Luận án Tiến sĩ Kinh tế Quản lý kinh tế biển - Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng vào Việt Nam

  • Số trang: 199 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong

Đã đăng 58976 tài liệu

Mô tả:

1 Mục lục MỤC LỤC Trang Trang bìa .................................................................................................................. i Lời cam đoan............................................................ Error! Bookmark not defined. Mục lục ...................................................................................................................... 1 Danh mục các chữ viết tắt .......................................................................................... 4 Danh mục các hình .............................................................................................. cxcvi Danh mục các bảng ............................................................................................ cxcvii MỞ ĐẦU.................................................................................................................... 4 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN 1.1. Các khái niệm cơ bản về quản lý kinh tế biển ................................................................................. 17 1.1.1. Khái niệm kinh tế biển ............................................................................... 17 1.1.2. Quản lý kinh tế biển ................................................................................... 20 1.2. Vai trò của quản lý kinh tế biển ........................................................................ 23 1.3. Một số quan điểm và cách tiếp cận về quản lý kinh tế biển ............................. 27 1.3.1. Quản lý tổng hợp kinh tế biển ................................................................... 27 1.3.2. Lý thuyết phát triển không cân đối (unbalanced growth) hay các “cực tăng trưởng” (A. Hirschman và F. Perrons)................................................................. 29 1.3.3. Quản lý để phát triển kinh tế theo “Vòng quay quốc tế có lợi” trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng duyên hải (Wang Jian) ............................... 30 1.3.4. Chính sách quản lý thúc đẩy phát triển các trung tâm kinh tế biển trong cạnh tranh quốc tế ......................................................................................................... 31 1.3.5. Biến đổi khí hậu, môi trường và phát triển bền vững ................................ 32 1.3.6.. Chủ nghĩa cực đoan .................................................................................. 33 1.3.7. Chủ nghĩa lý tưởng .................................................................................... 35 1.3.8. Chủ nghĩa hiện thực ................................................................................... 36 1.4. Những vấn đề pháp lý liên quan tới quản lý kinh tế biển ................................. 37 1.4.1. Công pháp quốc tế về biển ......................................................................... 37 1.4.2. Luật pháp quốc gia về biển ........................................................................ 47 Chương 2 QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN CỦA THẾ GIỚI: TRƯỜNG HỢP TRUNG QUỐC, MALAYSIA VÀ SINGAPORE ................................................................ 49 2 2.1. Quản lý kinh tế biển của Trung Quốc ............................................................... 49 2.1.1. Quan điểm, Chiến lược kinh tế biển của Trung Quốc ............................... 49 2.1.2. Thực trạng quản lý kinh tế biển của Trung Quốc ...................................... 52 2.1.2.1. Quản lý kinh tế hàng hải của Trung Quốc ......................................... 52 2.1.2.2. Quản lý Các khu kinh tế ven biển của Trung Quốc ............................ 58 2.1.3. Đánh giá thực trạng quản lý kinh tế biển của Trung Quốc ........................ 61 2.1.3.1. Những thành công trong quản lý kinh tế biển của Trung Quốc ......... 61 2.1.3.2. Các vấn đề tồn tại trong quản lý kinh tế biển của Trung Quốc ......... 64 2.1.4. Một số bài học về quản lý kinh tế biển của Trung Quốc ........................... 67 2.2. Quản lý kinh tế biển của Malaysia.................................................................... 68 2.2.1. Quan điểm, chiến lược quản lý kinh tế biển của Malaysia ........................ 68 2.2.2. Thực trạng quản lý kinh tế biển của Malaysia ........................................... 69 2.2.2.1. Quản lý hệ thống cảng biển của Malaysia ......................................... 69 2.2.2.2. Quản lý vận tải bằng tàu biển của Malaysia ...................................... 72 2.2.2.3. Phát triển nguồn nhân lực, an toàn và an ninh hàng hải, hợp tác quốc tế về hàng hải của Malaysia ............................................................................ 77 2.2.3. Đánh giá thực trạng quản lý kinh tế biển của Malaysia ............................ 79 2.2.3.1. Những thành công trong quản lý kinh tế biển của Malaysia ............. 79 2.2.3.2. Các vấn đề tồn tại trong quản lý kinh tế biển của Malaysia .............. 81 2.2.4. Một số kinh nghiệm trong quản lý kinh tế biển của Malaysia .................. 83 2.3. Quản lý kinh tế biển của Singapore .................................................................. 84 2.3.1. Quan điểm, chiến lược quản lý kinh tế biển của Singapore ...................... 84 2.3.2. Thực trạng quản lý kinh tế biển của Singapore ......................................... 85 2.3.2.1. Quản lý kinh tế hàng hải của Singapore: ........................................... 85 2.3.2.2. Quản lý khai thác dầu mỏ và khoáng sản của Singapore .................. 90 2.3.2.3. Du lịch biển của Singapore ................................................................ 92 2.3.3. Đánh giá thực trạng quản lý kinh tế biển của Singapore ........................... 94 2.3.3.1. Những thành công trong quản lý kinh tế biển của Singapore ............ 94 2.3.3.2. Các vấn đề còn hạn chế trong quản lý kinh tế biển của Singapore ... 96 2.3.4. Một số bài học về quản lý kinh tế biển của Singapore .............................. 96 2.4. Một số vấn đề có tính chất quy luật trong quản lý kinh tế biển thế giới .......... 98 Chương 3 VẬN DỤNG KINH NGHIỆM QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN CỦA THẾ GIỚI VÀO VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 3.1. Tầm quan trọng của quản lý kinh tế biển ở Việt Nam ..................................................................... 100 3 3.2. Thực trạng quản lý kinh tế biển Việt Nam ..................................................... 102 3.2.1. Quan điểm chiến lược về phát triển kinh tế biển Việt Nam .................... 102 3.2.2. Hệ thống luật biển Việt Nam ................................................................... 103 3.2.3. Quy hoạch phát triển kinh tế biển Việt Nam ........................................... 105 3.2.4. Quản lý các lĩnh vực kinh tế biển Việt Nam ........................................... 107 3.2.4.1. Quản lý hệ thống cảng biển Việt Nam .............................................. 107 3.2.4.2. Quản lý ngành tàu biển Việt Nam .................................................... 110 3.2.4.3. Quản lý khai thác khoáng sản biển Việt Nam .................................. 115 3.2.4.4. Quản lý khai thác hải sản biển Việt Nam ......................................... 122 3.2.4.5. Quản lý du lịch biển Việt Nam.......................................................... 126 3.2.4.6. Quản lý các khu kinh tế ven biển Việt Nam ...................................... 131 3.2.4.7. Tranh chấp biển đảo Việt Nam ......................................................... 136 3.3. Một số kinh nghiệm thế giới rút ra cho quản lý kinh tế biển Việt Nam và gợi ý chính sách ............................................................................................................... 141 3.3.1. Các chính sách phát triển kinh tế biển Việt Nam phải hướng tới phát huy lợi thế địa kinh tế trong phát triển kinh tế biển Việt Nam, cần đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển ............................................................................. 141 3.3.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan tới kinh tế biển ........................ 142 3.3.3. Hoàn thiện các tổ chức cơ quan quản lý kinh tế biển .............................. 143 3.3.4. Chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế biển .... 144 3.3.5. Phát triển kinh tế biển có trọng điểm ....................................................... 144 3.3.6. Kinh nghiệm quản lý kinh tế hàng hải ..................................................... 146 3.3.7. Kinh nghiệm quản lý khai thác dầu khí và khoáng sản ........................... 149 3.3.8. Kinh nghiệm về khai thác hải sản ............................................................ 150 3.3.9. Kinh nghiệm quản lý du lịch biển............................................................ 151 KẾT LUẬN ............................................................................................................ 154 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ............................................ 156 TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 157 PHỤ LỤC ............................................................................................................... 174 4 Danh mục các chữ viết tắt MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng lớn về kinh tế biển với bờ biển dài trên 3.260 km, có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 (gấp hơn 3 lần diện tích đất liền), có vị trí địa kinh tế và địa chính trị đặc biệt. Biển chứa đựng nhiều tài nguyên to lớn để phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đáng chú ý là những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên khoáng sản và nguồn lực con người. Biển đã đem lại cho Việt Nam nhiều nguồn lợi lớn từ khai thác khoáng sản (nhất là dầu khí, than ven biển, làm muối), phát triển kinh tế hàng hải, khai thác hải sản, du lịch biển và phát triển các khu kinh tế ven biển. Việc khai thác nguồn lợi biển đã có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Các ngành kinh tế biển luôn chiếm tỷ trọng lớn trong phát triển kinh tế của Việt Nam. Năm 2011, ước tính tỉ trọng các ngành kinh tế biển và liên quan đến biển chiếm khoảng 48% GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), du lịch biển,... Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, cho đến nay phát triển kinh tế biển của Việt Nam được đánh giá là chưa hiệu quả. Theo đánh giá của các chuyên gia nghiên cứu, Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ khai thác lợi thế tĩnh theo hình thức khai thác tài nguyên thô, trình độ công nghệ thấp, chưa tạo được giá trị gia tăng lớn cho những ngành kinh tế từ biển. Khai thác hàng hải, cảng biển và du lịch nhìn chung vẫn ở trình độ thấp, sức cạnh tranh còn kém. Để trở thành một quốc gia biển thì cần hội đủ ba thế mạnh là: (1) Mạnh về kinh tế biển; (2) Mạnh về khoa học biển; (3) Mạnh về thực lực quản lý tổng hợp biển. Nhận thức rõ được điều này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X thông qua Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Điều này cho thấy quyết tâm của Việt Nam đi theo xu hướng trên. Theo nghị quyết này thì Việt Nam phấn đấu phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển. Để trở thành quốc gia mạnh về biển, một trong những nhân tố quan 5 trọng hàng đầu là phải mạnh về quản lý biển, tức là có chính sách quản lý biển hữu hiệu và có hệ thống cơ quan tổ chức khoa học. Thế kỷ XXI được thế giới xem như là “Thế kỷ kinh tế biển và đại dương”. Hướng ra biển - đại dương đang là khẩu hiệu chiến lược của nhiều quốc gia. Việt Nam là một quốc gia biển, có điều kiện thuận lợi trong cuộc tranh đua đó để phát triển đất nước, nên không thể bỏ qua xu thế này. Trong quá trình tìm kiếm các con đường đưa nước ta trở thành một quốc gia “mạnh về biển”, điều hết sức quan trọng là Việt Nam cần phải xây dựng chính sách quản lý kinh tế biển hiệu quả. Để thực hiện yêu cầu này, Việt Nam không những cần tổng kết kinh nghiệm quản lý kinh tế biển trong nước những năm qua, mà còn phải chú ý học hỏi kinh nghiệm nước ngoài. Kinh nghiệm của các nước Đông Á (như Trung Quốc, Malaysia, Singapore) rất đáng quan tâm nghiên cứu, bởi vì: Thứ nhất, đây là các quốc gia châu Á có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam cả về kinh tế, văn hoáxã hội, lẫn vị trí địa kinh tế; Thứ hai, các nước này, nhất là Trung Quốc cũng giống như Việt Nam là nước đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường; Thứ ba, các nước này cũng giống như Việt Nam đều là những nước phát triển trung bình trong khu vực. Do đó, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Quản lý kinh tế biển: Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng vào Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. 2. Tính hình nghiên cứu 2.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Thế kỷ XXI được thế giới xem như là “Thế kỷ kinh tế biển và đại dương”. Hướng ra biển - đại dương đang là khẩu hiệu chiến lược của nhiều quốc gia. Ngày nay kinh tế biển được rất nhiều nước quan tâm chú ý và được đông đảo các học giả trên thế giới đi sâu nghiên cứu. Trung Quốc được coi là một trong những quốc gia có nhiều tham vọng trong việc phát triển kinh tế biển và các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng đã khá đi sâu nghiên cứu về kinh tế biển và quản lý kinh tế biển. Đáng chú ý phải kể đến nhóm tác giả Dương Kim Thâm - Lương Hải Tân - Hoàng Minh Lỗ với công trình nghiên cứu mang tên “Chiến lược khai thác biển của Trung Quốc” (Dương Kim Thâm - 6 Lương Hải Tân - Hoàng Minh Lỗ, 1990). Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã đề cập khá toàn diện đến các nội dung của quản lý kinh tế biển ở Trung Quốc như: Khai thác hải sản, phát triển kinh tế hàng hải, phát triển du lịch biển, điều tra tài nguyên biển,… Các tác giả không chỉ phân tích hiện trạng của các ngành này trong hiện tại, mà còn có những nghiên cứu mang tính dự báo dài hạn như dự báo trữ lượng, vạch ra chiến lược phát triển của những ngành này trong tương lai, cũng như đưa ra một số khuyến nghị chính sách đối với những ngành này. Đặc biệt, về ngành khai thác hải sản, các tác giả cho rằng phải có các chính sách quản lý để phát triển một cách đồng bộ từ đánh bắt, nuôi trồng tới chế biến và xuất khẩu hải sản. Họ còn bàn tới cả các vấn đề về dự báo nhu cầu và các mục tiêu, biện pháp chính sách về khai thác hải sản. Về ngành du lịch biển, nhóm tác giả đã đưa ra một số luận điểm khá mới mẻ: (1) Trên thế giới vui chơi giải trí, du lịch biển đã trở thành giải trí hấp dẫn và có quy mô lớn. Ngành du lịch biển trên thế giới đã có hàng triệu thuyền du lịch, nhiều thuyền lớn hơn các ngành khác, thu nhập kinh doanh cao; (2) Ngành du lịch biển không phải là con đẻ của sự phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại, mà là con đẻ của sự phát triển kinh tế hiện đại: Đời sống nhân dân càng cao, không gian hoạt động càng mở rộng thêm, thời gian nhàn rỗi càng nhiều hơn, vì vậy càng phát triển vui chơi du lịch trên biển; (3) Vui chơi trên biển là ngành lợi dụng những tài nguyên không gian, gồm bãi biển, chỗ tắm, nơi câu cá, nơi vận động trên biển. Do đó, việc quy hoạch và quản lý các hoạt động của du lịch biển để bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa địa phương là hết sức cần thiết. Đại hội 18 Đảng cộng sản Trung Quốc đã khẳng định trong thập kỷ 20112020, Trung Quốc sẽ phấn đấu trở thành “cường quốc về biển”, trong đó nâng cao trình độ quản lý kinh tế biển có ý nghĩa hàng đầu. Ariff, M. (1991), Lee Kuan Yew (2000), Poon, J. (2003) đã khẳng định rõ vai trò quan trọng của kinh tế hàng hải trong kinh tế biển. Các tác giả này đã chỉ rõ, một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành công trong phát triển kinh tế hàng hải là hệ thống chính sách quản lý của nhà nước, đặc biệt là các chính sách quản lý tạo thuận lợi cho kinh tế hàng hải phát triển như chính sách khuyến 7 khích ứng dụng công nghệ thông tin trong khai báo hải quan, chính sách quản lý tàu thuyền xuất nhập cảnh qua internet và phát triển chính phủ điện tử. Trong báo cáo của Ban Chính sách biển của Mỹ có tên “An Ocean Blueprint” đã đề cập đến một quan điểm khá mới trong quản lý kinh tế biển, đó là quản lý tổng hợp biển. Các tác giả của báo cáo này đã đề cập đến quan điểm này dưới hình thức quản lý liên bang đối với các hoạt động kinh tế biển như quản lý các vùng nước, các vùng trầm tích bờ biển và quản lý bờ biển (Chương 9, chương 12). Họ cho rằng: Quản lý tổng hợp biển là một trong các cách thức quản lý đa ngành nghề kinh tế biển, nhằm thoả mãn nhu cầu cần phải điều hoà, cân bằng giữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Quản lý tổng hợp biển ra đời nhằm khác phục những bất cập do phương thức quản lý đơn ngành, riêng rẽ đã tồn tại từ lâu. Nazery Khalid, Armi Suzana Zamil và Farida Farid, với công trình nghiên cứu mang tên “Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của một số nước Châu Á và bài học cho Malaysia - The Asian experience in developing the marintime sector: Some case studies and lessons for Malaysia” (Nazery Khalid, Armi Suzana Zamil, Farida Farid, 2007) đã nêu bật vai trò và tầm quan trọng của ngành khai thác tài nguyên biển, đặc biệt là khai thác dầu khí. Một trong các vấn đề quan trọng mà công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra là khai thác khoáng sản là ngành rất dễ gây ô nhiễm môi trường. Do đó, nhà nước phải có chính sách về quản lý khai thác nguồn tài nguyên biển để sao cho hoạt động khai thác vừa có hiệu quả lại không ảnh hưởng tới vấn đề ô nhiễm môi trường. Các tác giả này cũng khẳng định rằng: Các nước ven biển muốn phát triển bền vững cần phải có chính sách phát triển, bảo tồn và bảo vệ khoáng sản biển khỏi việc khai thác quá mức và ô nhiễm môi trường biển. Các nhà kinh tế Trung Quốc đã có nhiều công trình nghiên cứu về các khu kinh tế ven biển. Các tác giả này coi các khu kinh tế ven biển như là cực tăng trưởng tạo động lực cho sự phát triển các ngành kinh tế khác trong nội địa. Theo họ, vai trò của các khu kinh tế ven biển như là “cửa sổ” để mở cửa ra với bên ngoài thông qua thu hút FDI và đẩy mạnh xuất khẩu, “cực tăng trưởng” để lôi kéo các vùng khác trong cả nước phát triển, “phòng thí nghiệm” của cải cách thể chế trong 8 cả nước. Các tác giả này đã chỉ ra chiến lược chính sách phát triển khu kinh tế ven biển thông qua một số bước như: (1) Xây dựng các đặc khu kinh tế; (2) Tăng cường mở cửa thành phố cảng ven biển; (3) xây dựng khu kinh tế tự do ven biển. 2.2. Các công trình nghiên cứu trong nước Các chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước Mặc dù là một quốc gia biển nhưng cho tới trước năm 2007 mô hình quản lý kinh tế biển của Việt Nam chưa thực sự hình thành. Chỉ tới khi ra đời Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, mô hình quản lý kinh tế biển của Việt Nam mới được định hình rõ nét. Mô hình quản lý kinh tế biển của Việt Nam tập trung chủ yếu vào năm điểm chính là: (1) Khai thác và chế biến khoáng sản (trọng tâm vào dầu, khí); (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác và chế biến hải sản; (4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; (5) Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với các khu đô thị ven biển. Năm điểm này được nêu rõ trong Nghị quyết trên chính là sự tiếp tục đường lối đổi mới, mở cửa nền kinh tế trong tình hình mới. Theo Nghị quyết này, mục tiêu tổng quát trong chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là “đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển”. Mục tiêu cụ thể về kinh tế là “phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển. Phấn đấu thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước”. Việt Nam sẽ triển khai “xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh… Xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển”. Để thực hiện chủ chương của Đảng và Nhà nước, vấn đề quản lý kinh tế biển được đặt lên hàng đầu. Nhiều chính sách và qui định pháp luật đã được đưa 9 ra. Hàng loạt các quy định pháp lý đã ra đời. Đặc biệt là năm 2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật biển Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong quản lý kinh tế biển Việt Nam. Về cơ bản, Luật biển Việt Nam phù hợp với Công ước Quốc tế về Luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc. Luật biển Việt Nam nêu rõ các nguyên tắc phát triển kinh tế biển Việt Nam là: (1) Phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; (2) Gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn trên biển; (3) Phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; (4) Gắn với phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo. Luật biển Việt Nam còn đưa ra 6 ngành nghề kinh tế biển mà Nhà nước ưu tiên phát triển là: (1) Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; (2) Vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; (3) Du lịch biển và kinh tế đảo; (4) Khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản; (5) Phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; (6) Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển. Các công trình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, có một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về về kinh tế biển và quản lý kinh tế biển. PGS. TS. Chu Đức Dũng với Đề tài cấp Nhà nước “Chiến lược phát triển kinh tế biển Đông của một số nước Đông Á - Tác động và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam” (Chu Đức Dũng , 2011). Trong đề tài này, tác giả đã trình bày một cách toàn diện những vấn đề lý luận cũng như thực tiến về quản lý và phát triển kinh tế biển. Tác giả đã nêu lên một số quan điểm khá mới mẻ về kinh tế biển như: Quản lý tổng hợp biển, phát triển trung tâm kinh tế biển, phát triển kinh tế biển trong mối quan hệ chặt chẽ với biến đổi khí hậu, môi trường và phát triển bền vững. Tác giả đã nghiên cứu kỹ lưỡng và sâu sắc kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của một số nước Đông Á, điển hình là Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, từ đó rút ra một số vấn đề chung có tính qui luật và có những gợi ý chính sách cụ thể đối với phát triển kinh tế biển của Việt Nam. 10 PGS. TS. Bùi Tất Thắng, đã có nhiều bài viết về kinh tế biển. Trong bài viết “Tầm nhìn kinh tế hải đảo: Bài học và cơ hội của Việt Nam” ( Bùi Tất Thắng, Báo Diễn đàn đầu tư, ngày 15/10/2012), PGS. TS. Bùi Tất Thắng đã luận giải một cách khoa học về chiến lược chính sách phát triển biển của Việt nam đến 2020. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, trước mắt cần chủ trương tập trung xây dựng một số đảo có điều kiện thuận lợi và nhiều tiềm năng, tạo sự bứt phá cho kinh tế biển, đảo, hình thành một số sản phẩm mũi nhọn phù hợp với lợi thế của vùng đảo như du lịch, dịch vụ biển, khai thác và nuôi trồng hải sản,… nâng cao mức đóng góp của kinh tế đảo trong kinh tế cả nước. Các lĩnh vực trọng yếu cần ưu tiên trước hết gồm: Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng trên các đảo, coi đây là khâu đột phá chính để thu hút đầu tư và khuyến khích nhân dân ra định cư và lao động dài ngày trên các đảo và vùng biển quanh đảo; Phát triển một số ngành/sản phẩm chủ lực, có lợi thế của kinh tế đảo, bao gồm: Đánh bắt và chế biến hải sản, du lịch biển, đảo, các ngành dịch vụ biển, đảo, phát triển các ngành/sản phẩm kinh tế khác; Phát triển các lĩnh vực giáo dục, xã hội; bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, nghiên cứu khoa học-công nghệ biển; Tập trung xây dựng một số đảo trọng điểm về kinh tế, trước mắt là phát triển du lịch tạo sự bứt phá về phát triển kinh tế biển, đảo trong thời gian tới thành các đảo có tầm cỡ khu vực và quốc tế. PGS. TS. Trần Đình Thiên, trong bài viết “Về chiến lược kinh tế biển của Việt Nam” (Trần Đình Thiên, Báo Tia Sáng, ngày 12/8/2011), ông đã nêu rõ, đã đến lúc cần có những đột phá mới trong tư duy và chiến lược quản lý để phát triển kinh tế biển. Phải chuyển nhanh từ phương thức “mò cua bắt ốc” sang phương thức kết hợp: Khai thác mặt tiền (biển - lợi thế địa chiến lược) + tự do hóa (thể chế vượt trước). Đây là công thức thành công của nhiều quốc gia đi trước trong nỗ lực phát triển kinh tế biển để trở thành cường quốc biển. Để định hình tư duy mới về kinh tế biển, theo ông, có hai điểm cần lưu ý. Thứ nhất, việc định hình chiến lược quản lý để phát triển kinh tế biển cần được thực hiện đồng thời và tổng thể ở ba phương diện. Một là khai thác vùng không gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển); Hai là khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển); Ba là phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết nối 11 (các ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học - công nghệ biển, nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền, v.v.). Ba phương diện này hình thành các khâu liên tục của một chuỗi phát triển cho bất cứ ngành kinh tế biển cụ thể nào. Thiếu một khâu bất kỳ nào, các ngành kinh tế biển cũng đều sẽ bị mất cân đối, khó vươn lên thành ngành hiện đại, hoạt động hiệu quả và có năng lực cạnh tranh quốc tế. Thứ hai, cùng với cách tiếp cận chuỗi (hệ thống tổng thể), cần chú ý nguyên tắc tập trung phát huy lợi thế trong phát triển. Với nguồn lực có hạn, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm trong chiến lược biển để ưu tiên thực hiện là một yêu cần bắt buộc đối với Việt Nam. Thực chất của yêu cầu này là căn cứ vào điều kiện cụ thể và lợi thế hiện có - hiện nay, đối với nước ta, chủ yếu là lợi thế “tĩnh”, bao gồm các lợi thế về tài nguyên biển và lợi thế địa kinh tế, lợi thế địa chiến lược để lựa chọn điểm đột phá cụ thể cho từng lĩnh vực, ngành kinh tế biển. Việc thực hiện nó nhằm khắc phục tình trạng dàn trải, phân tán trong đầu tư phát triển kinh tế biển, gây lãng phí và kém hiệu quả. Công trình tập thể của Ban Tuyên giáo Trung ương “Chiến lược biển Việt Nam: Từ quan điểm tới thực tiễn” (Ban Tuyên giáo Trung ương , 2010) đã làm nổi bật được tiềm năng biển đảo Việt Nam cũng như các vấn đề thực tiễn của kinh tế biển Việt Nam. Đặc biệt việc gắn kết giữa phát triển kinh tế biển và an ninh biển đảo, cũng như việc bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam cũng được đề cập đến ở đây. PGS. TS. Đào Huy Quát và PGS. TS. Phạm Văn Linh, với cuốn sách “Phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam” (Đào Huy Quát và Phạm Văn Linh, 2011), đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về quản lý, điều tra, khai thác tài nguyên biển đảo, phát triển kinh tế hàng hải, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam. Ngoài các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên còn có một số luận văn luận án nghiên cứu về kinh tế biển và quản lý kinh tế biển Việt Nam như luận văn thạc sĩ của Lý Kim Thụy với đề tài “Phát triển kinh tế biển tỉnh Cà Mau - Thực trạng và giải pháp” năm 2011; luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Hoàng Dung với đề tài “Đánh giá tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển kinh tế biển huyện Gò Công Đông (Tỉnh Tiền Giang)” năm 2009; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thụy 12 Ngọc Trang với đề tài “Tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển kinh tế biển Tỉnh Ninh Thuận” năm 2011. Đây là các công trình nghiên cứu đặc thù về phát triển kinh tế biển và quản lý kinh tế biển của các tỉnh thành trong cả nước. Các công trình này đều nêu ra được một số khái niệm về kinh tế biển, thực trạng phát triển kinh tế biển của địa phương và đưa ra được một số giải pháp cho địa phương mình. 2.3. Những vấn đề đã thống nhất, các vấn đề còn tranh luận, các vấn đề còn bỏ ngỏ liên quan đến luận án Các vấn đề đã thống nhất Qua việc điểm lại các công trình nổi bật trong và ngoài nước có thể thấy được các thành tựu, cụ thể như sau: Thứ nhất, phần lớn các công trình nghiên cứu đã đề cập nhiều đến khái niệm thế nào là kinh tế biển. Các khái niệm này cũng đã được làm rõ nhưng chưa có một sự thống nhất. Nhưng nhìn chung các khái niệm về kinh tế biển được chỉ ra từ các công trình nghiên cứu đều xuất phát từ thực tiễn về phát triển kinh tế biển. Các khái niệm này đều cho rằng kinh tế biển chính là các hoạt động về kinh tế có liên quan trực tiếp hoặc liên quan gián tiếp tới biển. Trong đó, hoạt động kinh tế biển nếu được hiểu theo nghĩa hẹp thì nó là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, nhưng hiểu theo nghĩa rộng thì nó còn bao gồm các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này lại nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển. Còn quản lý kinh tế biển ở góc độ quản lý vĩ mô thì chính là các hoạt động quản lý, các chính sách quản lý các hoạt động kinh tế biển. Quản lý kinh tế biển ở góc độ vi mô chính là hoạt động quản lý ở cấp độ doanh nghiệp hoặc các chủ thể trực tiếp khai thác biển. Thứ hai, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra được vai trò cũng như tầm quan trọng của quản lý kinh tế biển. Đây là một trong những yếu tố quyết định tới phát triển kinh tế biển cũng như phát triển kinh tế nói chung của các quốc gia ven biển. Các siêu cường như Mỹ và các cường quốc như Nhật Bản, Anh,… đều đi lên từ kinh tế biển và kinh tế biển chiếm tỷ trọng lớn trong phát triển kinh tế của họ. Tuy nhiên, luận điểm cho rằng chỉ có các quốc gia ven biển (tức là tối thiểu phải có bờ 13 biển) thì biển mới có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế không phải lúc nào cũng đúng. Thực thế đã cho thấy, có những quốc gia không có đường bờ biển vẫn có thể coi biển làm một nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế, chẳng hạn như: Mông Cổ, một quốc gia không có biển nhưng vẫn phát triển kinh tế hàng hải, vẫn có đội tàu và thực hiện các dịch vụ về kinh tế hàng hải; Thụy Sỹ có công ty vận tải bằng tàu biển lớn nhất thế giới. Thứ ba, các nghiên cứu trên đã nêu được các nội dung của quản lý kinh tế biển như: (1) Các chính sách quản lý kinh tế biển; (2) Các tổ chức cơ quan nhằm quản lý kinh tế biển. Còn nội dung của phát triển kinh tế biển chủ yếu gồm: (1) Kinh tế hàng hải; (2) Khai thác tài nguyên biển; (3) Khai thác thủy hải sản; (4) Du lịch biển; (5) Các khu kinh tế ven biển. Đây là những lĩnh vực chủ chốt của hoạt động kinh tế biển. Các vấn đề còn tranh luận Mặc dù đã đạt được những thành công nhất định, tuy nhiên trong các nghiên cứu đi trước, vẫn thiếu vắng một số vấn đề chưa được đi sâu nghiên cứu kỹ. Thứ nhất, sự tranh cãi gay gắt nhất diễn ra xoay quanh vấn đề thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển: Cần có quan điểm hệ thống phát triển kinh tế biển hay quan điểm tập trung vào một số ngành, vùng then chốt. Quan điểm hệ thống cho rằng cần phát triển đồng đều các ngành và các sản phẩm của kinh tế biển ngay từ đầu, nếu không sẽ dẫn tới lãng phí lợi thế phát triển và tạo ra khoảng cách phát triển kinh tế giữa các vùng, miền. Quan điểm tập trung vào một số ngành, vùng then chốt chứng minh rằng: Trong điều kiện nguồn lực có hạn, nếu dàn trải cùng một lúc phát triển nhiều ngành, nhiều sản phẩm sẽ dẫn tới phân tán nguồn vốn và nguồn lực và phát triển không hiệu quả. Nếu ngay từ đầu, biết chọn ra các lĩnh vực mà mình có lợi thế nhất và có khả năng thành công nhất, tập trung nguồn lực vào đó thì sự phát triển sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Hơn nữa, sự phát triển theo kiểu “cực tăng trưởng” sẽ có tác dụng lan toả, lôi kéo các vùng khác phát triển theo, cuối cùng cũng dẫn tới sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong cả nước. Thực tế đã chỉ ra rằng, có những quốc gia phát triển đồng đều tất cả các lĩnh vực liên quan tới kinh tế biển miễn là có thể phát triển được (như Trung Quốc, 14 Malaysia) thì cũng có thể đạt được những thành quả nhất định trong khi đó có những quốc gia chỉ phát triển một vài lĩnh vực nhưng vẫn đạt được thành công trong phát triển kinh tế (như Singapore là một quốc đảo nhưng hầu như không phát triển ngành khai thác hải sản, không làm muối, phần lớn hải sản ở Singapore được nhập khẩu từ Ấn Độ và Việt Nam). Thứ hai, về quan hệ giữa quản lý kinh tế biển và phát triển kinh tế biển cũng còn nhiều vấn đề còn để ngỏ. Có một số người cho rằng: Phát triển kinh tế biển và quản lý kinh tế biển là hai lĩnh vực tương đối tách biệt, không nhất thiết có quan hệ với nhau. Một số người khác lại khẳng định: Phát triển kinh tế biển và quản lý kinh tế biển có mối quan hệ khăng khít, gắn bó, không thể tách rời, nếu xét theo mục đích hiệu quả cuối cùng. Thứ ba, về mối quan hệ giữa kinh tế biển và vấn đề về an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biển đảo, còn có nhiều ý kiến tranh cãi. Nhiều ý kiến cho rằng, muốn bảo vệ chủ quyền biển đảo thì phải phát triển kinh tế biển. Những ý kiến ngược lại cho rằng, phát triển kinh tế biển không nhất thiết phải đi đôi với vấn đề an ninh quốc phòng. Thứ tư, cuối cùng vẫn còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về quản lý kinh tế biển, mà trong đó đề cập tương đối đầy đủ các vấn đề như: Những vấn đề lý luận của quản lý kinh tế biển, quan điểm và tư duy về quản lý kinh tế biển, nội dung của quản lý kinh tế biển, các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế biển 3. Đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn của quản lý kinh tế biển của một số nước trên thế giới, trường hợp Trung Quốc, Malaysia và Singapore. 4. Phạm vi nghiên cứu Quản lý kinh tế biển là một lĩnh vực rộng, nó bao gồm cả quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà nước về kinh tế biển. Chính vì vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu ở tầm vĩ mô, tức là nghiên cứu quản lý của nhà nước đối với kinh tế biển, trong đó tập trung vào các chính sách quản lý kinh tế 15 biển và các cơ quan quản lý kinh tế biển, với trọng tâm là quản lý nhà nước đối với vào năm lĩnh vực là kinh tế hàng hải, khai thác khoáng sản biển, khai hải sản, du lịch biển và các khu kinh tế biển. Đề tài cũng đặt trọng tâm vào nghiên cứu kinh nghiệm quản lý kinh tế biển của 3 nước Trung Quốc, Malaysia và Singapore. Về thời gian, đề tài nghiên cứu kinh nghiệm quản lý kinh tế biển của các nước trong giai đoạn từ những năm 1980 tới nay (2011), bởi vì giai đoạn những năm 1980 đến nay là thời kỳ kinh tế biển của các nước này phát triển mạnh và có nhiều nét đặc trưng nổi bật. 5. Mục đích nghiên cứu Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore nhằm rút ra kinh nghiệm có ích cho Việt Nam, từ đó có một số gợi ý chính sách cho Việt Nam trong thời gian tới. 6. Phương pháp nghiên cứu Ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong việc nghiên cứu khoa học xã hội nói chung cũng như trong kinh tế học nói riêng như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp logic lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học, đề tài còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích - tổng hợp, so sánh, dự báo để làm rõ hơn nội dung nghiên cứu. Về số liệu, đề tài sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp là các nghiên cứu đáng tin cậy của các học giả và các tổ chức uy tín trong và ngoài nước. Đề tài còn sử dụng phương pháp hội thảo khoa học, phương pháp trao đổi, khảo sát thực tế,… 7. Những đóng góp của đề tài (1). Hệ thống hoá các vấn đề về quản lý kinh tế biển, từ khái niệm, vai trò, chiến lược, chính sách, mô hình đến thể chế phát triển kinh tế biển. (2). Lần đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống những cơ sở lý luận của quản lý kinh tế biển: Khái niệm, vai trò, các quan điểm và cách tiếp cận,… 16 (3). Đề tài nghiên cứu thực tiễn quản lý kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore, để tìm ra các vấn đề có tính quy luật trong quản lý kinh tế biển nói chung. (4). Từ các vấn đề có tính quy luật trong quản lý kinh tế biển được rút ra từ thực tiễn phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore, kết hợp với nghiên cứu thực tiễn Việt Nam, đề tài đưa ra một số đề xuất, mang tính gợi ý chính sách về quản lý kinh tế biển Việt Nam trong thời gian tới. 8. Kết cấu của đề tài Ngoài lời mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án chia làm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý kinh tế biển. Trong chương này, luận án trình bày các khái niệm về kinh tế biển, quản lý kinh tế biển, vai trò của quản lý kinh tế biển, các quan điểm và cách tiếp cận về quản lý kinh tế biển,… Chương 2: Quản lý kinh tế biển của thế giới: Trường hợp Trung Quốc, Malaysia và Singapore. Trong chương này luận án trình bày, phân tích các vấn đề về quản lý và phát triển kinh tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore mà trọng tâm vào 5 lĩnh vực chính: (1) Kinh tế hàng hải (phát triển cảng biển và vận tải bằng tàu biển); (2) Khai thác khoáng sản (chủ yếu là khai thác dầu); (3) Khai thác hải sản; (4) Phát triển du lịch biển; (5) Phát triển các khu kinh tế ven biển. Sau khi phân tích luận án cũng đưa ra các đánh giá nhưng thành công cũng như những thất bại để từ đó tìm ra các vấn đề có tính quy luật trong quản lý kinh tế biển. Chương3: Vận dụng kinh nghiệm quản lý kinh tế biển của thế giới vào Việt Nam và một số gợi ý chính sách. Trong chương này, luận án đi sâu phân tích vấn đề quản lý kinh tế biển Việt Nam từ trước đến nay để tìm ra được những hạn chế cần khắc phục, từ đó vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc, Malaysia và Singapore vào quản lý kinh tế biển Việt Nam và đưa ra một số gợi ý chính sách. Mặc dù có sự nỗ lực của bản thân nhưng đây là một đề tài rộng, do trình độ, thời gian, kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những 17 sai sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN 1.1. Các khái niệm cơ bản về quản lý kinh tế biển 1.1.1. Khái niệm kinh tế biển Từ xa xưa, con người đã biết dựa vào biển để khai thác các tài nguyên biển: Trên mặt nước biển (dựa vào biển để di chuyển hàng hóa, giao lưu kinh tế, phát triển du lịch biển,…), tài nguyên trong lòng biển (đánh bắt, nuôi trồng hải sản, rong biển, tảo biển,…), tài nguyên dưới lòng đại dương (khai thác dầu khí, khai khoáng,…), phát triển kinh tế ven biển để phục vụ khai thác biển (chế biến hải sản, phát triển dịch vụ hậu cần cho khai thác biển, phát triển các khu kinh tế biển,…). Tất cả các hoạt động kinh tế trên đều được coi là hoạt động kinh tế biển. Bên cạnh những nội dung trên thì khái niệm kinh tế biển cũng có thể được hiểu theo nhiều khía cạnh, có tài liệu cho rằng: “KINH TẾ BIỂN là hoạt động kinh tế có ba lợi ích kinh tế phục vụ con người rõ ràng nhất là vận tải đường biển, khai thác nguồn tài nguyên phong phú của biển và du lịch, viễn thông”1. Còn theo tài liệu nghiên cứu về kinh tế biển của Đà Nẵng thì cho rằng: “KINH TẾ BIỂN là sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế trên biển với các hoạt động kinh tế trên đất liền, trong đó biển chủ yếu đóng vai trò khai thác nguyên liệu, cho hoạt động vận tải, hoạt động du lịch trên biển, còn hầu hết các hoạt động tổ chức sản xuất, chế biển, hậu cần dịch vụ phục vụ khai thác biển lại nằm trên đất liền. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật 1 Đào Duy Quát và Phạm Văn Linh (2008), Phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam, Ban Tuyên giáo Trung ương, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, tr. 33. 18 trong mấy thập kỷ gần đây cho phép con người có thể khai thác, sử dụng nhiều loại tài nguyên thiên nhiên của biển và đại dương”2. Theo PGS. TS. Bùi Tất Thắng trong bài viết về “Chiến lược kinh tế biển: Cách tiếp cận và những nội dung chính” thì cho rằng khái niệm kinh tế biển vẫn là khái niệm còn chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, trên thực tế, trong phân tích và thống kê kinh tế, việc quy ước nội dung kinh tế biển lại không phải vấn đề gây nhiều tranh cãi về mặt học thuật. Về cơ bản, kinh tế biển là khái niệm mang tính thực tiễn, nghĩa là người ta có thể không tranh cãi nhiều về bản thân các ngành nghề thuộc kinh tế biển, mà phần phải bàn cãi nhiều hơn lại thuộc về lĩnh vực liên quan và không phải diễn ra trên biển. Do tính đặc thù của môi trường biển, mọi hoạt động kinh tế biển đều liên quan mật thiết và được quyết định từ trong đất liền, nên không thể nói về kinh tế biển mà không tính tới những hoạt động kinh tế liên quan đến biển ở vùng duyên hải. PGS. TS. Bùi Tất Thắng3 và PGS. TS. Chu Đức Dũng4 trong các công trình nghiên cứu của mình đều có chung quan điểm về nội hàm kinh tế biển như sau: - KINH TẾ BIỂN hiểu theo nghĩa hẹp là toàn bộ hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: (1) Kinh tế hàng hải(vận tải biển và dịch vụ cảng biển); (2) Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); (3) Khai thác dầu khí ngoài khơi; (4) Du lịch biển; (5) Làm muối; (6) Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; và (7) Kinh tế đảo. - KINH TẾ BIỂN hiểu theo nghĩa rộng là các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng Huỳnh Văn Thanh (2002), Giải pháp cơ bản nhằm phát triển bền vững và có hiệu quả kinh tế biển thành phố Đà nẵng, Đề tài Khoa học cấp Thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND Tỉnh Đà Nẵng, năm 2002, tr. 3. 3 Bùi Tất Thắng (2007), Chiến lược kinh tế biển: Cách tiếp cận và những nội dung chính, kỷ yếu Hội thảo, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tháng 12/2007 4 Chu Dức Dũng (2011), Chiến lược phát triển kinh tế Biển Đông của một số nước Đông Á - Tác động và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Đề tài Nhà nước. 2 19 những hoạt động kinh tế này lại nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: (1) Đóng và sửa chữa tàu biển (Hoạt động này cũng xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải); (2) Công nghiệp chế biến dầu, khí; (3) Công nghiệp chế biến thủy, hải sản; (4) Cung cấp dịch vụ biển; (5) Thông tin liên lạc (biển); (6) Nghiên cứu khoa học công - nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên môi trường biển. Chẳng hạn như trong tài liệu Chiến lược khai thác biển của Trung Quốc5 và một số tài liệu thống kê hàng năm của Trung Quốc đều chỉ ra rằng: “KINH TẾ BIỂN bao gồm: Hải sản, khai thác dầu và khí tự nhiên ngoài khơi, các bãi biển, công nghiệp muối, đóng tàu biển, viễn thông và vận tải biển, du lịch biển, giáo dục và khoa học biển, bảo vệ môi trường biển, dịch vụ biển,…”. Khái niệm về kinh tế biển, cho tới nay, vẫn chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, các khái niệm về kinh tế biển của trong nước và nước ngoài đưa ra nhìn chung vẫn coi kinh tế biển là các hoạt động có liên quan tới biển. Phát triển kinh tế biển được hiểu là một trong những nội dung quan trọng trong phát triển kinh tế tổng thể quốc gia. Nó thể hiện tầm nhìn dài hạn “hướng ra biển” của quốc gia đó nhằm thúc đẩy hoạt động kinh tế biển lên tầm tương xứng với tiềm năng của biển. Từ những phân tích trên, tôi cho rằng: KINH TẾ BIỂN là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển (tuy không phải diễn ra trên biển nhưng hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển). 5 Dương Kim Thâm, Lương Hải Tâm, Hoàng Minh Lỗ (1990), Chiến lược khai thác biển của Trung Quốc, NXB 20 1.1.2. Quản lý kinh tế biển “QUẢN LÝ KINH TẾ BIỂN là một phần của hoạt động quản lý xã hội nói chung và là một phần của hoạt động quản lý kinh tế nói riêng mà đối tượng quản lý của nó chính là các hoạt động kinh tế biển với mục tiêu là để thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung và thúc đẩy kinh tế biển nói riêng”. Quản lý nhà nước về kinh tế biển bao gồm hai phần chính là chính sách quản lý và các tổ chức quản lý. Chính sách quản lý là hệ thống các quan điển, đường lối, các kế hoạch, các hệ thống văn bản pháp luật,…để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế biển. Quản lý kinh tế biển có thể được mô tả dưới dạng sở đồ sau:
- Xem thêm -