. Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ cho vay yếu kém dẫn đến cán bộ cho vay không đánh giá chính xác về khách hàng và phương án vay vốn, từ đó làm phát sinh những hợp đồng cho vay kém an toàn. Mức độ rủi ro trong trường hợp này sẽ ngày càng tăng dần trong suốt quá trình kể từ khi xét duyệt đến khi giám sát và cuối cùng là thu nợ. Cùng với sự hạn chế về trình độ là vấn đề phẩm chất đạo đức của cán bộ cho vay. 2.3. Giải pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi to tín dụng. 2.3.1. Thực hiện một cách khoa học và đồng bộ quy trình cho vay: Quy trình cho vay có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Một quy trình cho vay chặt chẽ và có hiệu quả là biện pháp hữu hiệu nhất để hạn chế rủi ro trong quá trình cấp tín dụng. Quy trình cho vay là một quy trình kể từ khi khách hàng lập đơn xin vay cho đến lúc ngân hàng thu hồi hết nợ vay. Nó gồm 5 giai đoạn: - Lập hồ sơ xin vay. - Giai đoạn phân tích tín dụng. - Giai đoạn quyết định tín dung. - Giai đoạn giám sát khách hàng sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro. 12 - Giai đoạn kiểm tra và thanh lý hợp đồng. Các giai đoạn trên của mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đòi hỏi được thực hiện một cách đầy đủ xát xao của tổng giai đoạn. Tuy nhiên trong thực tế không có ít cán bộ tín dụng lơi lỏng hời hợt trong việc thực hiện cỏc giai đoạn điều đó gây ra rủi ro. Chính vì vậy, từ khi thiết lập cho đến khi kết thúc quan hệ tín dụng, các cán bộ ngân hàng phải áp dụng đồng bộ quy trình nhưng cũng phải hết sức linh hoạt mềm dẻo. Có như vậy hiệu quả đầu tư tín dụng mới được tăng cao rủi ro tín dụng mới được hạn chế ở mức thấp nhất. Tuy nhiên ngân hàng cần đặc biệt kiểm tra phân tích một cách toàn diện chặt chẽ về khách hàng trước khi cho vay, đồng thời phải kiểm tra giám sát chặt chẽ việc sử dụng tiền vay sau khi đó phát hành tiền vay. 2.3.2. Sử dụng các đảm bảo tín dụng phù hợp đối với từng khách hàng Đảm bảo tín dụng là cơ sở giúp các NHTM có khả năng thu hồi nợ vay một khi khách hàng không còn khả năng trả nợ. Đảm bảo tín dụng có thể là lời cam kết trả nợ thay của người bảo lãnh hoặc cam kết của người vay dùng tài sản đảm bảo để thế chấp hay cầm cố các khoản vay. Tuy nhiên bản thân đảm bảo tín dụng cũng tiềm ẩn những yếu tố rủi ro. 2.3.3. Phân tán, chia sẻ rủi ro tín dụng Để tiến hành phân tán, chia sẻ rủi ro tín dụng, Ngân hàng thực hiện dưới hai hình thức: - Đa dang hoá đối tượng tín dụng: Cho vay nhiều đối tượng thuộc các loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau, không cho vay quá nhiều để sản xuất kinh doanh một sản phẩm hàng hoá. Không nên đầu tư một số tiền lớn cho một khách hàng mà phải san sẻ ra nhiều khách hàng. - Liên kết đầu tư: trong kinh doanh có những doanh nhiệp có nhu cầu vay vốn rất lớn mà một NH không thể đáp ứng được hoặc khó xác định khả năng mức độ rủi ro có thể NH liên kết đầu tư. Theo cách này thì NH cũng đã phân tán rủi ro của mình cho NH khác. 13 2.3.4. Tăng cường hiệu quả hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng. Trong thời đại thông tin bùng nổ, thông tin đóng vai trò quan trọng và quyết định đến sự thành bại của mỗi doanh nghiệp. 2.3.5. Giảm thiểu rủi ro bằng cách thực hiện tốt việc phân tích tín dụng và đo lường mức độ rủi ro của mỗi khoản vay trước khi ra các quyết định cho vay. Ngân hàng nên tránh thực hiện cho vay với những khoản tín dụng có mức độ rủi ro cao. Nói cách khác, NH có thể tăng các điều kiện tớn dụng để từ chối những khoản vay rủi ro. 2.3.6. Xây dựng chính sách tín dụng phù hợp kết hợp hài hoà giữa mục tiêu mở rộng nâng cao chất lượng tín dụng. 2.3.7. Sử dụng hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn để phòng ngừa. 2.3.8. Đào tạo ngồn nhân lực về cả trình độ chuyên môn và đạo đức. 2.3.9. Trích lập dự phòng rủi ro. Trích lập dự phòng rủi ro được coi là một trong những biện pháp quan trọng để phòng chống rủi ro. Ở hầu hết các nước trong hoạt động của ngân hàng đều thành lập quỹ dự phòng bù đắp các khoản cho vay bị rủi ro và quỹ dự phòng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. Quỹ dự phòng rủi ro được sử dụng để bù đắp các khoản rủi ro khi ngân hàng làm ăn thua lỗ do nguyên nhân khách quan mang lại. Luật các tổ chức tín dụng (điều 82. Dự phòng rủi ro) có quy định: "tổ chức tín dụng phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng; Khoản dự phòng rủi ro này phải được hoạch toán vào chi phí hoạt động; Việc phân loại tài sản có mức trích, phương pháp lập khoản dự phòng và sử dụng khoản dự phòng để sử lý các rủi ro do thống đốc ngân hàng Nhà nước quy định sau khi thống nhất với bộ trưởng tài chính". 2.4. Các dấu hiệu rủi ro - Khách hàng có thể sử dụng vốn vay đúng mục đích nhưng nhận vốn chậm trễ so với kế hoạch thoả thuận với ngân hàng. 14 - Chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp giảm sút, hàng tồn kho tăng lên quá mức, doanh số bán hàng giảm sút cùng các khoản công nợ gia tăng. Điều đó làm cho khả năng thanh toán giảm sút. - Khó khăn khi giải thích mục đích khoản vay. - Hoàn trả nợ vay ngân hàng chậm hoặc quá thời hạn. - Sự thay đổi nhà quản lý, hoặc sự thay đổi tổ chức hoạt động đều được coi như dấu hiệu xem xét. - Các thảm hoạ thiên nhiên như lũ lụt, hoả hoạn đều có thể là những nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các biến động về chính trị xã hội sẽ tạo điều kiện nảy sinh rủi ro. - Khách hàng không kể ra được chính xác và đầy đủ thông tin tài chính, đặc biệt là những thông tin về những món nợ ghi trong danh mục. - Những ước tính quá khả năng về khả năng sinh lời và nguồn ngân quỹ của khách hàng. - Khách hàng muốn mở rộng điều hành kinh doanh quá nhanh và quá tin vào lượng mua bán hàng hóa tăng sẽ giải quyết được tất cả những vấn đề của khách hàng. - Doanh nghiệp luôn có những quyết định tức thời và luôn vội vã trong hoạt động sản xuất kinh doanh. - Doanh nghiệp bị các chủ nợ khác xem là chậm trả - Sự biến mất hay xuống giá tài sản thế chấp cầm cố, bảo lãnh. - Thái độ thù nghịch đối với các chủ nợ khác. - Doanh nghiệp mua bán trước khi thu xếp nguồn tài chính. - Công việc kinh doanh của doanh nghiệp nằm ngoài khu vực tài trợ kinh doanh bình thường của ngân hàng. Doanh nghiệp giao dịch buôn bán với nhiều chủ nợ. - Những khoản chi trội thường xuyên trong tài khoản kinh doanh . 2.5. Ý nghĩa của phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng: - Đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng và cho khách hàng gửi tiền, làm ổn định nền kinh tế nói chung. 15 - Làm tăng lợi nhuận cho các đối tác. - Đảm bảo an ninh cho nền kinh tế quốc dân. 16 CHƢƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG VIETCOMBANK THĂNG LONG. 2.1. Khái quát về tình hình huy động vốn. Kết quả kinh doanh trong thời gian 3 năm từ 2007 đến 2009 như sau: Bảng 1: Tình hình huy động vốn Đơn vị: tỷ đồng, triệu USD Năm Chỉ tiêu Tổng vốn huy động 1. Phân loại theo loại tiền VND Ngoại tệ 2. Phân loại theo kỳ hạn Ngắn hạn Trung, dài hạn So sánh 2008/2007 Chênh Tỷ lệch (+/lệ ) (%) So sánh 2009/2008 Chênh Tỷ lệch (+/lệ ) (%) 200 7 200 8 2009 116 5 205 0 3250 885 175,97 1200 158,5 503 123 0 54 2080 727 244,5 850 169,1 65 13 131,7 11 120,4 41 975 1725 3040 750 176,9 1315 190 325 210 135 171,1 -115 (Nguồn: phòng Kế toán Vietcombank Thăng Long) 176,2 64,6 Trong tổng vốn huy động thì tiền gửi VND năm 2009 là 2080 tỷ đồng tăng 1200 tỷ đồng so với năm 2008, tương đương với 158,5% so với năm 2008. Tiền gửi Ngoại tệ năm 2009 là 65 triệu USD tăng 11 triệu USD so với năm 2008 tương đương 120,4% so với năm 2008. 17 Nhìn chung là hoạt động tiền gửi tăng liên tục trong những năm qua tạo nhiều thuận lợi cho chi nhánh. Từ bảng số liệu trên có thể thấy, vốn huy động năm 2009 chủ yếu thông qua cho vay ngắn hạn. Tỷ lệ vốn huy động được từ vay ngắn hạn tăng đều 2008 so với 2007 là 750 tỷ đồng tương đương với 176,9% và 2009 so với 2008 là 1315 tỷ đồng tương đương với 176,2%. Ngược lại thì vốn huy động từ cho vay trung, dài hạn năm 2009 giảm 115 tỷ đồng so với năm 2008. Sở dĩ có sự dịch chuyển cho vay từ trung, dài hạn sang cho vay ngắn hạn vì cho vay ngắn hạn có độ rủi ro thấp hơn. 2.2. Thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng Ngân hàng Vietcombank Thăng Long. 2.2.1.Tình hình cho vay Bảng 2: Kết quả cho vay Đơn vị: tỷ đồng, triệu USD Năm 896 2419 So sánh 2008/2007 So sánh 2009/2008 2009 Chênh Tỷ Chênh Tỷ lệch (+/-) lệ (%) lệch (+/-) lệ (%) 1523 269,97 1491 161,6 3910 560 21 1470 59 2776 63 910 38 262,5 280,1 1306 4 188,8 106,8 769 127 1998 421 2410 1500 1229 294 259,8 331,5 412 1079 120,6 365,3 2007 2008 Chỉ tiêu Doanh số cho vay 1-Phân theo loại tiền VND Ngoại tệ 2-Phân theo kỳ hạn Ngắn hạn Trung, dài hạn D/s cho vay tiêu dùng Mua ô tô Mua nhà Khác 3,6 21,4 31 17,8 594,4 9,6 144,9 12,3 73 115 60,7 593,5 42 157,5 4 25 45 21 625 20 180 (Nguồn: phòng Kế toán Vietcombank Thăng Long) Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy doanh số cho vay tăng mạnh từ năm 2008 là 2419 tỷ đồng so với 896 tỷ đồng năm 2007 tăng tới 269,97%. Và tiếp tục đà tăng 18
- Xem thêm -