Luận văn phân tích tình hình cho vay hộ sản xuất và rủi ro trong cho vay hộ sản xuất tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện bình minh

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH W X LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY HỘ SẢN XUẤT VÀ RỦI RO TRONG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN BÌNH MINH Giáo viên hướng dẫn: ĐOÀN THỊ CẨM VÂN Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ THUÝ PHƯỢNG Mã số SV: 4031081 Lớp: Kế toán khoá 29 Cần Thơ – 2007 -1- LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào. Ngày tháng năm 2007 Sinh viên thực hiện -2- LỜI CẢM TẠ Trong bốn năm học vừa qua, các thầy cô trong khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình chỉ bảo truyền đạt những kiến thức cơ bản để vận dụng vào trong thực tế. Vì vậy em xin chân thành cảm ơn toàn thể quý thầy cô, đặc biệt là giáo viên hướng dẫn, cô Đoàn Thị Cẩm Vân, người đã hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiều để em có thể hoàn thành chuyên đề của mình. Em cũng xin gửi lời cám ơn đến các cô, chú, anh, chị trong ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Bình Minh đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện tốt cho em thực hiện chuyên đề này. Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và ủng hộ trong quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập. Em xin chân thành cảm ơn! Ngày tháng năm 2007 Sinh viên thực hiện -3- CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1. Đặt vấn đề nghiên cứu: 1.1.1. Sự cần thiết nghiên cứu: Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy nguồn nội lực cũng như đẩy mạnh hội nhập, không ngừng phấn đấu đưa đất nước mình ngày một phát triển. Tuy nhiên mỗi quốc gia có điểm xuất phát không giống nhau. Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp, có vị trí địa lý, có điều kiện về thời tiết khí hậu, điều kiện tự nhiên như: đất đai màu mỡ do hàng năm phù sa bồi đắp, nguồn nước dồi dào phong phú thích hợp để có thể phát triển một nền nông nghiệp toàn diện. Vì vậy trong những năm gần đây nền nông nghiệp nước ta đã có những tiến triển vượt bậc, từ chỗ sản xuất không đủ ăn đến có thể đáp ứng nhu cầu trong nước và vươn lên thành một quốc gia xuất khẩu gạo trên thế giới. Tuy nhiên đời sống nông dân vẫn còn nhiều khó khăn, việc đầu tư phát triển nông nghiệp không cao lắm, thêm vào đó là tác động của các yếu tố khách quan như bão, lũ lụt, sâu hại, dịch bệnh… gây khó khăn, thất bát trong mùa màng của nông dân. Do đó cho vay hộ sản xuất sẽ là vấn đề quan trọng và cần thiết giúp cho nông dân có hướng giải quyết kịp thời, là chỗ dựa cho nông dân khi có khó khăn về vốn. Lĩnh vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn cần sự đầu tư rất lớn, lâu dài và từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó nguồn vốn ngân hàng là quan trọng.Vì đây là một kênh huy động vốn mà người nông dân dễ tiếp cận nhất và chi phí thấp nhất. Để phát triển nông nghiệp, cần chú trọng cải tiến công nghệ sản xuất về chiều sâu, phát triển chiều rộng của các hoạt động khuyến nông và chuyển giao công nghệ. Đồng thời chú trọng khôi phục và phát triển các ngành nghề ở nông thôn theo hướng sản xuất đa dạng hóa và phát triển toàn diện nông thôn. Do đó, sự cần thiết phải có sự hỗ trợ về vốn của các ngân hàng là điều tất yếu để có thể khai thác các tiềm năng kinh tế, thúc đẩy sản xuất hàng hóa nông thôn. -4- Thị trường nông thôn là mục tiêu của các ngân hàng thương mại và là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và nhà nước. Tuy nhiên việc cho vay hộ sản xuất vẫn còn nhiều tồn tại và rủi ro. Vì vậy vấn đề đặt ra là làm sao hạn chế được rủi ro và ngăn ngừa nợ quá hạn giúp cho việc kinh doanh đạt hiệu quả. Với những lý do trên mà đề tài “Phân tích tình hình cho vay hộ sản xuất và rủi ro trong cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Bình Minh” là một hướng nghiên cứu mang tính thực tiễn và cấp thiết. 1.1.2. Căn cứ khoa học và thực tiễn: Từ việc nghiên cứu tình hình cho vay hộ sản xuất với những thành công, những tồn tại và hạn chế qua 3 năm sẽ: - Tạo tiền đề và làm cơ sở để đơn vị rút ra những bài học kinh nghiệm, góp phần hoạch định chiến lược kinh doanh an toàn và phù hợp với thực tiễn. - Góp phần phục vụ kịp thời và có hiệu quả nhu cầu vay vốn của các hộ sản xuất. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu: 1.2.1. Mục tiêu chung: Các ngân hàng thương mại hoạt động vì mục đích cuối cùng là lợi nhuận đồng thời đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng và góp phần làm cho nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển. Bình Minh là một huyện có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nông nghiệp, dân số ở đây chủ yếu sống bằng nghề nông, số còn lại sống bằng nghề thủ công nghiệp, dịch vụ và một số ngành nghề khác. Vì vậy phần lớn khách hàng của ngân hàng là nông dân, chính vì thế đi sâu nghiên cứu cho vay hộ sản xuất sẽ thấy rõ được thực trạng tín dụng, những nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng trong cho vay hộ sản xuất để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm ngăn ngừa rủi ro, mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể: - Phân tích tình hình huy động vốn để xem xét công tác huy động vốn từ đó thấy được tình hình nguồn vốn cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng. -5- - Phân tích thực trạng tín dụng hộ sản xuất để thấy được tình hình hoạt động của ngân hàng, làm cơ sở để đánh giá hoạt động tín dụng hộ sản xuất của ngân hàng. - Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng hộ sản xuất từ đó có những nhận xét để có thể đề xuất những giải pháp phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực. - Đánh giá rủi ro trong hoạt động tín dụng hộ sản xuất, tìm ra nguyên nhân nên rủi ro trong hoạt động cho vay của NHNo & PTNT huyện Bình Minh. - Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng. 1.3. Phạm vi nghiên cứu: 1.3.1. Phạm vi không gian: - Đề tài được nghiên cứu chủ yếu tại NHNo & PTNT huyện Bình Minh và bao gồm địa bàn các xã như: Thuận An, Thành Lợi, Đông Thạnh, Mỹ Hòa, Đông Bình, Tân Hưng, Tân An Thạnh, Tân Bình, Tân Lược, Thành Đông, Thành Trung, Tân Thành, Tân Quới, Mỹ Thuận, Nguyễn Văn Thảnh, Đông Thạnh, Đông Bình, Đông Thành thuộc NHNo & PTNT huyện Bình Minh quản lý. 1.3.2. Phạm vi thời gian: - Nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài qua 3 năm từ năm 2004 đến năm 2006. - Thời gian nghiên cứu đề tài là hơn 3 tháng, từ 05/03/2007 đến 11/06/2007. 1.3.3. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất tại NHNo & PTNT huyện Bình Minh thông qua số liệu trong 3 năm (từ năm 2004 đến năm 2006) và trong phạm vi các xã (như đã nêu ở phần 1.3.1) mà ngân hàng này quản lý. 1.4. Lược khảo tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu: Các tài liệu trước đây đề cập và phân tích tình hình cho vay hộ sản xuất đến năm 2005, luận văn này sẽ trình bày thêm tình hình của năm 2006. -6- CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Phương pháp luận: 2.1.1. Một số vấn đề về tín dụng: 2.1.1.1 Khái niệm tín dụng: a) Tín dụng là gì? Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai. Có thể định nghĩa một cách đầy đủ như sau: tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Như vậy một quan hệ tín dụng phải thoả mãn những đặc trưng sau: - Là quan hệ chuyển nhượng giá trị mang tính chất tạm thời. - Đảm bảo tính hoàn trả về thời gian và giá trị. - Quan hệ tín dụng được xây dựng trên cơ sở tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng. b) Doanh số cho vay: Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng thu về được khi đáo hạn vào một thời gian nhất định được ngân hàng xác định bao gồm các khoản cho vay đã thu hồi hay chưa thu hồi. c) Doanh số thu nợ: Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng thu về được khi đáo hạn vào một thời điểm nhất định nào đó, bao gồm doanh số cho vay trong năm và nợ chưa đến hạn thoanh toán của năm trước chuyển sang. d) Dư nợ: -7- Là chỉ tiêu phản ánh số nợ mà ngân hàng đã cho vay và chưa thu hồi được vào một thời điểm nhất định, là những khoản vay qua các năm nhưng khách hàng chưa thanh toán vào thời điểm 31 tháng 12, bao gồm nợ trong hạn, nợ quá hạn và nợ khó đòi. Để xác định được dư nợ, ngân hàng sẽ so sánh giữa hai chỉ tiêu doanh số cho vay và doanh số thu nợ. e) Dư nợ bình quân: Dư nợ bình quân được tính bằng cách lấy trung bình cộng của dư nợ đầu kỳ và dư nợ cuối kỳ. f) Nợ quá hạn: Là những khoản nợ tín dụng bao gồm cả lãi và gốc, hay lãi đến hạn ghi trên hợp đồng tín dụng hoặc đến hạn sau khi được gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn nợ nhưng người vay vì một nguyên nhân nào đó chưa trả được nợ cho bên vay theo như cam kết. Căn cứ vào thời gian của các khoản nợ quá hạn mà nợ quá hạn được phân thành những loại sau: - Những khoản nợ quá hạn dưới 180 ngày là nợ dưới tiêu chuẩn. Đây là khoản nợ có khả năng thu hồi cao nhất, cần phải nhanh chóng thu hồi nếu không sẽ khó mà đòi được - Những khoản nợ từ 180 ngày đến 360 ngày còn gọi là nợ khó đòi, lúc này ngân hàng phải dùng biện pháp pháp lý để thu hồi nợ hoặc có kiến nghị thanh nợ nếu là nợ quá hạn xuất phát từ những nguyên nhân khách quan. - Những khoản nợ trên 360 ngày được ngân hàng cho là những khoản nợ có khả năng mất vốn. Đây là những khoản nợ mà ngân hàng xem là gây thiệt hại trực tiếp và ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. 2.1.1.2 Phân loại tín dụng: a) Căn cứ vào thời hạn cho vay: Theo căn cứ này thì tín dụng được chia làm các loại sau: - Tín dụng ngắn hạn: -8- Tín dụng ngắn hạn là những khoản cho vay có thời hạn tối đa là 12 tháng. Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại có thể cho khách hàng vay ngắn hạn nhằm để bổ sung vốn lưu động tạm thời thiếu hụt của khách hàng, hoặc cho vay để tiêu dùng. Đây là loại tín dụng có rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng như sự bất ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô. Vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại tín dụng khác. - Tín dụng trung hạn: Tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: máy cày, máy bơm nước, xây dựng chuồng trại chăn nuôi... - Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. b) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: Dựa vào căn cứ này tín dụng được chia ra làm các loại sau: - Tín dụng nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu,… - Tín dụng bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. - Tín dụng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ: Là loại cho vay để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. - Tín dụng cho vay cá nhân: -9- Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như cho vay để kéo điện, mua sắm các vật dụng có giá trị cao… 2.1.1.3 Lãi suất tín dụng: - Khi sử dụng bất kỳ khoản tín dụng nào, người vay cũng phải trả thêm một lượng giá trị bên cạnh số vốn ban đầu. Tỷ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với số vốn ban đầu gọi là lãi suất. - Lãi suất cho vay thực hiện theo quy định của NHN0 & PTNT cấp trên trong từng thời kỳ. - Cho vay theo hạn mức tín dụng thì lãi suất áp dụng tại thời điểm nhận nợ, cho vay lưu vụ lãi suất áp dụng tại thời điểm lưu vụ. - Trường hợp gia hạn nợ, giảm nợ thì lãi suất cho vay áp dụng theo thoả thuận ghi trên hợp đồng. - Lãi suất nợ quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất cho vay. Bảng 1. TỔNG KÉT MỨC LÃI SUẤT CỐ ĐỊNH QUA 3 NĂM ĐVT: % Chỉ tiêu Ngắn hạn Trung – dài hạn Nợ quá hạn Năm 2004 1 1,15 1,25 Năm 2005 1,1 1,2 1,25 Năm 2006 1,11 1,27 1,3 Nguồn: Phòng kế toán 2.1.2. Một số vấn đề về hộ sản xuất và tín dụng hộ sản xuất 2.1.2.1 Hộ sản xuất là gì? Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh và là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh. [2, tr.5] 2.1.2.2. Tín dụng hộ sản xuất: a) Khái niệm: Tín dụng hộ sản xuất là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho hộ sản xuất. [2, tr.7] b) Đặc điểm cơ bản hộ sản xuất ở nước ta: -10- Hộ sản xuất chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, ngoài ra còn nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp tại nông thôn. Theo em, nước ta hộ sản xuất có đặc điểm như sau: - Hộ sản xuất vừa là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng. - Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ sản xuất còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau. Khả năng của hộ chỉ có thể thoả mãn nhu cầu tái sản xuất giản đơn nhờ sự kiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng và lao động. - Trong sản xuất gặp nhiều rủi ro nhất là rủi ro do thiên tai gây ra thì hộ chưa có khả năng khắc phục và phòng ngừa. - Hộ nghèo và hộ trung bình còn chiếm tỷ trọng cao, khó khăn của hộ nông dân là thiếu vốn. 2.1.3. Một số vấn đề về việc cho vay hộ sản xuất: 2.1.3.1 Điều kiện cho vay và đối tượng cho vay: a) Điều kiện vay vốn: Theo quyết định số 72 QĐ-HĐQT-TD ban hành ngày 21/03/2002 của NHNo & PTNT Việt Nam thì điều kiện vay vốn gồm: - Có năng lực pháp luật dân sự, hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Đối với hộ sản xuất thì: + Thường trú tại địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố (trực thuộc tỉnh) nơi ngân hàng cho vay đóng trụ sở. Trường hợp người vay ngoài địa bàn nói trên giao cho giám đốc Sở giao dịch, Chi nhánh cấp 1 quyết định. Nếu người vay ở địa bàn liền kề (thôn, làng, bản) ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khi cho vay giám đốc ngân hàng cho vay phải thông báo cho giám đốc Chi nhánh NHNo & PTNT nơi người cư trú biết. + Đại diện cho hộ gia đình để giao dịch với ngân hàng nông nghiệp là chủ hộ hoặc người đại diện của chủ hộ, người đại diện phải có đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự. -11- - Hộ vay vốn phải có phương án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, phù hợp với chương trình mục tiêu phát triển kinh tế, quy hoạch sản xuất của vùng, địa phương. - Sử dụng vốn đúng mục đích và hợp pháp, đảm bảo khả năng thu hồi vốn. - Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết: + Có vốn tự có tham gia vào các phương án, dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống. Đối với cho vay ngắn hạn, khách hàng phải có vốn tự có tối thiểu là 10% trong tổng nhu cầu vốn. Và khách hàng phải có vốn tự có tối thiểu 15% trong tổng nhu cầu vốn đối với cho vay trung và dài hạn. Trường hợp khách hàng có tín nhiệm, khách hàng là hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp cho vay vốn không phải đảm bảo bằng tài sản, nếu vốn tự có thấp hơn quy định trên giao cho giám đốc ngân hàng cho quyết định. + Kinh doanh có hiệu quả, không có nợ quá hạn trên 6 tháng với NHNo & PTNT Việt Nam. Trường hợp bị lỗ thì phải có phương án khả thi khắc phục lỗ đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Đối với khách hàng vay vốn phục vụ đời sống phải có nguồn thu nhập ổn định để trả nợ ngân hàng. + Khách hàng phải mua bảo hiểm đầy đủ trong suốt thời gian vay vốn của ngân hàng. - Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ, ngân hàng Nhà nước Vịêt Nam và hướng dẫn của NHNo & PTNT Việt Nam. Nếu là hộ gia đình vay không phải áp dụng biện pháp đảm bảo cần có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nếu chưa được cấp phải có xác nhận của UBND xã, phường về diện tích đất đang được sử dụng không có thế chấp. b) Đối tượng cho vay: - Cho vay ngắn hạn gồm những đối tượng chủ yếu sau: + Vật tư chi phí trồng trọt, chăn nuôi như: Hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, con giống, thức ăn gia súc, thuốc thú y… -12- + Vật tư chi phí các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp như: nguyên vật liệu, nhiên liệu, công cụ lao động, tiền thuê công nhân, phí sửa chữa máy móc… - Cho vay trung hạn bao gồm: + Chi phí trồng mới cây lưu gốc như: chuối, dừa… + Chi phí mở rộng diện tích canh tác, cải tạo mặt bằng, cải tạo đất để gieo trồng cây hàng năm. + Chi phí chăn nuôi như mua giống chăn nuôi đại gia súc lấy thịt, thức ăn chăn nuôi gia cầm. + Chi phí đổi mới cải tiến công nghệ sản xuất, mua sắm phương tiện trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt thuỷ hải sản, chi phí xây dựng lò sấy, sân phơi… - Cho vay dài hạn: + Chi phí sửa chữa máy móc, thiết bị sản xuất, chế biến, bảo quản nông, lâm, ngư, nghiệp. + Chi phí xây dựng mới nhà xưởng, mua sắm máy móc, thiết bị sản xuất, xây dựng mới ruộng, vườn, ao hồ nuôi trồng thuỷ sản. 2.1.3.2 Nguyên tắc vay vốn: Khách hàng vay vốn phải đảm bảo các nguyên tắc vay vốn sau: - Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. - Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. - Phải có tài sản thế chấp để đảm bảo món vay theo quy định của chính phủ, thống đốc NHNN và hướng dẫn về đảm bảo tiền vay của khách hàng đối với ngân hàng. 2.1.3.3. Mức cho vay: Căn cứ xác định mức cho vay: - Nhu cầu vay vốn của khách hàng. -13- - Khả năng hoàn trả nợ của khách hàng vay. - Mức vốn tự có của khách hàng tham gia vào dự án, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống. - Tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định về bảo đảm tiền vay của NHNo & PTNT Việt Nam. Mức cho vay tối đa là 75% tổng giá trị tài sản đảm bảo. - Mức cho vay không có đảm bảo đối với hộ sản xuất, hợp tác xã và chủ trang trại phải đảm bảo tuân thủ theo hướng dẫn của chính phủ và NHNN Việt Nam tại từng thời kỳ. - Khả năng nguồn vốn của NHNo & PTNT Việt Nam nhưng không quá mức uỷ quyền phán quyết cho vay của Tổng giám đốc ngân hàng cho vay. 2.1.3.4. Hồ sơ vay vốn: - Đối với hộ vay không phải thế chấp, cầm cố, bảo lãnh có giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất kinh doanh. - Đối với hộ vay phải thực hiện thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, hồ sơ gồm có: Giấy đề nghị vay vốn, dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh, hồ sơ đảm bảo tiền vay theo quy định. 2.1.3.5. Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng là hợp đồng kinh tế mang tính chất dân sự, được ký kết giữa ngân hàng với một pháp nhân hay thể nhân vay vốn để đầu tư hay sử dụng vốn cho một mục đích hợp pháp nào đó. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về: Điều kiện vay vốn, mục đích sử dụng vốn vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, phương thức vay, kỳ hạn trả nợ, hình thức đảm bảo tiền vay, giá trị tài sản làm đảm bảo và những cam kết khác được các bên thỏa thuận. -14- 2.1.3.6. Quy trình xét duyệt cho vay: (6) Khách hàng (2) Phòng KT- KQ (5) (1) (3) (4) Phòng tín dụng Giám đốc Sơ đồ 1. Quy trình cho vay tại NHNo & PTNT Bình Minh (1) Khách hàng trực tiếp đến gặp cán bộ tín dụng phụ trách địa bàn để xin vay vốn. Cán bộ tín dụng phụ trách địa bàn nhận hồ sơ của khách hàng, kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của các loại hồ sơ. Nếu hợp lệ thì hẹn ngày giải quyết, ngược lại không đủ điều kiện thì từ chối cho vay. (2) Cán bộ tín dụng xuống địa bàn nơi khách hàng sản xuất kinh doanh để thẩm định và quyết định cho vay hay không. Tuỳ theo phương án sản xuất kinh doanh, cán bộ tín dụng sẽ quyết định số lượng tiền vay, thời gian và phương thức giải ngân, kỳ trả nợ, và hoàn tất hồ sơ cho khách hàng. (3) Nếu hợp lý thì cán bộ tín dụng xem xét cho vay và hồ sơ sẽ được trưởng phòng tín dụng xét duyệt sau đó trình lên Giám đốc. (4) Ban Giám đốc kiểm tra duyệt cho vay hay không dựa trên cơ sở hồ sơ vay vốn và khả năng nguồn vốn của ngân hàng, sau đó trả hồ sơ được duyệt cho phòng tín dụng. (5) Cán bộ tín dụng chuyển hồ sơ cho vay sang phòng Kế toán. (6) Phòng kế toán khi nhận hồ sơ vay vốn có trách nhiệm lưu giữ hồ sơ vay vốn, mở sổ cho vay, làm thủ tục phát vay cho khách hàng, sau đó chuyển hồ sơ cho vay sang Thủ quỹ. Kho quỹ nhận lệnh chi tiền sẽ làm thủ tục giải ngân cho khách hàng. 2.1.5. Giới thiệu các chỉ tiêu phân tích: 2.1.5.1. Vốn huy động trên tổng nguồn vốn: Vốn huy động Vốn huy động trên tổng nguồn vốn = Tổng nguồn vốn -15- Chỉ số này giúp ta biết được cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng. Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thì nguồn vốn mà ngân hàng huy động được chiếm tỷ lệ bao nhiêu. Từ đó quan sát, phân tích, đánh giá cơ cấu đầu tư như vậy đã hợp lý hay chưa, và có giải pháp điểu chỉnh kịp thời. 2.1.5.2. Tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn: Tổng dư nợ Tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn = Tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này cho biết dư nợ trong cho vay chiếm bao nhiêu % trong tổng nguồn vốn sử dụng của ngân hàng. Nó cho phép đánh giá khả năng cho vay cũng như mức độ tập trung vốn tín dụng của ngân hàng. 2.1.5.3. Tổng dư nợ trên tổng vốn huy động: Tổng dư nợ Dư nợ trên tổng vốn huy động = Tổng vốn huy động Chỉ số này xác định hiệu quả đầu tư của một đồng vốn huy động. Nó giúp cho nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với nguồn vốn huy động. 2.1.5.4. Doanh số thu nợ trên doanh số cho vay: Doanh số thu nợ Hệ số thu nợ = Doanh số cho vay Chỉ tiêu này biểu hiện khả năng thu hồi nợ từ việc cho khách hàng vay hay thiện chí trả nợ của khách hàng trong thời kỳ nhất định. Giúp đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu hồi nợ của ngân hàng. Nó phản ánh một thời kỳ nào đó với doanh số cho vay nhất định, ngân hàng sẽ thu được bao nhiêu đồng vốn. Tỷ số này càng cao thì được đánh giá càng tốt. -16- 2.1.5.5. Doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân: Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ Dư nợ bình quân Chỉ tiêu này còn được gọi là chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng. Nó đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, thời gian thu hồi nợ vay nhanh hay chậm. Trong đó dư nợ bình quân được tính theo công thức: Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ Dư nợ bình quân = 2 2.1.5.6. Nợ quá hạn trên tổng dư nợ: Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = Tổng dư nợ Chỉ số này đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng. Những ngân hàng có chỉ số này thấp cũng có nghĩa là chất lượng tín dụng của ngân hàng này cao. 2.2. Phương pháp nghiên cứu: 2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu: - Thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính của ngân hàng. - Nghiên cứu từ các sách báo, tạp chí và quy chế chung của ngân hàng. 2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu: - Dùng phương pháp so sánh để so sánh số liệu qua các năm bằng cách lấy số liệu năm sau trừ cho số liệu của năm trước đó. Từ đó phân tích tình hình huy động vốn và thực trạng tín dụng hộ sản xuất. - Phương pháp tỷ số tương đối, tuyệt đối để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng và rủi ro trong hoạt động cho vay hộ sản xuất. -17- Số tuyệt đối: Tỷ số tương đối: B-A = B-A A X x 100% = Y% Trong đó: A: là số liệu năm trước. B: là số liệu năm sau. X : là số chênh lệch tuyệt đối năm sau so với năm trước đó. Y: là tỷ số tăng giảm tương đối của năm sau so với năm trước đó. -18- CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU HUYỆN BÌNH MINH VÀ NHNO & PTNT HUYỆN BÌNH MINH 3.1. Giới thiệu huyện Bình Minh: Bình minh là một trong 6 huyện của tỉnh Vĩnh Long. Phía Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Đông giáp huyện Tam Bình của Vĩnh Long và phía Nam giáp Thành Phố Cần Thơ. Diện tích tự nhiên của huyện là 243,1km2, chiếm 6,4% diện tích của tỉnh Vĩnh Long với 16 xã và 1 thị trấn. Bình Minh nằm tiếp giáp với sông Hậu nên hàng năm lượng phù sa bồi đắp lớn làm cho đất đai thêm màu mỡ thích hợp trồng nhiều cây ăn quả. Một số nơi trồng bưởi như Mỹ Hòa, nhãn, sầu riêng ở Tân Lược, xoài cát Hòa Lộc ở Đông Thạnh, chôm chôm ở một số xã khác. Một số vùng chuyên canh như: Trồng xà lách xoong ở Thuận An, bắp cải và cà chua ở Đông Bình, khoai lang ở Tân Quới…Tuy nhiên, Bình Minh lại là huyện thuần nông phần lớn đất đai phục vụ cho việc trồng lúa, diện tích đất trong huyện sử dụng cho việc trồng lúa chiếm hơn 60%, với năng suất, chất lượng ngày càng tăng cao. Ngoài ra nông dân trong huyện cũng đang phát triển ngành chăn nuôi như: chăn nuôi heo, cá, chăn nuôi trâu, bò, dê… Dân số toàn huyện là khoảng trên 192.817 người, mật độ trung bình khoảng 793 người/km2. Với lực lượng lao động dồi dào sẽ thúc đẩy phát triển hàng hóa ở nông thôn. Sắp tới cầu Cần Thơ bắc qua Vĩnh Long sẽ được hình thành nối liền khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và những vùng khác trong cả nước, thị trường Đồng bằng sông Cửu Long đặc biệt là thị trường nông sản sẽ ngày càng sôi động hơn. Đó là những điều kiện thuận lợi để nền kinh tế nông nghiệp của cả Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và của Bình Minh nói riêng ngày một phát triển, hàng hoá nông sản của vùng không chỉ được tiêu thụ và biết đến trong nước mà sẽ được quốc tế tiếp nhận và đón chào. Tuy nhiên để có được thành tựu như vậy thì đòi hỏi sự đóng góp không nhỏ của ngân hàng để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, để có thể đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. -19- 3.2. Khái quát về NHNo & PTNT huyện Bình Minh: 3.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển: Ngay từ khi bắt đầu đổi mới Đảng và nhà nước ta đã xác định phát triển nông nghiệp để làm bàn đạp đẩy các ngành công nghiệp khác tiến lên và bước đầu xác định trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp được ưu tiên hàng đầu. Chính vì thế NHNo & PTNT Việt Nam ra đời và phát triển trải dài từ Bắc vào Nam. Chi nhánh NHNo & PTNT Bình Minh là một trong những chi nhánh của NHNo & PTNT tỉnh Vĩnh Long. Được tiếp quản năm 1975, cho đến nay ngân hàng đã đổi tên rất nhiều lần: năm 1975 tên là Ngân Hàng Nhà nước, năm 1998 đổi thành Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp, Ngân Hàng Nông Nghiệp vào năm 1990. Đến ngày 10 tháng 10 năm 1997 được chính thức đổi tên thành chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Bình Minh, trụ sở chính đặt tại 165/15 Ngô Quyền, Khóm 1, thị trấn Cái Vồn, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Ngày nay, NHNo & PTNT huyện Bình Minh có 5 chi nhánh trực thuộc đặt tại các xã Mỹ Thuận, Tân Quới, Tân Lược, Đông Bình và một Phòng Giao dịch đặt tại Thị Trấn. Từ khi thành lập cho đến nay, NHNo & PTNT huyện Bình Minh đã trải qua những thăng trầm trong quá trình hoạt động. Đồng thời cũng gặt hái được nhiều thành quả cho chính ngân hàng cũng như góp phần phát triển đời sống kinh tế của nông dân trong vùng. Ngân hàng đã tập trung khai thác mọi nguồn lực vốn từ trong nhân dân, các tổ chức tín dụng ủy thác và nguồn vốn từ ngân hàng tỉnh để tăng cường vốn giúp bà con nông dân có vốn sản xuất, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế trên địa bàn, từng bước nâng cao đời sống nhân dân địa phương. Ngân hàng ngày càng mở rộng đối tượng cho vay, định mức cho vay ngày càng cao, dư nợ năm sau cao hơn năm trước. Ngân hàng đã đầu tư cho bà con một cách thích đáng hơn phù hợp với chi phí sản xuất thực tế nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của bà con nông dân trong huyện. Tuy nhiên do địa bàn hoạt động rộng lớn với 16 xã và một thị trấn, nhu cầu vay vốn của người dân ngày càng tăng trong khi khả năng của ngân hàng có hạn -20-
- Xem thêm -