Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh trong giậm nhảy nhằm nâng cao thành tích nhảy xa cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

  • Số trang: 38 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27700 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẶT VẤN ĐỂ • Chúng ta đang sống ữong thế kỉ XXI, thế kỉ của sự bùng nổ công nghệ thông tin, truyền thông, khoa học công nghệ. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đòi hỏi mỗi người phải có sự nỗ lực cao để phù hợp với sự phát triển của thòi đại. Để đáp ứng yêu cầu đó Đảng và Nhà nước ta đã coi ừọng vấn đề giáo dục đào tạo. Trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần II (khóa VIII) năm 1996 đưa ra nghị quyết quan trọng mang tính chiến lược đó là: “Sự nghiệpgiáodục đào tạo là quốc sách hàng đầu”[3]. Để phát triển đất nước giáo dục đào tạo phải tạo ra những con người phát triển toàn diện, có đủ trí lực và thể lực. Xuất phát từ nhiệm vụ đó, giáo dục thể chất (GDTC) - một bộ phận trong hệ thống giáo dục chung đã góp phần tạo ra những con ngưòi “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức, phong phú về tinh thẩn”. [2] Thể dục thể thao (TDTT) nói chung và GDTC nói riêng đã mang lại cho thế hệ trẻ cuộc sống vui tưoi lành manh và tác động mạnh mẽ đến các mặt khác của giáo dục. Do tầm quan trọng và những lọi ích to lán của TDTT mà Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực này. Ngày nay cùng với sự phát triển của đất nước, công tác TDTT có nhiều bước tiến mới. Chúng ta phấn đấu thực hiện kế hoạch củng cố, xây dựng và phát triển phong trào TDTT trong những năm đầu thế kỷ XXI, đưa nền thể thao nước nhà hoà nhập và đua tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chính vì vậy mà phong trào TDTT đã phát triển không ngừng, thu hút nhiều đối tượng tham gia tập luyện. Chỉ thị số 36- c r / TW ngày 24 - 3 - 1994 của Ban Bí thư TW Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thể dục thể thao trong giai đoạn mới khẳng đinh: “Phát triển TDTT là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế- xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng phát huy nhân tố con người, 2 công tác TDTT góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao sức lao động và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang”.[1] Chính vì thế ữong những năm gần đây, Bộ GD - ĐT đã không ngừng cải tiến nội dung, đổi mới chương trình, phương pháp dạy TDTT trong các cấp học. Điền kinh là một trong những nội dung cơ bản không thể thiếu của hầu hết các chương trình giảng dạy của bậc đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp cũng như bậc THPT. Công tác giáo dục thể chất nói chung và việc tập luyện các môn điền kinh nói riêng, không chỉ góp phần phát triển và hoàn thiện thể lực, trang bị hệ thống kĩ năng cho người tập mà còn giáo dục các phẩm chất đạo đức, ý chí và hình thành cuộc sống lành mạnh cho mọi người. Điền kinh là môn thể thao có lịch sử lâu đời nhất được ưa chuông và phổ biến rộng rãi trên Thế giới. Với nội dung rất phong phú và đa dạng điền kinh chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình thi đấu của các Đại hội thể thao Olympic quốc tế và trong đòi sống văn hóa thể thao nhân loại. Du nhập vào Việt Nam rất sớm nhưng điền kinh chỉ phát triển manh từ sau năm 1975, manh cả về số lượng và chất lượng. Mặt khác, điền kinh còn là một môn thể thao cơ bản, nếu được tập luyện một cách khoa học, có hệ thống sẽ trang bị cho người tập mặt trình độ thể lực chung bền vững, là cơ sở để nâng cao thành tích trong các môn thể thao khác. Chất lượng các môn thể thao nói chung và điền kinh nói riêng được chi phối bởi hai yếu tố cơ bản: Trình độ kỹ thuật và trình độ thể lực. Hai yếu tố này quan hệ mật thiết và khăng khít tác động qua lại hỗ trợ nhau. Do vậy trong thực tế để có được thành tích thể thao tốt, người tập ngoài việc có kỹ thuật và thể lực tốt còn phải biết kết hợp giữa các yếu tố này. Điền kinh có rất nhiều nội dung, trong đó có nhảy xa - môn thể thao được rất nhiều ngưòi ưa thích tập luyện. Nhảy xa là môn thể thao cá nhân không giống các môn thể thao thi đấu đồng đội, nó đòi hỏi sự nỗ lực cao và khéo léo của bản thân người tập. Tập luyện và thi 3 đấu nhảy xa có tác dụng phát triển các tố chất vận động của con người như: sức manh, sức nhanh, sức bền, khả năng phối hợp vận động... Nhảy xa là một trong những nội dung của môn điền kinh được kết hợp giai đoạn chạy đà và thực hiện động tác giậm nhảy đưa cơ thể vượt qua chướng ngại vật với khoảng cách xa nhất. Kĩ thuật nhảy xa gồm 4 giai đoạn: chạy đà giậm nhảy - trên không - tiếp đất. Trong đó giai đoạn chạy đà và giậm nhảy là quan trọng nhất quyết định đến thành tích của nhảy xa. Muốn có thành tích cao ở môn này yêu cầu đặt ra đối với VĐV không chỉ có thể hình tốt, sức manh, tốc độ, sự khéo léo mà còn phải biết phối hợp nhip nhàng liên tục các bộ phận trong cơ thể: chân giậm, chân lăng và tay. Giậm nhảy phải có lực (sức manh) đưa cơ thể lên trên và ra trước trong khoảng thòi gian ngắn nhất vì giai đoạn này làm thay đổi phương hướng chuyển động của trọng tâm cơ thể, lợi dụng tốc độ nằm ngang tạo ra tốc độ thẳng đứng để có được tốc độ bay ban đầu lớn nhất và góc bay hợp lý. Những tố chất phát triển thể lực trong nhảy xa là sức manh, sức nhanh, ừong đó sức mạnh là yếu tố quyết định đến thành tích nhảy xa. Qua thực tế cho thấy trường THPT Nguyễn Văn Cừ là một trường có bề dày truyền thống về phong trào TDTT của Hà Nội. Tuy nhiên phong trào đó chỉ dừng lại ở trình độ nhất định vì thế mà thành tích thi đấu của nhà trường ở cấp tỉnh, thành phố chưa cao, do trình độ, phương tiện tập luyện và công tác tuyển chọn... còn nhiều hạn chế. Như vậy, để nâng cao hiệu quả công tác GDTC nói chung và thành tích nhảy xa nói riêng, cần chú trọng vào việc giảng dạy, huấn luyện phát triển sức manh trong giai đoạn giậm nhảy cho phù hợp với trình độ học sinh. Muốn đào tạo được những VĐV có thành tích cao, ngoài việc tuyển chọn được những VĐV trẻ có tố chất vận động tốt còn cần những phương pháp huấn luyện khoa học và đặc biệt chọn được những bài tập hợp lí, phù hợp người tập. Trong quá trình tập luyện và nghiên cứu chúng tôi thấy rằng giai 4 đoạn giậm nhảy trong nhảy xa là giai đoạn quan trọng nhất. Ngoài yếu tố người tập nắm vững và thực hiện tốt kĩ thuật cơ bản còn cẩn có sức mạnh trong giai đoạn giậm nhảy mới đạt kết quả cao ữong tập luyện và thi đấu.Với mong muốn giải quyết được vấn đề, mối quan tâm thể thao nước nhà, chúng ta phải lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh trong giậm nhảy nhằm nâng cao thành tích nhảy xa cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ Hà Nội sao cho hợp lí. Dựa trên cơ sở phân tích ý nghĩa và tầm quan trọng, tính bức thiết của vấn đề, với mục đích góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, huấn luyện môn điền kinh nói chung cũng như môn nhảy xa nói riêng tôi thực hiện đề tài: “Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh trong giậm nhảy nhằm nâng cao thành tích nhảy xa cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ- Hà Nội". Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng việc sử dụng các bài tập phát triển sức mạnh trong giậm nhảy để từ đó tiến hành lựa chọn và áp dụng bài tập sao cho phù hợp với điều kiện, lứa tuổi nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy xa cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. 5 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VAN ĐỂ NGHIÊN c ứ u 1.1. Cơ sở sinh lý, lí luận của tố chất sức mạnh trong nhảy xa Sức mạnh là khả năng của con người sinh lực cơ học bằng sự nỗ lực của cơ bắp, hay là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài bằng sự nỗ lực của cơ bắp. Sức mạnh cơ phát triển phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Số lượng đơn vị vận động tham gia vào căng cơ. - Chế độ co của các đơn vị vận động đó. - Chiều dài ban đầu của sợi cơ trước lúc co khi số lượng sợi cơ co là tối đa, các sợi cơ đều co theo chế độ co cứng và chiều dài ban đầu của sợi cơ là chiều dài tối ưu thì cơ sẽ co với lực tối đa. Lực đó gọi là sức mạnh tối đa thường đạt được trong cơ tĩnh. - Sức manh tối đa phụ thuộc vào số lượng sợi cơ và thiết diện ngang (độ lớn) của cơ bắp. - Sức mạnh tương đối bằng sức manh tuyệt đối / trọng lượng cơ thể. - Sức mạnh là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh, nhóm sức manh này được chia thành sức manh động lực và hoãn xung, chúng có liên quan và ảnh hưởng đến việc quyết định thành tích nhảy xa. Lực tối đa mà con người có thể tạo ra, một mặt phụ thuộc vào đặc tính sinh cơ của động tác (độ dài cánh tay đòn, khả năng thu hút các nhóm cơ lớn nhất hoạt động...). Mặt khác phụ thuộc vào mức độ hoạt động của từng nhóm cơ riêng biệt và sự phối hợp giữa chúng. - Mức độ hoạt động của cơ được quy đinh bỏi hai nhân tố: + Xung động từ các noron thần kinh vận động trong sừng trước tủy sống đến cơ. + Phản ứng của cơ (tóc là lực do nó sinh ra để đáp lại xung động thần kinh). 6 Một số kết luận của các nhà khoa học về phân loại sức mạnh. - Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt so với tri số lực phát huy trong điều kiện co cơ đẳng trường. - Trong chế độ nhượng bộ khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất đôi khi gấp hai lần trong điều kiện tình. - Trong động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ. - Khả năng sinh lực ừong các động tác tuyệt đối và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối đa và không có tương quan với nhau. Có thể phân loại như sau: + Sức manh đơn thuần: Được sinh ra trong các động tác chậm hoặc lĩnh. + Sức manh tốc độ: Là sức manh được sinh ra trong các động tác nhanh. + Sức manh bột phát: Là khả năng phát huy lực lớn trong một khoảng thời gian ngắn nhất. + Sức manh tương đối = Sức mạnh tuyệt đối /trọng lượng cơ thể. Đánh giá sức manh theo phương pháp sau: - Phát triển sức mạnh bột phát: Bài tập bật xa tại chỗ, bật cao, bật đổi chân với bục có độ cao... - Phát triển sức mạnh ném đẩy: Số lần lặp lại 8 - 1 2 lần, nghỉ giữa các tổ là 2 - 3 phút. - Phát triển sức manh nhảy: Số lần lặp lại 10 - 15 lần/1 tổ, quãng nghỉ giữa các tổ từ 3 - 4 phút. Vì vậy chúng ta muốn phát triển sức mạnh phải có phương pháp giảng dạy và chế độ tập luyện hợp lý với khả năng chức phận và đặc điểm trình độ phát triển thể lực của các em. 1.2. Những quan điểm về huấn luyện tố chất sức mạnh nhằm nâng cao thành tích nhảy xa 1.2.1. Đặc điểm kĩ thuật giai đoạn giậm nhảy môn nhảy xa Nhảy xa là phương pháp đưa cơ thể vượt qua một quãng đường lớn nhất (không chạm đất) mà không dùng bất cứ dụng cụ hỗ trợ nào. 7 Nhảy xa là hoạt động hỗn hợp, vừa có chu kì vừa không có chu kì bao gồm nhiều động tác liên kết với nhau chặt chẽ và phức tạp từ chạy đà, giậm nhảy, trên không và tiếp đất. Đặc điểm nổi bật của nhảy xa là cần phải kéo dài quỹ đạo bay trên không do nỗ lực của người nhảy trong lấy đà và giậm nhảy tạo nên. Kỹ thuật nhảy xa gồm 4 giai đoạn: Chạy đà, giậm nhảy, trên không và tiếp đất. Chạy đà: Được tính từ khi bắt đầu chạy đà đến khi đặt chân vào ván giậm nhảy. Nhiệm vụ của giai đoạn này là tạo tốc độ nằm ngang lớn nhất và chuẩn bị tốt cho động tác giậm nhảy. Giai đoạn giậm nhảy: Giai đoạn này lính từ khi đặt chân vào ván giậm nhảy đến khi chân giậm rời khỏi ván giậm. Nhiệm vụ của giậm nhảy là thay đổi phương chuyển động của trọng tâm cơ thể để đưa cơ thể tiến về phía trước với vận tốc ban đầu lớn nhất. Bay trên không: Giai đoạn này tính từ khi chân giậm rời khỏi mặt ván giậm đến khi có một bộ phận cơ thể bắt đầu tiếp xúc với mặt đất. Nhiệm vụ của giai đoạn này là hợp lý mọi hoạt động trong khi bay để giữ thăng bằng và tạo điều kiện cho người nhảy với xa chân về trước để đạt thành tích cao n h ất. Tiếp đất: Giai đoạn này lính từ khi một bộ phận của cơ thể chạm đất đến lúc chuyển động của toàn thân người hoàn toàn dừng lại. Nhiệm vụ của giai đoạn này là góp phần nâng cao thành tích và đảm bảo an toàn cho người tập. Trong đó giai đoạn chạy đà và giậm nhảy là hai giai đoạn quan trọng nhất. Mỗi giai đoạn có đặc trưng riêng nhưng chúng tôi chỉ xét tới giai đoạn giậm nhảy. Giậm nhảy cần thực hiện trong khoảng thời gian ngắn nhất với sự nỗ lực cao nhất. Nếu giậm nhảy với tốc độ chậm thì tốc độ bay xa giảm, do đó thành tích của ngưòi nhảy giảm đi. Trong lúc giậm, người nhảy cần cố gắng giữ chuyển động tiến về trước, đặt chân đúng ván, bật lên với góc gần như thẳng đứng (70-80 độ). 8 Để đạt được thành tích cao trong nhảy xa, vận động viên cần có tầm vóc tốt, trình độ cao về sức mạnh và nắm vững kỹ thuật nhảy. Khi tiếp xúc với ván giậm, toàn bộ trọng lượng cơ thể dồn lên chân giậm nhảy, do vậy chân giậm nhảy hoi khụy để giảm chấn động. Khi giậm nhảy cần nhanh chóng duỗi hết các khớp nhanh, mạnh, đổng thời gập gối đưa nhanh đùi của chân lăng về trước - lên trên và dừng khi cánh tay song song mặt đất. Kết thúc giậm nhảy góc giữa thân ừên và đùi chân lăng khoảng 95°, bàn chân, cẳng chân, đùi của chân giậm gần như nằm trên một đường thẳng hơi ngả về trước với góc độ giậm nhảy khoảng 68 - 72°. Tay bên chân giậm đánh ra trước lên trên. Tay bên chân lăng gập ở khuỷu, đánh sang bên và hơi ra sau. Thân ngưòi hơi ngả về trước. Đầu giữ thẳng không được ngửa ra sau hay cúi về trước. Kết thúc động tác giậm nhảy, cơ thể ở tư thế “bước bộ trên không”. Khi giậm nhảy lực tác động lên trọng tâm cơ thể hướng về trước theo phương nằm ngang là 87% ừong khi lực hướng lên trên theo phương thẳng đứng chỉ chiếm 13%. Tất cả các hoạt động phối hợp giữa chân giậm, chân lăng, tay, thân người diễn ra một cách nhịp nhàng, hoạt động nọ phối hợp hoạt động kia mục đích làm tăng tốc độ giậm nhảy. Chỉ cần phối hợp không đồng thời của từng hoạt động cũng sẽ ảnh hưởng tới thành tích nhảy xa của các em. 1.2.2. Yếu tố quyết định thành tích nhảy xa Thành tích nhảy xa (S) về cơ bản phụ thuộc vào tốc độ bay ban đầu ( va) và góc bay của tổng trọng tâm (a ) khi rời đất. Tốc độ bay phụ thuộc vào tốc độ đà tối đa có được trước lúc giậm nhảy và giậm nhảy. Độ xa của lần nhảy được xác định theo công thức: r _ Vq .Sỉnla Ò — g Trong đó: - s là độ xa (quãng đường di chuyển của trọng tâm cơ thể) - V 0 là tốc độ bay ban đầu - a là góc bay - g là gia tốc rơi tự do 9 Qua phân tích công thức trên ta thấy sự ảnh hưởng của g là không đổi luôn bằng 9,8m/s2nên V 0và a là yếu tố quyết định đến độ bay xa. Trong thực tế nhảy xa, chạy đà và giậm nhảy là hai giai đoạn tạo cho cơ thể có tốc độ bay ban đầu lớn, góc độ bay hợp lý nhất vì thế nó là giai đoạn có ảnh hưởng quyết định đến độ bay xa của lần nhảy. 1.2.3. Sự cần thiết phải phát triển sức mạnh trong giậm nhảy của nhảy xa Năng lực sức manh và năng lực sử dụng sức mạnh là năng lực không thể thiếu được của tất cả vận động viên các môn nhảy, đặc biệt với các vận động viên nhảy xa thì tố chất sức manh có vai trò đặc biệt quan trọng. Sức manh trong nhảy xa được thể hiện nhiều nhất trong chạy đà và giậm nhảy. Ai cũng biết nếu làm tốt giai đoạn này thì sẽ đạt được thành tích cao. Tuy nhiên không phải ai cũng biết cách thực hiện giai đoạn đó. v ề lí thuyết, độ xa của lần nhảy được tính theo công thức như đã nêu ở phần 1.2.2 cho ta thấy : Thành tích nhảy xa cao nhất đòi hỏi tốc độ bay phải lớn và góc bay đạt 45°. Tuy nhiên trong thực tế, góc độ bay chỉ đạt 18 - 25°. Ngay cả các YĐY cũng không thể vượt quá được ngưỡng này. Chúng ta có thể giải thích điều này bởi trong thực tế độ xa khi nhảy của một người không thể giống như bắn đi một viên đạn, vì trọng tâm cơ thể người khi chạy đà và giậm nhảy không ở trên một mặt phẳng mà có xu hướng thấp dần, tạo ra góc chênh lệch là người ta gọi là góc địa hình và chính yếu tố này làm cho góc độ bay không đạt được góc lí tưởng là 45°. Chính vì vậy mà việc phát triển sức manh trong nhảy xa là hết sức cần thiết nhằm tăng độ xa tạo ra và tốc độ bay ban đầu lớn, góc bay hợp lí để nâng cao thành tích nhảy xa. 1.3. Phương pháp phát triển sức mạnh Để phát triển sức manh, quá trình tập luyện phải giải quyết những nhiệm vụ sau: Tăng cường số lượng đơn vị vận động tham gia vào quá trình hoạt động đặc biệt là đơn vị vận động nhanh (sợi cơ nhanh). 10 Để đạt điều đó cần phải luyện tập những bài tập độ dài cơ khác nhau sao cho tất cả sợi cơ trong bó cơ đều tham gia vào hoạt động nhằm đạt đến ngưỡng lực căng cơ lớn nhất. Các hoạt động động lực và hoạt động tĩnh cùng phát triển để đạt được sức mạnh. Một số tác giả khác thì cho rằng, cho các cơ luyện tập theo chế độ co cơ đẳng trường (tĩnh lực) với lực căng cơ tối đa cũng làm cho sức mạnh của cơ tăng lên. Vì vậy muốn phát triển sức manh nên phối hợp luyện tập cả chế độ co cơ đẳng trương và co cơ đẳng trường. Tuy nhiên việc sử dụng tĩnh lực để phát triển sức mạnh có một số nhược điểm sau: - Giảm khả năng thả lỏng cơ - ức chế hoạt động của cơ đối kháng - Giảm tốc độ căng cơ Trong các động tác có tốc độ đều và không mang vật nặng thì sức manh là kết quả của sự căng cơ chủ vận và cơ đối kháng. Trong hoạt động động tác có mang vật nặng hoặc giật cục thì sự căng cơ đối kháng giảm. Vì vậy, để phát triển sức manh tối đa trong huấn luyện cần phải hình thành phản xạ có điều kiện phối hợp hoạt động các trung tâm thần kinh để các cơ chủ vận có thể co trong khi cơ đối kháng bị ức chế. Ngoài ra hệ thống thần kinh trung ương còn có những xung động đến các cơ và cơ quan dinh dưỡng thông qua hệ thần kinh giao cảm để làm tăng khả năng hoạt động của cơ tim và cả cơ vân. Khi vận động hệ thần kinh giao cảm hưng phấn. Vì vậy chúng làm tăng lính linh hoạt của các cơ và trung tâm thần kinh, sự cung cấp máu cho các cơ nhiều hơn, các hoocmon được bài tiết ra nhiều để đi tới các cơ quan mà chúng chi phối, cụ thể: Tuyến thượng thận tăng tiết adrenalin làm cho hệ tim mạch hoạt động mạnh lên để đáp ứng nhu cầu ôxy cho cơ bắp hoạt động. * Những bài tập phát triển sức manh: -Các bài tập có trọng lượng phụ với trọng lượng khác nhau. 11 -Bài tập có sức cản của người cùng tập đối kháng cá nhân - Bài tập khắc phục trọng lượng bản thân. - Bài tập mô phỏng động tác 1.4. Đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi THPT 1.4.1 Đặc điểm tâm lý Về tâm lý các em tỏ ra mình là người lớn. Ở lứa tuổi này các em tự ý thức, hình thành tính cách và hướng vào tương lai, đó cũng là tuổi lãng mạn ước mơ độc đáo và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Độ tuổi nhu cầu đầy sáng tạo, khát vọng khám phá bí ẩn của cuộc sống và tò mò trong những hành vi của mình. Tuy vậy các em chưa đinh hướng rõ nên mọi đinh hướng vẫn còn miên man chưa có hiệu quả. - Hứng thú: Các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tập xuất phát từ động cơ đúng đắn và hướng tói việc chọn nghề sau này khi đã học xong THPT. Song hứng thú học tập vãn còn nhiều động cơ khác như: Đôi khi do tự ái, hiếu danh....nên hứng thú các em còn nhất thời. Các em tỏ ra mình là trưởng thành nên thường hay bắt trước hành vi của người lớn. Chính điều này thúc đẩy các em hứng thú khám phá và tìm hiểu xung quanh. - Tình cảm: Giáo viên gây được thiện cảm và sự tôn trọng của học sinh đó là một trong những bước thành công. Điều đó giúp giáo viên thuận lợi trong quá trình giảng dạy thúc đẩy các em tích cực, tự giác trong tập luyện và ham thích môn thể thao. Do vậy giáo viên phải là ngưòi mẫu mực, công bằng, biết động viên kịp thời và quan tâm đúng mực vói học sinh gần gũi thân mật với các em nắm được đặc điểm tính cách mỗi học sinh. Học sinh nam không giống như nữ phải khích lệ các em nhiều hơn là dùng hình phạt cứng rắn. Giáo viên biết quan hệ với học sinh một cách có phương pháp sư phạm và tế nhị. Hiểu biết quan hệ sư phạm cô trò sẽ tránh khỏi được những biểu hiện hành vi quan hệ không tôn trọng học sinh kém hoặc thiếu yếu tố tổ chức kỷ luật trong giờ học TDTT, đặc biệt những học sinh cá biệt. 12 - Trí nhớ: Ở lứa tuổi này hầu như không tồn tại việc ghi nhớ một cách máy móc. Các em đã biết hệ thống, đảm bảo tính lôgic, tư duy, lập dàn bài xác định được ý chính. Nhớ rất lâu những gì mà em thích học và vấn đề chúng quan tâm. - Về nhận thức: Nhận thức các em lứa tuổi này được nâng cao, các em biết tiếp thu cái hay cái đẹp môi trường xung quanh nhưng chưa thật sự sâu sắc. Ở độ tuổi này xuất hiện tình cảm lứa đôi trong sáng hồn nhiên nhưng chỉ cảm tính. Các em đã biết nhận thức tất cả mọi thứ nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Giáo viên phải biết lôi cuốn sự chú ý của học sinh vào việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng động tác, cũng như thu hút lòng tha thiết, quyết tâm học tập môn thể dục. Ở lứa tuổi này đặc biệt học sinh nam nhận thức rất nhanh, nắm bắt kỹ thuật khái quát rất tốt. Các đặc điểm tâm lý ảnh hưởng rất nhiều trong quá trình học tập cũng như việc nâng cao thành tích các môn thể thao đặc biệt trong đó có nhảy xa cho học sinh khối 11 THPT. 1.4.2. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi THPT 1.4.2.1 Đặc điểm sinh lý chung Lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận cơ thể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ chậm dần. Chức năng sinh lý đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các hệ thống, cơ quan của cơ thể cũng được nâng cao hơn. Ở lứa tuổi này cơ thể các em đang chuyển dần từ phát triển theo chiều ngang nhiều hơn, chiều cao vãn phát triển nhưng chậm. Vì vậy các giáo viên, HLV cần căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và giới tính để đưa ra những bài tập có cường độ, khối lượng sao cho đảm bảo tính hợp lý, tạo sự phát triển một cách toàn diện. 1.4.2.2. Hệ thần kinh Hệ thần kinh tiếp tục phát triển đi tới hoàn thiện. Khả năng tư duy, phân tích, tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển tạo thuận lợi việc hình 13 thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện. Đây là đặc điểm thuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kĩ thuật động tác. Tuy nhiên đối với một số bài tập mang tính đơn điệu không hấp dẫn cũng làm cho các em nhanh chóng mệt mỏi. Cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện một cách phong phú, đặc biệt tăng cường các hình thức thi đấu ừò chơi để gây hứng thú và tạo điều kiện hoàn thành tốt các bài tập chính. Ngoài ra do sự vận động mạnh của tuyến giáp, tuyến yên, tuyến sinh dục làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng đã ảnh hưởng phát triển thể lực. 1.4.2.3. Hệ vận động Hệ xương đã bắt đầu giảm tốc độ phát triển mỗi năm nam cao thêm 13cm. Tập luyện TDTT thường xuyên liên tục làm bộ xương khỏe manh hơn. Các xương hầu như đã hoàn thiện nên các em có thể mang vác chèo chống vật nặng mà không làm tổn hại, phát triển lệch lạc của cơ thể . Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ co vẫn còn tương đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển tương đối nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay) còn các cơ nhỏ (cơ bàn tay, ngón tay) chậm hơn. Các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi. Nam ở thời kì 14-16 cơ bắp phát triển nhanh nhất 17 18 tuổi hoàn thiện dần dần. 1.4.2.4. Hệ tuần hoàn Hệ tuần hoàn đang phát triển và đi đến hoàn thiện. Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh, phản ứng hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt. Cho nên lứa tuổi này có thể tập những bài tập dai sức, bài tập có khối lượng cường độ vận động lớn. Nhưng phải thường xuyên kiểm tra tình hình sức khỏe của các em. 1.4.2.5. Hệ hô hấp Đã phát triển tương đối ổn đinh vòng ngực trung bình của nam 67 73cm. Diện tích tiếp xúc của phổi 100 - 200cm. Tẩn số hô hấp 1 0 - 2 0 lần/phút. Trong tập luyện cần thở sâu, chú ý thở bằng ngực. 14 I.4.2.6. Hệ bài tiết Hoạt động có hiệu quả đặc biệt là bài tiết qua da. Do vậy hổi phục sau vận động diễn ra nhanh, sự trao đổi chất và năng lượng tương đối hoàn thiện. Tóm lại: Sức manh không thể thiếu trong nhảy xa. Muốn nâng cao thành tích phải huấn luyện sức mạnh. Cần lựa chọn bài tập phát triển sức manh nâng cao thành tích cho học sinh nam khối 11 THPT Cừ - Hà Nội. 15 CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN c ứ u 2.1. Nhiệm yụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài giải quyết 2 nhiệm vụ như sau: Nhiệm yụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy môn GDTC nói chung và việc giảng dạy môn nhảy xa nói riêng trong đó có việc phát triển sức manh trong giai đoạn giậm nhảy của nhảy xa cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. Nhiệm yụ 2: Lựa chọn và ứng dụng một số bài tập phát triển sức manh nhằm nâng cao thành tích nhảy xa cho học sinh nam khối 11 THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. 2.2. Phương pháp nghiên cứu Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tôi xác đinh các phương pháp nghiên cứu sau: 2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu Đọc sách và tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài nghiên cứu là một mặt không thể thiếu. Thông qua tài liệu tham khảo xác đinh các vấn đề liên quan đến đề tài để hình thành cơ sở lý luận và bài tập phát triển sức manh trong giai đoạn giậm nhảy cho học sinh nam khối 11 THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. 2.2.2. Phương pháp phỏng vấn. Đây là phương pháp sử dụng thông tin qua việc phỏng vấn giáo viên, huấn luận viên và các em học sinh nhằm điều tra thực trạng và thu thập số liệu cần thiết. Đánh giá các bài tập phát triển sức manh trong giai đoạn giậm nhảy cho học sinh nam khối 11 THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. 16 2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm Nhằm mục đích thu thập được thông tin cần thiết về bài tập phát triển sức mạnh trong giai đoạn giậm nhảy trong nhảy xa. Chúng tôi tiến hành quan sát một số giờ tập luyện nhảy xa của học sinh. Qua đó lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh phù hợp với đặc điểm đối tượng tập luyện. 2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm Kiểm tra trước thực nghiệm để đánh giá thực trạng việc giảng dạy môn nhảy xa nói chung và khả năng phát triển sức mạnh của học sinh nói riêng. Kiểm tra sau thực nghiệm để đánh giá hiệu quả của các bài tập được lựa chọn và phương pháp ứng dụng bài tập đó. 2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Phương pháp này để đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức mạnh trong giai đoạn giậm nhảy nhằm nâng cao thành tích nhảy xa cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm 70 học sinh nam trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. Trong quá trình thực nghiệm học sinh được chia làm 2 nhóm: Nhóm A: Nhóm thực nghiệm gồm 35 em tập luyện theo bài tập và phương pháp mà chúng tôi đưa ra. Nhóm B: Nhóm đối chứng gồm 35 em tập luyện theo bài tập và phương pháp mà giáo viên trường đưa ra. Thực nghiệm sư phạm được tiến hành theo phương pháp so sánh thành tích cho cả 2 nhóm. 2.2.6. Phương pháp toán học thống kê Sau khi thu thập số liệu chúng tôi đã sử dụng phương pháp toán học thống kê để sử lí số liệu nghiên cứu : Èx, - Số trung bình cộng : X= i=l 17 Trong đó : X :SỐ trung bình ỵ : Là giá trịtừng cá thể n : Số lượng 2 : Dấu hiệu tổng n - Phương sai (n <30) ô 2=— - Độ lệch chuẩn (5): ô = yl& - So sánh 2 số trung bình quan sát (t): t= Trong đó: ỵ ỵ Xẩ ~ Xb ( n>30) : Là số trung bình của nhóm A : Là số trung bình của nhóm B : Phương sai Ỵị : Kích thước tập hợp mẫu nhóm A Yl : Kích thước tập hợp mẫu nhúm 18 2.3. Tổ chức nghiên cứu 2.3.1. Thời gian nghiên cứu Giai đoạn Nội Dung Thời gian Bắt đầu Kết thúc - Đề cương - Xác đinh tên đề tài 1 - Xây dựng đề cương Sản phẩm thu được 11/ 2010 1/2011 nghiên cứu - Bảo vệ đề cương khoa học - Thu thập tài liệu có liên - Thông tin số quan, viết tổng quan của liệu về học sinh đề tài nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ , Hà Nội - Hoàn thành tổng quan đề - Tổng quan đề tài tài. - Điều tra đánh giá tố chất 1/2011 2 4/2011 - Thực trạng sức mạnh trong giai đoạn sức manh trong giậm nhảy nhằm nâng cao giai đoạn giậm thành tích nhảy xa cho học nhảy nhằm sinh nam khối 11 trường nâng cao thành THPT Nguyễn Văn Cừ - tích nhảy xa Hà Nội cho học sinh nam khối 11 THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội - Lựa chọn hệ thống bài - Hệ thống bài 19 tập tập - ứng dụng và đánh giá hệ - Kết quả của thống bài tập. hệ thống các bài tập 3 - Hoàn thiện khóa luận và bảo vệ khóa luận - Hoàn thành 4/2011 5/2011 khóa luận 2.3.2. Địa điểm nghiên cứu - Trường ĐHSP HN2 - Xuân Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc. - Trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. 2.3.3. Đối tượng nghiên cứu. Bài tập phát triển sức mạnh nhằm nâng cao thành tích nhảy xa cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. 20 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy môn GDTC nói chung và việc giảng dạy môn nhảy xa nói riêng trong đó có việc phát triển sức mạnh trong giai đoạn giậm nhảy của nhảy xa cho học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội. 3.1.1. Thực trạng giảng dạy và tập luyện môn nhảy xa của học sinh nam khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ. 3.1.1.1. Thực trạng giảng dạy và tập luyện trong các giờ học chính khóa. Tiến hành nghiên cứu và trực tiếp phỏng vấn các giáo viên đang giảng dạy tại trường thấy rằng: môn thể dục được giảng 2 tiết/ 1 tuần / 1 lớp. Theo phân phối chương trình mỗi tiết 45 phút sẽ giảng 3 nội dung. Như vậy, chỉ tính riêng việc nắm vững kỹ thuật chưa đủ chứ chưa nói đến việc phát triển thể lực. Môn nhảy xa cũng vậy, theo phân phối chương ữình cứ 14 tiết/ 1 năm/ 1 khối lớp, trong đó phải dành 1 tiết cho kiểm tra, 13 tiết cho tập kỹ thuật và phát triển thể lực. Qua tìm hiểu về công tác GDTC đang thực hiện tại trường cho thấy rằng, môn nhảy xa được giảng dạy trong 20 giáo án và được gộp cùng với 2 nội dung khác trong 1 tiết. Do vậy, trong các giờ học chính khoá, công tác huấn luyện thể lực nói chung và kỹ thuật nhảy xa nói riêng cho học sinh là không thể đạt được mục tiêu đề ra. 3.1.1.2. Thực trạng giảng dạy và tập luyện các giờ ngoại khoá. Thời gian ngoại khoá không bắt buộc và phụ thuộc chủ yếu vào tính tự giác, tích cực của học sinh. Qua quan sát và phỏng vấn các em học sinh trong trường thấy rằng, việc tập luyện ngoại khóa hầu hết các em chưa quan tâm mà chủ yếu dành cho thời gian học các môn khác mà các em cho là quan trọng.
- Xem thêm -