Lịch sử hệ thống ngân hàng thế giới

  • Số trang: 25 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 26 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

BÀI TIỂU LUẬN : LỊCH SỬ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THẾ GIỚI Ngân hàng được hình thành và phát triển trong một quá trình lâu dài, trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội của lịch sử. Trong mỗi giai đoạn, hệ thống ngân hàng lại có những chuyển biến trong hình thái và hoạt động, đưa đến hình thái cuối cùng ngày nay được định nghĩa như sau: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác (Luật các tổ chức tín dụng). Danh từ “Ngân hàng” xuất phát từ chữ La Tinh là “Bancus”. “Bancus” là một chiếc bàn dài có nhiều hộc được những người nhận tiền gửi và cho vay tiền, tài sản thời đó sử dụng để ngồi làm việc, giao dịch, cất giữ tiền, tài sản và sổ sách. Ở đế quốc La Mã các hoạt động mua bán, trao đổi, cho vay tiền được tiến hành trên những chiếc ghế dài gọi là “banca”. Trước công nguyên, hoạt động này đã được một số người gọi là hình thức “Ngân hàng”. A.LỊCH SỬ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THẾ GIỚI: I. Thời kỳ tiền sử và thượng cổ: Từ 3500 trước Công nguyên (TCN) trở về trước, có rất ít tư liệu về hoạt động mà ngày nay ta gọi là “hoạt động ngân hàng”. Trong giai đoạn khi mà các định chế nhà nước, pháp luật, tổ chức xã hội và kỷ cương đều chưa rõ ràng, đời sống và tinh thần con người còn khá thuần phát, các cộng đồng người sống Địa Trung Hải, ven các con sông lớn ở Châu Âu, Á và Bắc Phi tồn tại và sinh hoạt chủ yếu thông qua trao đổi Barter, tức trao đổi trực tiếp hàng-hàng, hầu như chưa có quan hệ buôn bán, sự chuyên môn hóa hay phân chia giai cấp trong cộng đồng chưa rõ rệt. Đến khoảng 3500 TCN đã có một vài cộng đồng sử dụng các loại phương tiện trung gian trao đổi tuy mức độ phổ biến chưa rộng. Từ thời gian này cho đến 1800 TCN nghĩa là trước cuộc chiến thành Troy (1500-1000 TCN), tư liệu đã cho biết có một vài hoạt động mang tính chất khá tương tự như một sô hoạt động của ngân hàng. Lịch sử gọi đây là giai đoạn của các ngân hàng sơ khai. Các ngân hàng này ra đời khi các tổ chức xã hội bắt đầu hình thành. Ngân hàng vào thời kỳ này chưa có tên. Vào thời điểm mà cương vực của các công đồng chưa được phân định, chiến tranh và cướp bóc giữa các quần cư với nhau xảy ra ở khắp nơi. Những gia đình có của cải vật sản thừa từ quá trình sản xuất và trao đổi trở thành mục tiêu của cướp chỉ tìm thấy sự an tâm cho các tài sản khi đem gửi nó vào nhà thờ, cho các nhà quyền quý và các thợ vàng. Một cách tự phát, một số nhà thờ, người có quyền thế và các thợ vàng trở thành nơi cất giữ của cải và tài sản cho công chúng, được công chúng ký gửi tài sản của mình mà không sợ bị mất. Các hoạt động “ngân hàng sơ khai” ấy được thực hiện tại các nhà thờ vì 3 lý do: +Nhà thờ là nơi an toàn, có hầm có tủ sắt khó bị trộm cướp; +Nhà thờ là nơi thiêng liêng, được nhân dân kiêng nể không dám xâm phạm; +Nhà thờ là trung tâm khu vực thương mại của thành phố. Hình thức hoạt động các “ngân hàng sơ khai” như sau: Công chúng gửi tài sản vào đầu kỳ, lúc đó nhà thờ, các nhà quyền quý và thợ vàng nhận lấy, vào sổ, xuất biên nhận và chỉ việc cất thật kỹ cho đến cuối kỳ. Đến ngày hẹn hoặc khi cần đột xuất, chủ nhân đến nhận tài sản trả biên nhận cho nhà thờ kèm theo khoản tiền thù lao tiền công cất trữ và bảo quản. Việc ghi sổ được thực hiện với bảng kế toán đơn giản: Tài sản nợ Tài sản có Của cải sản vật do công chúng gửi 1000 Dự trữ cho đến hết cuối kỳ 1000 Tổng nợ 1000 Tổng có 1000 Tại Ai Cập và Mesopotamia, vàng được gửi vào các đền thờ. Nhưng những tài sản quý giá này lại ngủ yên trong đó, trong khi, ở bên ngoài xã hội, các nhóm thương nhân và hoàng tộc lại rất cần sử dụng chúng. Các nhà khảo cổ học tìm được những tàng tích cho thấy tới đầu thế kỷ 18 trước công nguyên, tại Babylon, dưới thời trị vì của Hammurabi, thầy tu trông giữ đền thờ bắt đầu cho các nhà buôn mượn tài sản cất trữ trong đền. Khái niệm ngân hàng ra đời Dọc theo thời gian, tổ chức xã hội phát triển, phân công lao động, chuyên môn hóa bắt đầu ở một vài cộng đồng ven Địa Trung Hải. Các loại phương tiện trao đổi trung gian ra đời. Đã có một số vùng có tiền tệ bằng vàng bạc, đồng. Như vậy thương mại đã được mở rộng giữa một vài cộng đồng. Tiền tệ ra đời, thương mại phát triển là cơ sở hình thành nghề kinh doanh tiền tệ - tiền thân của nghề ngân hàng. Nghề kinh doanh tiền tệ ra đời từ sự phát triển quan hệ thương mại giữa các vùng lãnh địa, giữa các quốc gia. Trong khi đó, từng lãnh địa, từng quốc gia lại lưu hành một đồng tiền riêng đã gây trở ngại cho việc buôn bán thanh toán và rất phức tạp trong việc chuyển đổi bảo quản tiền tệ. Quá trình đó đã thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức kinh doanh tiền tệ để đảm nhận chức năng riêng biệt cho lưu thông tiền tệ như: đổi tiền vùng này ra vùng khác, nước này ra nước khác, đổi tiền lấy vàng, bạc và ngược lại, nhận bảo quản vàng bạc, giữ hộ tiền, nhận tiền gửi. Theo đà phát triển của trao đổi hàng - tiền, các đơn vị sản xuất kinh doanh tích lũy ngày càng lớn số lượng tiền kim loại. Từ đó phát sinh nhu cầu giữ tiền được an toàn. Những nhu cầu này dẫn đến dịch vụ giữ và bảo đảm an toàn cho tài sản của những người có tiền vàng. Nghề ngân hàng ra đời từ dịch vụ giữ tiền cho khách hàng. Có 3 phát kiến quan trọng đã biến những tiệm cầm đồ, những người giữ tiền, bảo quản quý kim trở thành các “ngân hàng sơ khai” : 1. Dân chúng đem tiền hoặc quý kim gửi ở “tiệm cầm đồ”, ”tiệm vàng”, những nơi này cấp cho họ giấy chứng nhận tài sản, đại diện cho lượng tiền hoặc quý kim mà nơi này giữ hộ, bảo quản. Những người ký gửi bắt đầu dùng chứng thư như phương tiện thanh toán trong giao dich trao đổi. Chứng thự này đầu tiên được chấp nhận dè dặt. Nhưng dần dần nó được chứng nhận rộng rãi hơn vì người nhận thanh toán thấy rằng họ hoàn toàn có thể đến “ngân hàng” để đổi lại tiền. Hơn nữa cất giữ tài khoản và bảo quản chứng thư hoặc mang theo người vừa nhẹ nhàng, dễ dàng an toàn hơn các loại tiền hoặc tài sản khác, tạo điều kiện cho các “ngân hàng sơ khai” phát hành rộng rãi chứng thư làm phương tiện thanh toán. Ngân hàng phát triển thêm chức năng thanh toán giữa các ngân hàng thông qua chứng thư gửi vàng trong các tài khoản ngân hàng. Các thân chủ của ngân hàng dùng các chứng thự này mua bán chuyển nhượng ,trao đổi thay cho tiền. Càng về sau các chứng thư này tách rời từng bước các tài sản mà khách hàng gửi ở các “ngân hàng sơ khai”. Nghiệp vụ này đã làm cho các ngân hàng có khoản dự trữ tăng lên rất phong phú, tạo điều kiện ban đầu để phát triển các nghiệp vụ cho vay. 2. Lúc đầu người chủ bảo quản phải đảm bảo trả lại chính những đồng tiền vàng mà họ được chuyển giao để bảo quản. Dần dần xã hội phát triển, người gửi tiền chỉ yêu cầu trả lại tổng số tiền mà họ đã gửi. Chỉ khi đó mới xuất hiện khả năng sử dụng số tiền khách hàng gửi để cho vay thu lợi tức. 3. Ngân hàng bắt đầu thực hiện các hoạt động cho vay các khoản tiền gửi của công chúng. Các ngân hàng nhanh chóng nhận thấy rằng trong mỗi đơn vị thời gian có người đến rút tiền trả lại chứng thư nhưng đồng thời cũng có rất nhiều người mới đến gửi tiền vào. Sự chênh lệch giữa tổng khoản gửi và tổng khoản rút thường không lớn và về dài hạn các khoản rút ra và gửi vào thường triệt tiêu nhau. Do vậy tiền được cất giữ trong kho hầu như không thay đổi,trong khi đó có nhiều người rất cần vay tiền để kinh doanh. Nhận thấy điều đó, các “chủ ngân hàng sơ khai” bắt đầu dùng tiền của công chúng gửi để cho vay. Các hoạt động ngân hàng nói trên được tiếp tục qua nhiều thế kỷ tại các nước ven biển Địa Trung Hải. Tại Hy Lạp, La Mã và tại các đô thị lớn trên con đường tơ lụa nối liền Trung Đông và Trung Hoa…. Hy Lạp Người Hy Lạp cổ đại nắm giữ những bằng chứng xa xưa nhất về hoạt động ngân hàng. Đến thời kỳ nền văn minh Hy Lạp vào TK 6 TCN, hoạt động ngân hàng không còn hạn hẹp trong phạm vi các đền thờ mà đã được mở rộng: bên cạnh nhà thờ còn có tư nhân và khu vực công. Hoạt động ngân hàng của khu vực công lúc đó giống như hoạt động của kho bạc nhà nước là thu nhận tài nguyên của công quỹ và chi trả thay cho nhà nước. Các ngân hàng của người Hy Lạp vận hành đa dạng và phức tạp hơn bất kỳ xã hội nào trước đó. Các đền thờ Hy Lạp cũng như các cá nhân và tổ chức hành chính tại các thành đô đã biết tới những giao dịch tài chính như cho vay, gửi tài sản, trao đổi tiền tệ, và định giá tiền đúc thông qua xác định khối lượng và mức độ thuần khiết của kim loại. Thậm chí, người Hy Lạp đã sử dụng các giao dịch tín dụng ghi sổ. Tại các hải cảng, nơi tập trung nhiều hoạt động giao thương, người cho mượn tiền viết giấy tín dụng cho người cần sử dụng tiền. Người cầm giấy này có thể "đổi'' lại thành tiền khi đến thành phố khác. Nhờ vậy mà người ta tránh được việc phải mang theo một lượng tiền lớn trong các chuyến buôn bán giữa các thành bang Pythius nổi tiếng là người lập ra và điều hành ngân hàng thương nhân (merchant bank) khắp vùng Tiểu Á đầu thế kỷ thứ 5 trước công nguyên. Nhân vật này được các nhà sử coi là nhà ngân hàng tư nhân đầu tiên. Một điểm đáng chú ý là tại các thành bang Hy Lạp, rất đông chủ ngân hàng là người lai hoặc người nước ngoài. Vào khoảng năm 371 trước công nguyên, Pasion, một nô lệ, đã trở thành nhà ngân hàng Hy Lạp giàu có và nổi tiếng nhất, đã được tự do và được công nhận tư cách công dân của Athena. Địa Trung Hải Hoạt động tín dụng ngân hàng phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ thứ 4 TCN ở vùng Địa Trung Hải. Tại Ai Cập, từ rất sớm, ngũ cốc đã được sử dụng như một loại tiền tệ bên cạnh kim loại quý (vàng và bạc). Các kho chứa ngũ cốc của triều đình thực hiện chức năng của ngân hàng. Khi đế chế Hy Lạp chinh phục Ai Cập, thời kỳ trị vì của hoàng gia Ptolemies (330323 B.C.), những kho chứa nằm rải rác được tổ chức lại thành một hệ thống ngân hàng ngũ cốc, và được quản lý tập trung tại Alexandria - nơi ghi chép và lưu trữ tài khoản của các tất cả các ngân hàng ngũ cốc. Mạng lưới ngân hàng này hoạt động như hệ thống tín dụng thương mại, trong đó, việc thanh toán được thực hiện bằng ghi sổ từ tài khoản này sang tài khoản khác mà không cần chuyển tiền trên thực tế. Đây chính là bản chất và hình thức đầu rõ ràng nhất của các nghiệp vụ bù trừ hay thanh toán điện tử của các ngân hàng hiện đại. Cuối thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, đảo Delos ở vùng đất Aegean cằn cỗi, trở thành trung tâm ngân hàng quan trọng của vùng Địa Trung Hải. Nơi đây cũng nổi tiếng với hải cảng sầm uất và đền thờ thần Apollo tráng lệ. Cũng giống như tại Ai Cập, giao dịch bằng tiền được thay thế bởi các hóa đơn tín dụng và việc thanh toán được thực hiện dựa trên những chỉ dẫn đơn giản với các tài khoản giữ riêng cho mỗi khách hàng. La Mã Sau khi người La Mã chinh phạt các đối thủ cạnh tranh là Carthage và Corinth, Delos càng trở nên quan trọng. Hệ thống ngân hàng của Delos gần như được các ngân hàng ở Rome sao chép lại. Dưới thời đế quốc La Mã (TK 5 TCN-TK 5 SCN) hoạt động ngân hàng có những bước tiến về mặt ngân hàng so với thời trước: - Các ngân hàng áp dụng phương pháp bù trừ (compentation) : chỉ có những chủ nợ cùng một loại tiền hay tài sản thì được phép thanh toán chuyển nhượng lẫn nhau trong mua bán ở cùng một ngân hàng giữa họ và kể cả với các đối tác tại các ngân hàng khác. Nợ đáo hạn được bù trừ, kết số dư là nợ thu hồi. - Ngân hàng áp dụng việc ghi sổ sách và tài khoản, như sổ quỹ ghi nhận thu chi. Sổ sách kế toán được thông tư cho tòa án để làm bằng chứng trong các cuộc tố tụng. - Trong việc chuyển đổi tiền ngân hàng đã áp dụng việc chuyển ngân, tức là chuyển tiền từ nơi này đi nơi khác và người ta đã biết lấy tiền ở một nơi xa nơi ký thác bằng cách xuất trình các hối phiếu (chuyển ngân). -Ngân hàng làm nghiệp vụ bảo lãnh là biểu hiện ban đầu của hình thức thuận nhận (acceptation) trong nghiệp vụ ngân hàng hiện nay (bảo lãnh). II. Thời kỳ trung cổ (thế kỷ V-XV SCN): Từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 10 SCN, khi đế chế La Mã suy vong, các hoạt động thương mại, kinh tế xã hội, nền kinh tế giảm đáng kể nên các ngân hàng cũng không còn cần thiết. Nền kinh tế đóng khung ở nông thôn, thuần túy là kinh tế nông nghiệp, khép kín tự cung tự cấp. Thêm vào đó, giáo lý Cơ đốc cổ ngăn cấm thực hiện các giao dịch khi La Mã sụp đổ, hoạt động ngân hàng bị cấm tại Tây Âu và chỉ được phục hồi trở lại vào thời điểm các cuộc thập tự chinh xuất hiện. Đến thế kỷ thứ 10, tình hình chung bắt đầu sáng sủa. Đời sống đô thị khởi sắc, thương do là nhà thờ cấm cho vay lấy lời. Ảnh hưởng của nhà thờ thời kỳ này quá lớn gây khó khăn, gây trở ngại cho hoạt động cung cấp tín dụng. Trong quan điểm của giáo hội La Mã, cho vay lấy lãi là hình thức ăn cướp và bóc lột. Xuất phát từ cách nghĩ rằng mọi hình thức sản xuất chân chính phải là quá trình sáng tạo ra nhũng vật phẩm có thật, thấy được, sờ được và cần thiết cho cuộc sống con người. Người cho vay với việc xuất ra một khoản tài sản, tiền A để rồi sau một thời gian nhất định lấy về một số lượng khác là A’=A+a. Các giáo sĩ gọi a, phần phát sinh thêm mà sau này chúng ta gọi là tiền lãi, là khoản ăn cướp, bởi vì phần tài sản thực chỉ là A mà thôi. Với cách nghĩ như vậy, giáo hội La Mã cho rằng các ngân hàng không sáng tạo được gì cho xã hội, không sản xuất ra bất kỳ tài sản nào có lợi mà chỉ tìm cách bóc lột của cải của những người tạo ra nó như: nông dân, người dệt vải, thợ thuyền. Tuy vậy, hoạt động ngân hàng vẫn lén lút được tiến hành khi mà trong nền kinh tế, nhu cầu tiền để kinh doanh vì thiếu vốn của các thương gia, các nhà sản xuất càng ngày càng lớn và nhu cầu muốn sinh thêm lợi tức bằng hình thức cho vay lấy lãi và nhất là cho vay nặng lãi của nhiều bộ phận có tiền hoặc tài sản thừa vẫn còn tồn tại. Theo Do Thái giáo, người Do Thái không được tính lãi trong các khoản vay với người Do Thái. Lãi suất chỉ được áp dụng trong giao dịch với những kẻ vô thần hoặc không thuộc Do Thái giáo. Phần lớn các tôn giáo có nguồn gốc tại vùng Cận Đông không cản trở hành vi cho vay động vật. Tại các vùng châu thổ lưỡng hà (Mesopotamia), vùng đất khởi thủy của đạo Do Thái Hitties, vùng Canaan và Ai Cập, việc tính lãi vay được coi là hợp pháp và triều đình thường đặt ra một mức lãi suất cố định. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thương mại dẫn đến sự thành lập 2 trung tâm tài chính ở Italia và Tây Ban Nha Vài nét về hoạt động ngân hàng ở Italia: Trong suốt thế kỷ 13, các nhà ngân hàng ở bắc Italy, được biết tới tên gọi chung ''những người Lombards''. Lombard, tiếng Latinh viết là Langobardi, còn được gọi biết tới với tên Langobards hay Longobards, là nhóm người có nguồn gốc chủng tộc German, đến từ phía bắc châu Âu và định cư tại vùng lưu vực sông Danube. Họ dần thay thế vai trò của người Do Thái trong hoạt động truyền thống: cung cấp tiền bạc cho những người giàu có và quyền lực, các hoàng gia châu Âu. Kỹ năng kinh doanh của ngân hàng được phát triển với phát kiến : + Nghiệp vụ ghi sổ kép + Cách thức bù trừ nghĩa vụ tín dụng của khách hàng trên ghi chép sổ sách giữa các ngân hàng trong hệ thống, vốn được các ngân hàng ở Genoa áp dụng từ thế kỷ 12. Cách thức kế toán sáng tạo này giúp họ tránh được “tội lỗi” cho vay nặng lãi được qui định trong giáo lý Cơ đốc. Lợi nhuận của khoản vay được ghi trong các tài khoản dưới dạng quà tặng tự nguyện của người vay hoặc phần thưởng cho những rủi ro mà nhà ngân hàng đã trải qua. Hẳn nhiên, những món quà và phần thưởng của các hoàng tộc đứng đầu châu Âu không bao giờ có giá trị nhỏ. Hệ thống ngân hàng Florence thống lĩnh hệ thống tài chính quốc tế nhờ đồng tiền vàng florin nổi tiếng. Được đúc lần đầu tiên vào năm 1252, đồng florin nhanh chóng nhận được sự tín nhiệm và công nhận rộng rãi, thực sự trở thành đồng tiền mạnh (hard currency) vào thời đó. Các chủ ngân hàng thời này ở Florence đã bắt đầu áp dụng nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu.Có hai hình thức chiết khấu: - Thương nhân mang toàn bộ chứng từ hàng hóa và chứng tứ gửi hàng-thương phiếu ngày nay- đến ngân hàng đề nghị thế chấp để vay.Khi có tiền thương nhân đem tiền vay và lãi đến trả cho ngân hàng,nhận thương phiếu về và đem hàng hóa ra bán - Thương nhân có thể mang thương phiếu đến ,gần như bán hẳn cho ngân hàng với giá trị thấp hơn giá trị thực tế của lô hàng để ngân hàng có lãi.Nếu chấp nhận ngân hàng sẽ xuất tiền cho thương nhân và sở hửu thương phiếu Ngân hàng không giữ thương phiếu ấy lâu,trong vòng 2,3 ngày thì bán nó đi.Một thương phiếu vì thế được mua bán qua tay rất nhiều người.Toàn bộ quá trình đó gọi là chiết khấu thương phiếu. Tới đầu thế kỷ 14, hai dòng họ Bardi và Peruzzi là những người giàu có nhất tại Florence nhờ vào việc cung cấp các dịch vụ tài chính. Họ tổ chức việc thu và chuyển tiền dựa trên các hệ thống phong kiến quyền lực nhất, đặc biệt là nhờ Đức Giáo hoàng. Hoạt động buôn bán và trao đổi hàng hóa trở nên thuận tiện với những hóa đơn trao đổi (bill of exchange) mà nhà Bardi và Peruzzi cấp cho các thương nhân. Khi xuất trình những hóa đơn này, thương nhân có thể nhận được tiền ở bất kỳ ngân hàng trong hệ thống (Đây là hình thức tương đồng với việc sử dụng cheque ngày nay). Các ngân hàng xứ Florence đảm bảo dịch vụ này nhờ số lượng đầu thế kỷ 14, hệ thống ngân hàng Bardi đã hiện diện tại Barcelona, Seville và Majorca; Paris, Avignon, Nice và Marseilles; London, Bruges, Constantinople, Rhodes, Cyprus và Jerusalem. Quyền lực của xứ Florence còn được củng cố bởi những khoản nợ lớn mà các chủ ngân hàng ở đây đang nắm giữ. Con nợ, không ai xa lạ, chính là các vị Hoàng đế uy quyền bậc nhất châu Âu. Cũng chính vì lẽ đó, không lâu sau, các ngân hàng này rơi vào cảnh tồi tệ. Năm 1340, vua Edward III của nước Anh thực hiện thương vụ cực kỳ tốn kém: cuộc chiến với nước Pháp, sự khởi đầu của một thế kỷ chiến tranh. Vị Hoàng đế vay rất nhiều tiền từ xứ Florence Nhà Peruzzi cho vua Edward III vay 600.000 florin vàng còn nhà Bardi cung cấp khoản vay 900.000 florin vàng. Tới năm 1345, nhà vua vỡ nợ và cả hai dòng họ ngân hàng Florence cũng lâm vào cảnh phá sản. Vào những năm 1480 ,hoạt động ngân hàng bành trướng sang các đô thị các vùng Đức và Thụy Sĩ ngày nay.Từ đó đến cuối thế kỷ XVII ,hoạt động ngân hàng đã phát triển vô cùng nhanh chóng theo sự bành trướng của thương mại quốc tế,hệ quả từ việc tìm ra Châu Mỹ cũng như các vùng đất mới và sự suy tàn ảnh hưởng của giáo hội La Mã III. Thời kì phục hưng (Thế kỉ XV-XVIII): Vào thế kỉ 15, châu Âu kết thúc thời kì ở trung cổ và bước sang thời kì phục hưng, kinh tế thị trường, hàng hải và ngoại thương phát triển . Các nhà hàng hải khám phá ra châu Mỹ mở đường biển vòng quanh thế giới. Các trung tâm kinh tế thế giới lần lượt xuất hiện là: Venise (1380-1500), Anvers (1500-1569), Amsterdam (1569-1780), London (1783-1918), New York (1918-1973). Thời kì phục hưng thương mại phát triển mạnh, nhất là thương mại với phương Đông, các thương gia nhận thấy cần có những cơ quan chuyên môn để giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc tài trợ nền thương mại nên họ xúc tiến việc tổ chức các cơ quan chuyên nghiệp về ngân hàng như Banco di realto (Venise, 1587), ngân hàng Amsterdam (Hà Lan, 1609). Đến giai đoạn này, Ngân hàng thật sự được công nhận như một doanh nghiệp hữu hình, chính thức có những tổ chức và cách thức hoạt động đặc biệt trong nền kinh tế. Thời kỳ này, Giáo hội La Mã suy tàn, chấm dứt tình trạng cấm đoán việc cho vay lấy lời; Châu Mỹ được khám phá cùng với sự bành trướng của thương mại quốc tế là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của hoạt động ngân hàng. Đồng thời chính sự phát triển của thương mại đã đưa đến nhiều bước tiến quan trọng đối với hoạt động kỹ thuật ngân hàng : 1. Hoàn thiện những phương pháp chi trả mà không dùng tiền , thực hiện việc chi trả qua trung gian của thương phiếu hoặc bằng phương pháp bù trừ , nghiệp vụ bảo lãnh cũng được áp dụng trong thời gian này Nghiệp vụ bảo lãnh trong thời kì này có thể khái quát thành 2 loại: + Một là, với những đối tượng đặc biệt, ngân hàng sẵn sàng cấp trước thư bảo lãnh cho thương nhân cầm thư từ La Mã, qua Ai Cập, Hy Lạp hoặc Ba Tư hay ngược lại để mua hàng đem về bản xứ tiêu thụ. Sau đó họ có thế đem nộp tiền cho ngân hàng để thanh toán hoặc thanh toán trực tiếp với chủ hàng. Với nghiệp vụ này, cả ngân hàng và thương nhân cùng chia lãi với nhau, và cả hai đều thỏa mãn. + Hai là, trong một số trường hợp, nếu không tin tưởng lắm ở lời cam kết của thương nhân, ngân hàng vẫn bảo lãnh nhưng nó đứng ra trực tiếp bán hoặc theo dõi việc bán hàng của thương nhân cho đến khi thu đủ nợ về phần nó. Toàn bộ thao tác bảo lãnh nói trên ngày nay gọi tên là thư tín dụng 2. Thực hiện nghiệp vụ hối đoái, chuyển ngân, tín dụng, bù trừ 3. Một đặc điểm khác là trong thời kỳ này các nhà tư bản nông, công, thương nghiệp thường không chịu vay vốn của ngân hàng bởi vì lãi suất quá cao , nếu vay vốn họ có thể sẽ mất hết toàn bộ lợi nhuận và một phần vốn tự có của họ vì thế họ áp dụng cách bán hàng hóa chịu cho nhau hoặc cho nhau vay với mức lãi suất thấp hơn lợi nhuận bình quân. Bên cạnh đó họ còn hùn vốn với nhau lập ra các ngân hàng, hội tín dụng để cho vay vốn ở mức lãi có thể chấp nhận được. Cuối thế kỉ 17, Ngân hàng Anh ở Luân Đôn ra đời (ngân hàng Anh là một công ty cổ phần lớn kinh doanh tín dụng tư bản với mức lãi suất cho vay là 6%/năm ). Chính sự ra đời của ngân hàng này làm cho các ngân hàng cho vay nặng lãi từ thời trung cổ bắt buộc phải hạ lãi suất theo và chuyển sang kinh doanh như các ngân hàng tư bản . Nổi bật nhất trong lịch sử ngân hàng thời phục hưng thế kỉ XVII là sự xuất hiện của nhiều ngân hàng nổi tiếng đặc biệt là ngân hàng Amsterdam (Hà Lan -1609-1819) và ngân hàng Anh Quốc (1694). Ngân hàng Amsterdam (1609 – 1819): Năm 1609, một ngân hàng lớn chính thức được nhà nước cấp giấy phép hoạt động, có tổ chức hẳn hoi ra đời ở Amsterdam (Hà Lan). Sự xuất hiện của ngân hàng này được xem là khởi điểm của kỷ nguyên ngân hàng hiện đại. Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ nhận những đồng tiền hay nén vàng, bạc do khách hàng đến kí gởi và trao cho khách hàng một chứng chỉ (billet) xác nhận số vàng , bạc đã kí gởi và quyền được hoàn lại số quý kim đó (Nếu giá trị của quý kim tăng thì giá trị của tờ giấy cũng tăng theo, những tờ giấy này cũng được đem ra giao dịch ). Đây được xem như biểu hiện đầu tiên của việc phát hành tiền giấy khả hoán. Vế sau, ngân hàng này còn phát hành tiền giấy, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, bảo lãnh, bù trừ, chiết khấu, giữ tài sản cho chính quyền và công chúng, cho chính quyền thành phố và các công ty vay những khoản tiền lớn. Năm 1819, Ngân hàng Amsterdam sụp đổ sau 210 năm hoạt động, kéo theo sự khốn đốn của một loạt các thương gia và các nhà kinh doanh. Nguyên nhân của sự sụp đổ này là do việc chính quyền các thành phố và công ty Đông Ấn ở Hà Lan đã vay những khoản tiền lớn và không trả nổi, dẫn đến việc thân chủ của ngân hàng rút hết tiền vàng về khiến ngân hàng không còn vốn hoạt động và tuyên bố phá sản. Ngân hàng Anh Quốc (1694) Năm 1694 Quốc Hội Anh chấp nhận cho phép thành lập Ngân hàng Anh Quốc trên cơ sở một công ty cổ phần do công chúng mua vốn cổ phần được ấn định ban đầu là 1.200.000 bảng Anh. Số tiền này đã nộp hoàn toàn cho hoàng gia với tính cách là tiền ứng trước. Đổi lại, ngân hàng được phép phát hành giấy bạ , chiết khấu hồi phiếu, nhận tiền kí gởi của công chúng có trả lãi là 4%/năm (Khi gởi quý kim vào ngân hàng, người gởi được trao cho những tiền giấy hoặc người gởi được mở tài khoản, được ký phát những chứng chỉ để lấy dần hay lấy một lần số tài sản được ký gởi). Ý nghĩa của ngân hàng Anh trong hệ thống ngân hàng thế giới: Ngân hàng Anh quốc đã có những cống hiến to lớn cho kỹ thuật ngân hàng và sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Đây là một kiểu mẫu hoàn chỉnh hơn, đầy đủ hơn ngân hàng Amsterdam. Có thể nói về cơ bản, những nền tảng và nguyên tắc hoạt động của hệ thống ngân hàng hiện đại được thiết lập từng bước qua thực tế vận hành và phát triển của ngân hàng Anh quốc, hoạt động ngân hàng hiện đại gắn khá chặt với những ảnh hưởng từ ngân hàng Anh quốc Quá trình hoạt động của các ngân hàng mới này đã liên tục bổ sung củng cố và hoàn thiện hoạt động ngân hàng từ thao tác nghiệp vụ, tổ chức cho đến các nhận thức về một lý thuyết khoa học ngân hàng hay ngân hàng học. Từ đó đến cuối thế kỷ XVII, hoạt động ngân hàng đã phát triển vô cùng nhanh chóng theo sự bành trướng của thương mại quốc tế. Trong hơn 200 năm nói trên, hàng loạt hệ thống ngân hàng ở các vùng khác ra đời. Và chính quà trình hoạt động của các ngân hàng mới này liên tục được bổ sung, củng cố và hoàn thiện. IV.Thế kỷ XVIII-XX (giai đoạn đương đại): Thời kỳ XVIII - XX nổi bật với sự thay đổi trong nhận thức của các chính quyền, trong giới sản xuất kinh doanh châu Âu về vai trò của tiền và hoạt động ngân hàng cũng như ảnh hưởng to lớn của nó đối với nền kinh tế quốc gia. Ngân hàng đã thực sự được công nhận như một doanh nghiệp hữu hình, hoạt động tạo thành hệ thống, chính thức có những tổ chức và cách thức hoạt động đặc biệt trong nền kinh tế. Nó dần khẳng định vai trò cầu nối trung gian giữa những người tạm thời thừa vốn đến những người tạm thời thiếu vốn. Mục đích của các ngân hàng đều giống nhau, đó là tìm kiếm lợi nhuận, với phương thức hoạt động nhận tiền ký gởi có hoàn trả lãi và cho vay lại với lãi suất cao hơn, tạo ra phần chênh lệch là lợi nhuận các ngân hàng. Ngoài ra, số tiền ký gởi còn được sử dụng vào việc đầu tư vào các tài sản khác tạo lợi nhuận. Hoạt động lưu thông hàng hóa thời kỳ này được mở rộng và bắt đầu phát triển mạnh. Trong bối cảnh đó, việc các ngân hàng phát hành nhiều loại giấy bạc khác nhau đã làm cản trở sự phát triển của nền kinh tế cũng như chi phối hoạt động của Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Các ngân hàng thời kỳ này ngoài hoạt động nhận tiền gởi, cho vay còn xuất ra thị trường các loại chứng thư tiền gửi, được một số cộng đồng chấp nhận như phương tiện thanh toán trong giao dịch và trao đổi. Đến thế kỷ XVIII, các chứng thư ấy lại phát triển hơn và được sử dụng rộng rãi như “tiền”. Lúc đầu, các chứng thư chỉ được phát hành khi có một khoản gởi mới vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân vào ngân hàng bằng tiền vàng hoặc tiền đúc. Tuy nhiên, đến giai đoạn này một tình trạng khác phát sinh trong giới ngân hàng. Do các chứng thư tiền gởi được chấp nhận một cách hết sức rộng rãi, đôi khi nhu cầu về một loại chứng thư nào đó tăng bất ngờ vượt qua số lượng hiện có. Các ngân hàng có máu mạo hiểm bắt đầu xuất thêm các chứng thư tự do khi chưa có người gởi tiền vào thêm. Vào giai đoạn thứ nhất không có gì trục trặc, bởi vì mỗi ngân hàng trong quá trình hoạt động của mình đều tích lũy được nhiều tài sản. Những tài sản đó, cộng với vốn cổ đông góp vào tạo thành những khoản đảm bảo cho số lượng tiền – chứng thư tự do nói trên. Hơn nữa, lúc đầu loại chứng thư này được đưa ra rất dè dặt và nhanh chóng được thu hồi. Mỗi khi người dân cần đổi ra tiền vàng, các ngân hàng đều đáp ứng rất mau lẹ. Vì thế, người ta bắt đầu quen dần với ý nghĩ tiền chứng thư do các ngân hàng phát ra cũng chẳng khác nào những đồng tiền vàng. Khi đại đa số nhân dân đã quen dần với ý nghĩ đó và chấp nhận chứng thư một cách tin tưởng, không do dự, các ngân hàng vì nhu cầu hoạt động của mình dần phát ra nhiều hơn loại tiền này, vào thời kỳ đó được gọi là “tiền ngân hàng” và nghiệp vụ phát ra các loại tiền ngân hàng ngày nay được gọi là nghiệp vụ phát hành. Đến đầu thế kỷ XVIII, gần như mọi ngân hàng lớn đều thi hành những “công việc tổng hợp”, bao gồm nhận tiền gởi từ công chúng, cho vay và phát hành tiền ngân hàng. Tình trạng được phép phát hành tiền ngân hàng chẳng bao lâu đã bị lạm dụng. Năm 1837, ở tiểu bang Massachusetts của Mĩ, một ngân hàng tư nhân đã phát hành ra 500.000 USD tiền ngân hàng trong khi chỉ có dự trữ 86,48 USD vàng trong kho của mình để bảo chứng. Và đến trước cuộc nội chiến năm 1861, ở Hoa Kỳ có tất cả 7000 loại tiền ngân hàng khác nhau cùng lưu thông, trong đó chỉ có 5000 loại có đảm bảo thực sự bằng vàng. Khi ấy, các ngân hàng tư nhân (trong đó chỉ có một số rất ít có cổ phần của Nhà nước) đua nhau phát hành tiền không có đảm bảo, bất chấp khả năng mà một lúc nào đó, nhân dân cùng nhau đến ngân hàng đổi giấy lấy tiền vàng. Tình huống này có khả năng dẫn đến sụp đổ tài chính và hoảng loạn, gây tác hại nặng nề đến các công dân gởi tiền, tình hình kinh tế, thương mại và sản xuất trong một khoảng thời gian dài. Mặt khác, trong trường hợp giả định các ngân hàng đều có lượng vàng trong kho đủ để bảo đảm cho lượng tiền giấy họ phát hành thì việc mọi ngân hàng đều có quyền phát hành tiền sẽ làm cho lượng tiền trong lưu thông có lúc quá thừa, có lúc quá thiếu, không ổn định và không thống nhất, dẫn đến kết quả là nên sản xuất, thương mại và giá cả thay đổi bấp bênh. Đến năm 1819, sau ảnh hưởng từ sự sụp đổ của Ngân hàng Amsterdam (Hà Lan), chính quyền các nước và ngay cả giới ngân hàng đều ý thức được rằng việc giới hạn quyền phát hành rõ ràng là một việc làm cần thiết. Chính phủ nhiều nước đã ban hành các đạo luật để hạn chế số lượng ngân hàng được phép phát hành giấy bạc và dần dần giữ cho các ngân hàng trung tâm độc quyền phát hành tiền, quyền kiểm soát dự trữ vàng, kiểm soát tín dụng và thực hiện việc điều hòa thanh toán cho cả hệ thống ngân hàng trong nước. Lúc này, hệ thống ngân hàng được chia ra thành 2 nhóm ngân hàng với các nghiệp vụ khác nhau: - Thứ nhất, nhóm các ngân hàng được phép phát hành tiền gọi là ngân hàng phát hành. - Thứ hai, nhóm các ngân hàng không được phép phát hành tiền và chỉ thực hiện các nghiệp vụ cho vay chiết khấu nhận tiền gửi, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán,… gọi là ngân hàng trung gian. Không phải bỗng nhiên người ta đi đến việc thành lập ngay một ngân hàng phát hành. Thật ra, ngân hàng phát hành thường thoát thai từ một ngân hàng thương mại. Khởi đầu, một ngân hàng thương mại nào đó chiếm một địa vị quan trọng trong hệ thống ngân hàng, được Nhà nước giao cho nhiệm vụ phát hành tiền tệ. Mô hình ngân hàng quốc gia lần đầu xuất hiện tại Venice đầu thế kỷ 17. Trong lịch sử, ngân hàng đầu tiên phát hành tiền theo nghĩa hiện đại là ngân hàng Riskbank của Thụy Điển thiết lập từ năm 1656 và được cải tổ vào năm 1670 được phát hành tiền. Mặc dầu vậy, các nhà ngân hàng vẫn xem Ngân hàng Anh Quốc (Bank of England) là ngân hàng phát hành đầu tiên vì đã áp dụng những kỹ thuật và thi hành những nghiệp vụ được coi như là những nguyên tắc cơ bản của một ngân hàng ương hiện đại, là ngân hàng phát hành kiểu mẫu, có ảnh hưởng sâu rộng đến các ngân hàng phát hành sau này. Ngân hàng Anh quốc (Bank of England) được thiết lập vào năm 1694 nhằm mục đích ứng tiền cho chính phủ. Lúc khởi đầu nó là một công ty do các tư nhân góp vốn lên tới 1.200.000 bảng Anh. Tổng số tiền này đều cho chính phủ Anh vay để được đổi lại đặc quyền phát hành tiền tệ trong một giới hạn nhất định do chính phủ Anh ban cho. Lúc bấy giờ nhiều ngân hàng khác của Anh cũng được đặc quyền phát hành tiền tệ. Tuy nhiên, đặc quyền của các ngân hàng này lần lượt bị giảm bớt trong khi đặc quyền của Ngân hàng Anh quốc lần lần được nới rộng. Năm 1826, ngân hàng cổ phần tư nhân Anh quốc (BOE) được độc quyền phát hành tiền trong phạm vi Luân Đôn với bán kính 65 dặm (miles). Những ngân hàng khác muốn được quyền phát hành phải nằm ngoài khu vực nói trên. Năm 1833, ngân hàng Anh quốc được độc quyền phát hành tiền pháp định trên toàn xứ Anh (chính quốc nước Anh lúc ấy có 4 vùng England, Scotland, Wales, Irelands), trong khi các ngân hàng khác không được phát hành thêm nữa ngoài số lượng đã phát hành. Năm 1844, Luật ngân hàng (đạo luật Peel) bắt đầu áp đặt mức giới hạn tối đa cho quyền phát hành tiền của các ngân hàng khác. Theo đó, ngân hàng Anh quốc có thể phát hành tiền tệ vô giới hạn, miễn là số tiền đó được đảm bảo 100% bằng vàng. Tuy nhiên, với tính cách ngoại lệ, ngân hàng có thể phát hành một số lượng tiền tệ không đảm bảo như vậy lên tới mức tối đa là 14 triệu Anh kim. Chính đạo luật Peel đã dọn đường độc quyền phát hành cho Ngân hàng Anh quốc sau này. Trong những cuộc khủng hoảng tài chính năm 1847, 1857 và 1866, chính quyền đã cho phép ngân hàng Anh quốc phát hành số lượng tiền vượt quá mức tối đa do đạo luật Peel ấn định. Ngày 1/8/1914, ngân hàng này lại một lần nữa được phép phát hành quá mức tối đa ấn định. Đến năm 1923, ngân hàng Anh quốc được độc quyền phát hành tiền hoàn toàn. Lúc bấy giờ có khoảng 300 ngân hàng phát hành, nhưng ở vào địa vị thứ yếu so với Ngân hàng Anh quốc. Khi bắt đầu thế chiến thứ 1, 300 ngân hàng này rút xuống còn khoảng 30. Với việc được độc quyền phát hành, Ngân hàng Anh đã trở thành nơi cung cấp tài chính cho các hoạt động của chính phủ hoàng gia và là nơi gửi tiền thuế của chính phủ. Một cách tự phát, Ngân hàng Anh tiến thêm bước nữa, làm đại lý cho chính phủ Anh trong các giao dịch với nước ngoài. Từ năm 1854, Ngân hàng Anh bắt đầu trở thành trung tâm thanh toán của các ngân hàng, đưa ra các quy định về lãi suất chiết khấu, tỉ lệ dự trữ bắt buộc… nhằm tăng cường kiểm soát hoạt động các ngân hàng còn lại. Ngân hàng Anh trở thành thủ lĩnh của mọi ngân hàng. Theo kinh nghiệm của nước Anh, trong cùng khoảng thời gian nói trên, nhiều nước lần lượt giao cho các ngân hàng độc quyền phát hành các quyền kiểm soát dự trữ vàng, kiểm soát tín dụng và thực hiện điều hòa thanh toán cho cả hệ thống ngân hàng trong nước. Đây là bước chuyển tiếp từ ngân hàng phát hành trở thành ngân hàng trung ương. Hệ thống ngân hàng Mỹ Ngân hàng thương mại đầu tiên ở nước Mỹ cũng được thiết kế trở thành ngân hàng trung ương đầu tiên. Ngân hàng Bắc Mỹ (Bank of North America) được Robert Morris lập ra vào mùa xuân 1781. Morris là một thương nhân giàu có tại Philadenphia và Nghị sĩ Quốc hội, rất có thế lực trong cuộc chiến giành độc lập của Hoa Kỳ. Bằng ảnh hưởng cá nhân, Morris nhanh chóng thuyết phục được Quốc hội thông qua điều lệ Ngân hàng Bắc Mỹ theo mô hình Ngân hàng Anh. Nước Mỹ có ngân hàng trung ương đầu tiên. Nhưng một năm sau, vai trò chính trị của Morris sụt giảm nhanh chóng nên Ngân hàng Bắc Mỹ nhanh chóng chuyển sang hoạt động như một ngân hàng thương mại thuần túy. Đến năm 1783, các loại chứng khoán chính phủ, chiếm khoảng 5/8 nguồn vốn của ngân hàng, được bán cho các cá nhân và mọi khoản nợ của chính phủ với Ngân hàng Bắc Mỹ được thanh toán hết. Thử nghiệm ngân hàng trung ương đầu tiên tại Hoa Kỳ kết thúc. Đến năm 1791, Alexander Hamilton (Theo Hitchcock, A. Hamilton là người đại diện cho quyền lợi của gia tộc Rothschild) trình lên quốc hội phương án thành lập First Bank of the United States để giải quyết tình trạng “thiếu tiền”. Chính quyền liên bang nắm quyền sở hữu 1/5 ngân hàng trung ương này, 80% cổ phần còn lại, lẽ dĩ nhiên, thuộc về các đại gia tộc ngân hàng. Ngân hàng mới sẽ có quyền phát hành tiền và đầu tư vào các khoản nợ công và tài trợ tín dụng giá rẻ cho các nhà công nghiệp. Chính quyền liên bang cũng trao cho ngân hàng quyền được lưu ký quĩ và tài sản của chính phủ. Thời gian hoạt động được qui định là 20 năm. First Bank of the United States, BUS được vận hành theo đúng mô hình của Ngân hàng Bắc Mỹ. Thomas Willing, chủ tịch Ngân hàng Bắc Mỹ được mời giữ chức chủ tịch ngân hàng mới. BUS nhanh chóng phát hành nhiều triệu đô-la tiền giấy và khoảng 2 triệu đôla tiền đúc. Tới năm 1796, BUS đã cho chính phủ vay một lượng lớn tiền, 8,2 triệu đô-la. Kết quả là chỉ số giá cả chung tăng gần 72%, từ 85 (1791) lên 146 (1796). Theo sau hoạt động của BUS là làn sóng thành lập các ngân hàng thương mại. Trước khi Hiến pháp được công bố, nước Mỹ có 3 ngân hàng thương mại. Đến thời gian thành lập BUS, số ngân hàng thương mại là 4. Nhưng có tới 8 ngân hàng thương mại nhanh chóng được thành lập trong 2 năm 1791 và 1792, và thêm 10 ngân hàng nữa vào năm 1796. Bản điều lệ thành lập ngân hàng đã được cả hai đảng Dân chủ và Cộng Hòa thông qua và hoạt động của BUS tiếp tục cho tới năm 1811. Số ngân hàng và tổ chức tín dụng tiếp tục tăng lên trong 20 năm này. Năm 1800, nước Mỹ có 28 ngân hàng. Số này tăng gấp 4 lần vào năm 1811: 117 ngân hàng. Khi hết kỳ hạn hoạt động, bản đệ trình xin gia hạn của BUS đã bị bác bỏ do Hạ viện có 65 chiếu chống và 64 phiếu thuận. Nước Mỹ một lần nữa không có ngân hàng trung ương. Hamilton lập ra Ngân hàng New York (Bank of New York) năm 1792, sau này trở thành Ngân hàng Chase Manhattan và sáp nhập với J.P. Morgan thành J.P. Morgan, Chase & Co. Khi các tài sản của BUS được đem bán để giải thể ngân hàng, người ta biết được rằng 18.000 trong tổng số 25.000 cổ phần của ngân hàng thuộc về các nhà ngân hàng Anh và Hà Lan. Thời gian nền kinh tế Mỹ không có ngân hàng trung ương không dài. Năm 1812, cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Anh quốc nổ ra. Theo nghiên cứu của Hitchcock thì với tiền của gia tộc Rothschild và mệnh lệnh trực tiếp từ Nathan Rothschild, quân đội Anh đã được điều động đến nước Mỹ. Chính phủ Hoa Kỳ phải phát hành rất nhiều nợ để tài trợ cho các hoạt động quân sự cực kỳ tốn kém. Đây là cơ hội thuận lợi cho ngành kinh doanh ngân hàng phát triển. Từ 1811 đến 1815, số ngân hàng đã tăng 117 lên 246. Tổng số tiền kim loại các ngân hàng đã phát hành rơi vào khoảng từ 14,9 triệu đô-la (1811) đến 13,5 triệu đô-la (1815). Trong khi đó, tổng lượng tiền giấy và tiền gửi là 42,2 triệu đô-la (1811) đã tăng gần 90% sau 4 năm, đạt con số 79 triệu đô-la (1815). Việc phát hành quá nhiều tiền và tài trợ các khoản chi phí chiến tranh không lồ đẩy các ngân hàng vào tình trạng khó khăn và mất khả năng thanh toán. Chính quyền Hoa Kỳ đã có một quyết định rất khó hiểu là cho phép các ngân hàng có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ thanh toán bằng tiền đúc thay vì chấp nhận phá sản khi không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán. Hiển nhiên, việc này không thể kéo dài mãi. Để giải quyết vấn đề trên, cuối cùng nước Mỹ một lần nữa lại lựa chọn việc thành lập ngân hàng trung ương. Mô hình lần này cũng giống như First Bank of the United States, chỉ khác một chữ trong tên gọi: Second Bank of the United States. Cuộc chiến Anh-Pháp kết thúc cùng năm 1816. Và 80% sở hữu của ngân hàng trung ương Hoa Kỳ ``mới'' thuộc về gia đình Rothschild và những người đại diện. Ngân hàng này có thời hạn 20 năm để thực hiện các chức năng tạo ra một đồng tiền giấy thống nhất trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ, mua phần lớn nợ của chính phủ, và nhận tiền gửi của Bộ Tài chính. Kể từ khi ra đời, BUS2 không ngừng mở rộng lạm phát tiền tệ và tín dụng. Không tuân thủ chặt chẽ yêu cầu đảm bảo thanh toán bằng tiền đúc, ngân hàng đã không huy động đủ 7 triệu đôla tiền đúc để đảm bảo theo luật định. Trong hai năm 1817 và 1818, ngân hàng chưa bao giờ có quá 2,5 triệu đôla tiền đúc mặc dù theo qui định với lượng tiền đã phát hành, BUS2 phải có lượng tiền đúc đảm bảo là 21,8 triệu đôla. Như vậy, trong một năm rưỡi, BUS2 đã bổ sung vào nguồn cung tiền tệ một lượng tiền nhỏ giọt là 19,3 triệu đôla! BUS2 cũng nỗ lực tạo ra một đồng tiền giấy thống nhất giữa các ngân hàng trên toàn quốc. Năm 1832, BUS2 yêu cầu quốc hội thông qua đề xuất gia hạn thời gian hoạt động 4 năm trước khi hết hạn theo giấy phép đã cấp năm 1816. Quốc hội đã thông qua nhưng Tổng thống Jackson cương quyết không chấp thuận. Năm 1936, Second Bank of United States giải tán sau khi điều lệ của ngân hàng không được gia hạn. Tại các quốc gia khác, các Chính phủ cũng lần lượt giao quyền độc quyền phát hành cho các ngân hàng quan trọng. Ở Pháp, năm 1848, với sự rút quyền phát hành của 9 ngân hàng tư nhân lớn khác về các chi nhánh của Ngân hàng Pháp (Banque de France), Ngân hàng Pháp được độc quyền phát hành tiền trên toàn lãnh thổ nước Pháp. Năm 1882, chính phủ Nhật Bản chính thức giao cho Ngân hàng Nhật Bản độc quyền này. Năm 1870, Ngân hành Nga (Bank of Russia) cũng được chính phủ Nga Hoàng giao cho độc quyền phát hành. Năm 1875, Reichsbank và các chi nhánh của nó là ngân hàng duy nhất được quyền tạo tiền trên toàn lãnh thổ nước Đức. Sau đấy một thời gian, chính phủ Hoàng gia Thụy Điển cũng giới hạn quyền phát hành về duy nhất cho Ngân hàng Thụy Điển năm 1897. Đến năm 1913, Quốc hội Hoa Kỳ chính thức nhập 12 ngân hàng lớn nhất của Mỹ thành Hệ thống dự trữ liên bang (FED) và giao cho nó được độc quyền phát hành. Với việc hạn chế quyền phát hành tiền về một ngân hàng duy nhất, những ngân hàng còn lại chỉ còn được hưởng một quyền đó là vay và cho vay tiền tệ. Thế nhưng, cho đến lúc ấy một vài ngân hàng được hưởng quyền độc quyền phát hành vẫn còn tiếp tục tham gia vào hoạt động cho vay và vay trực tiếp với nhân dân như các ngân hàng còn lại. Điều này dẫn đến xung đột và một số mâu thuẫn giữa các ngân hàng phát hành và các ngân hàng còn lại. Do vậy, để sắp xếp một cách tốt hơn cho hệ thống ngân hàng, đầu thế kỷ XX, các chình phủ tiến thêm một bước, không cho các ngân hàng phát hành tiền tiếp xúc với công chúng nữa. Ngân hàng này trở thành ngân hàng trung tâm của các ngân hàng còn lại. Đấy là sự bắt đầu của việc tách rời các bộ phận quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng, báo hiệu cho sự phát triển sang giai đoạn mới của hoạt động này, Giai đoạn hiện đại. V. Thế kỷ XX đến nay(giai đoạn hiện đại): Hai trận chiến tranh thế giới (1914-1918 và 1939-1945), cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) đã cung cấp nhiều bài học về phát hành tiền, việc quản lý tài chính và tác động của chính sách tiền tệ đến các động thái của nền kinh tế vĩ mô như tăng trưởng và suy thoái, thất nghiệp và toàn dụng, ổn định giá cả vá lạm phát… Tiền mỗi ngày trở nên quan trọng, khiến cho các chính phủ đều nhận thấy cần phải nắm chắc nó và nắm quyền kiêm soát các ngân hàng trung tâm, cơ quan phát hành tiền. Nhiều nước lần lượt giao cho các ngân hàng trung tâm độc quyền phát hành tiền, quyền kiểm soát dự trữ vàng, kiểm soát tín dụng và điều hoà thanh toán cho cả hệ thống ngân hàng trong nước. Quan niệm về ngân hàng trung ương đã manh nha từ cuối thế ki 19, mãi cho tới gần thế kỉ 20 mới trở nên rõ rệt.Quan niệm đó bắt đầu ra đời từ quan niệm ngân hàng phát hành, rồi những bước phát triển tiếp theo dựa trên nhu cầu điếu hoà khối lượng tiền tệ, điều khiển hệ thống tiền tệ và tín dụng, nhu cầu kiểm soát hệ thống ngân hàng. Tiến trình hình thành ngân hàng trung ương trải qua hai giai đoạn: giai đoạn ngân hàng phát hành và giai đoạn ngân hành phát hành biến thành ngân hàng trung ương. ` Cho đến năm 1945, hầu như tất cả các ngân hàng trung ương vẫn là ngân hàng cổ phần tư nhân. Như vậy có thể hiểu là quyền phát hành tiền, điều tiết cung ứng tiền, quản lý lưu thông tiền tệ, đại diện về tài chính cho chính phủ ở trong nước và nước ngoaì vẫn nằm trong tay tư nhân. Lẽ thường, nhiều khi quyền lợi của cơ quan tư nhân tương phản với quyền lợi quốc gia và họ thường hành động vì quyền lơi cá nhân. Chỉ có chính phủ mới phải nghĩ đến toàn cục, cả nước, đến nhân dân. Các ngân hàng phát hành chỉ có chức năng phát hành tiền mà thôi không thể giúp nhà nước điều hoà thị trường tiền tệ, kiểm soát hoạt động của các ngân hàng trung gian, can thiệp trên thị trường tín dụng, điều khiển hoạt động kinh tế hữu hiệu. Do vậy, phải cải biến ngân hàng phát hành thành ngân hàng trung ương để được giao phó những nhiệm vụ và quyền hạn mới như:  Điều hoà thị trường tiền tệ.  Thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng cho chính phủ.  Lưu giữ các dự trữ tiền tệ của các ngận hàng.  Cung cấp tín dụng cho các ngân hàng khác hoặc các tổ chức tài chính.  nền kinh tế.  Kiêm soát số lượng tín dung ngân hàng sao cho phù hợp với nhu cầu thực tế v.v... Các nhiệm vụ quan trong đó không thể giao cho một ngân hàng tư hay nhiều ngân hàng tư, vì lẽ đó là điều nguy hiểm, nó làm cho chính phủ không thể điều tiết cung tiền hoàn toàn theo ý mình và hậu quả khó điều tiết nền kinh tế vận động và phát triển đúng hướng. Chính vì vậy sau chiến tranh thế giới thứ hai các chính phủ lần lượt quốc hữu hoá các ngân hàng phát hành, các ngân hàng trung ương, đưa bộ phận đầu não của các ngân hàng này về sở hữu công cộng. Từ nay các ngân hàng trung ương là một định chế công cộng, có nhiêm vụ in và phát hành tiền giấy pháp định, là ngân hàng của chính phủ và ngân hàng của các ngân hàng,quản lý và điều tiêt những vấn đề liên quan đến cung tiền và cùng với chính phủ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Ngân hàng trung ương không giao dịch trực tiếp với nhân dân về các nghiệp vụ ngân hàng. Ngày nay, ở các nước đều có hệ thống ngân hàng gồm nhiều loại với chức năng và hoạt động khác nhau, Phương thức tổ chức và hoạt động của hệ thống ngân hàng ở mỗi nước khác nhau, nhưng có thể chia các ngân hàng trong hệ thống thành hai loại chính: ngân hàng trung ương và các ngân hàng trung gian, ở một số nước ngân hàng trung gian còn được gọi là ngân hàng thành viên. Thế kỷ 20 mở ra bước ngoặt lớn trong lich sử ngân hàng: hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp, các ngân hàng không còn hoạt động riêng lẻ, mà đã tạo nên một hệ thống, trong đó ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý về tiển tệ, tin dụng, là ngân hàng của các ngân hàng. Các ngân hàng còn lại chuyên kinh doanh tiển tệ, làm những nghiệp vụ một mặt trực tiếp với công chúng, một mặt trực tiếp với ngân hàng trung ương. Ngày nay hệ thống ngân hàng ngày càng được tổ chức thành hệ thống chặt chẽ hơn với sự ra đời của các ngân hàng trung ương độc lập hơn với hoạt động hành chính của chính phù mà còn hình thành các tổ chức quốc tế để giúp hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động lành mạnh hơn. Trong các tổ chức này quan trọng nhất là Ngân Hàng Thế Giới(World Bank) và tổ chức Tiền Tệ Quốc Tế(IMF) chúng ta cũng không thể không nhắc tới Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ, nơi tập trung hầu hết lượng vàng trên thế giới. Ngân hàng thế giới(WB) Nhóm Ngân hàng Thế giới bao gồm năm tổ chức tài chính thành viên, đó là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, Hội Phát triển Quốc tế, Công ty Tài chính Quốc tế, Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư, và Cơ quan Đảm bảo Đa phương. • Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD): được chính thức thành lập ngày 27/12/1945 với trách nhiệm chính là cấp tài chính cho các nước Tây Âu để họ tái thiết kinh tế sau Chiến tranh thế giới II và sau này là cho phát triển kinh tế ở các nước nghèo. Sau khi các nước này khôi phục được nền kinh tế, IBRD cấp tài chính cho các nước đang phát triển không nghèo. • Hội Phát triển Quốc tế (IDA): được thành lập năm 1960 chuyên cấp tài chính cho các nước nghèo. • Công ty Tài chính Quốc tế (IFC): thành lập năm 1956 chuyên thúc đẩy đầu tư tư nhân ở các nước nghèo. • Trung tâm Quốc tế giải quyết mâu thuẫn đầu tư (ICSID): thành lập năm 1966 như một diễn đàn phân xử hoặc trung gian hòa giải các mâu thuẫn giữa nhà đầu tư nước ngoài với nước nhận đầu tư. • Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA): thành lập năm 1988 nhằm thúc đẩy FDI vào các nước đang phát triển. Chức năng của WB được phân công cho các tổ chức thành viên thực hiện. IBRD và IDA đi vay (phát hành trái phiếu) và cho các nước thành viên vay lại (hiện WB có 184 nước thành viên). Không phải nước thành viên nào cũng được vay WB. - Cá nhân và công ty không được WB cho vay. - Chính phủ của những nước đang phát triển nhưng có thu nhập quốc dân trên đầu người trên 1305 USD/năm được vay của IBRD. Các khoản vay này có lãi suất chỉ cao hơn lãi suất mà WB đã đi vay một chút. - Chính phủ của các nước nghèo, có thu nhập quốc dân trên đầu người dưới 1305 USD/năm (trong thực tế là dưới 805USD/năm) được vay của IDA.Các khoản vay sẽ không đòi lãi suất và có thời hạn lên tới 35-40 năm. Trong hai thập kỳ đầu kể từ khi được thành lập, IBRD đã dành hơn 2/3 tổng giá trị các khoản cho vay của mình cho các dự án phát triển năng lượng và giao thông vận tải. Trong hai thập niên 1960 và 1970, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng vẫn quan trọng nhất, song hoạt động của IBRD và IDA đã rất đa dạng, từ hỗ trợ giáo dục, y tế, dinh dưỡng, kế hoạch hóa gia đình, đến hỗ trợ phát triển nông thôn và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ. Các hoạt động của IBRD và IDA đều trực tiếp liên quan đến giúp đỡ người nghèo và mang hình thức hỗ trợ tài chính lẫn kỹ thuật. Từ thập niên 1980, ngoài đầu tư vào vốn vật chất và vốn con người, IBRD và IDA bắt đầu cho vay để cải cách cơ cấu kinh tế và điều chỉnh chính sách ở các nước đang phát triển.Phản ứng nhạy bén và chú trọng xóa nghèo là các mục tiêu hiện này của IBRD và IDA. IFC cho các dự án tư nhân ở các nước đang phát triển vay theo giá thị trường nhưng là vay dài hạn hoặc cấp vốn cho họ. Sự tham gia của IFC như một sự bảo đảm đối với các nhà đầu tư khác quan tâm tới dự án và khuyến khích họ đầu tư vào dự án. MIGA cung cấp những bảo đảm trước các rủi ro chính trị (rủi ro phi thương mại) để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) Cuối chiến tranh thế giới thứ hai, các nước đồng minh bắt đầu nghiên cứu việc trợ giúp các nước phục hồi kinh tế sau chiến tranh, 44 nước (trong đó có Liên xô cũ) đã tham dự Hội nghị tài chính và tiền tệ của Hội quốc liên tổ chức tại Bretton Woods (Mỹ) từ 122/7/1944 để soạn thảo điều lệ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Ngày 27/12/1945, điều lệ thành lập IMF đã được 29 nước ký kết. Ngày 1/3/1947 IMF bắt đầu hoạt động và tiến hành cho vay khoản đầu tiên ngày 8/5/1947. Tổng số nước hội viên của IMF cho tới nay là 184 nước, Cộng hòa Đông Timor là nước mới được chấp nhận là thành viên của IMF. Tôn chỉ hoạt động: Thúc đẩy sự hợp tác tiền tệ quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và tăng trưởng thương mại quốc tế một cách cân đối; tăng cường ổn định tỷ giá; hỗ trợ cho việc thành lập hệ thống thanh toán đa phương; cho các nước hội viên tạm thời sử dụng các nguồn vốn chung của Quỹ với những đảm bảo thích hợp; và rút ngắn thời gian và giảm bớt mức độ mất cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế của các nước hội viên. Nguồn vốn của IMF: chủ yếu là vốn cổ phần của các nước thành viên và tích luỹ của IMF. Ban đầu, mức cổ phần đóng góp phụ thuộc vào tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước đó so với kim ngạch xuất nhập khẩu của thế giới. Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, IMF cũng có thể vay vốn trên thị trường tài chính quốc tế để phục vụ cho các hoạt động của mình. Đến ngày 31/8/2004, tổng vốn cổ phần của IMF là 311 tỷ USD . Cổ phần: Các nước thành viên có cổ phần lớn trong IMF là Mỹ (17,46%), Đức (6,11%), Nhật bản (6,26%), Anh (5,05%) và Pháp (5,05%). Cơ cấu tổ chức Cơ cấu hiện hành của IMF gồm có Hội đồng Thống đốc, Ban Giám đốc Điều hành, Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc và các cán bộ Quỹ. - Hội đồng Thống đốc: Bộ phận ra quyết định cao nhất tại IMF. Hội đồng Thống đốc bao gồm các Thống đốc (thường là Thống đốc Ngân hàng Trung ương hoặc Bộ trưởng Tài chính) và một Thống đốc phụ khuyết do từng nước hội viên IMF bổ nhiệm. Hội đồng thống đốc có một số các quyền hạn cụ thể, chẳng hạn như kết nạp hội viên mới, quyết định cổ phần, và phân bổ đồng SDR cũng như các quyền hạn khác không phân cấp cho Ban Giám đốc Điều hành hoặc Tổng Giám đốc. Hội đồng Thống đốc IMF họp Hội nghị thường niên kết hợp với Hội nghị thường niên của Hội đồng Thống đốc Ngân hàng Thế giới. - Ủy ban Tài chính Tiền tệ Quốc tế: Trước đây gọi là Ủy ban Lâm thời, do Hội đồng Thống đốc IMF thành lập vào tháng 10/1974 với chức năng là để tư vấn cho các Thống đốc về các vấn đề tiền tệ quốc tế. Mỗi thành viên trong số 24 thành viên của Ủy ban Tài chính Tiền tệ Quốc tế cũng là Thống đốc tại IMF, một Bộ trưởng hay một quan chức có chức vụ tương đương. - Ban Giám đốc Điều hành: gồm 1 Tổng Giám đốc điều hành và 24 Giám đốc điều hành, trong đó 5 Giám đốc điều hành đại diện cho 5 nước có cổ phần lớn nhất tại Quỹ (Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp) và 19 Giám đốc điều hành đại diện cho các nhóm nước có đặc điểm giống nhau về kinh tế địa lý, văn hóa, trừ Nga và Trung quốc có Giám đốc điều hành riêng. - Tổng Giám đốc: do Ban Giám đốc Điều hành lựa chọn, với nhiệm kỳ đầu tiên là 5 năm. Tổng Giám đốc tham gia vào các buổi họp của Hội đồng Thống đốc, Ủy ban Tài chính Tiền tệ Quốc tế và Ủy ban Phát triển. Ngoài ra, Tổng Giám đốc còn phụ trách các cán bộ IMF. Mỗi Phó Tổng Giám đốc, phụ trách một bộ phận dưới sự chỉ đạo của Tổng Giám đốc, có nhiệm vụ chủ trì các buổi họp của Ban Giám đốc Điều hành và duy trì các mối liên hệ với các quan chức chính phủ của nước hội viên, với các Giám đốc Điều hành, với các cơ quan thông tin và các tổ chức khác. - Cán bộ Quỹ: có khoảng 2700 cán bộ từ hơn 191 nước, được tổ chức thành 5 Vụ khu vực (Vụ Châu Phi, Vụ Châu Âu, Vụ Trung đông và Trung Á, Vụ Châu Á Thái Bình Dương và Vụ Tây Bán cầu); 9 Vụ chức năng và nghiệp vụ đặc biệt (Vụ Tài chính, Vụ Các vấn đề ngân sách, Học viện IMF (bao gồm các học viện tại Washington D.C, học viện Viên, học viện Châu Phi và học viện Singapore), Vụ Các Thị trường vốn quốc tế, Vụ Pháp luật, Vụ các Hệ thống Tài chính Tiền tệ, Vụ Xây dựng và Kiểm điểm Chính sách, Vụ Nghiên cứu, Vụ Thống kê); 3 Vụ về thông tin liên lạc (Vụ Đối ngoại, Văn phòng thông tin liên lạc khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Văn phòng Quỹ tại Liên Hợp Quốc); 3 Bộ phận giúp việc (Vụ thư ký, Vụ Nguồn nhân lực, và Vụ Dịch vụ Tổng hợp và Công nghệ). Ngoài ra, IMF có hơn 60 Văn phòng đại diện tại nhiều nước thế giới có trách nhiệm báo cáo cho các Vụ khu vực tương ứng. Chức năng căn bản của IMF -Xác định hệ thống ngang giá tiền tệ và tỷ giá hối đoái của các thành viên - Cấp tín dụng cho các nước thành viên có khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán -Theo dõi tình hình của hệ thống tiền tệ quốc tế và chính sách kinh tế của các nước thành viên Hoạt động Bất kỳ một nước thành viên nào, khi gia nhập IMF đều phải cho các thành viên khác trong quỹ biết dự định về chuẩn giá trị đồng tiền của nước mình so với đồng tiền của các nước khác để tự kiềm chế và hạn chế việc đổi đồng tiền của họ lấy ngoại tệ, và để theo đuổi những cơ sở kinh tế sẽ làm tăng của cải của nước thành viên đó và của cả cộng đồng các nước thành viên bằng con đường hòa hợp và có lợi Khi gia nhập IMF, mỗi nước thành viên đều phải đóng một khoản tiền nhất định được coi là một khoản lệ phí hội viên.. Số tiền này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau: + Thứ nhất, nó tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các thành viên vay mỗi khi họ gặp khó khăn về tài chính. + Thứ hai, nó là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên được vay và là cơ sở để phân bổ rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời kỳ cho các nước thành viên. Dĩ nhiên, nước thành viên nào càng đóng góp nhiều thì khi cần nó càng được vay nhiều. + Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu của nước thành viên. Bản thân IMF là người quyết định số tiền mỗi nước thành viên phải nộp vào quỹ sau khi phân tích đánh giá mức độ giàu có và tình hình kinh tế của nước đó.. Năm 1985, Mỹ đóng 20,l%, khối EEC đóng 27,9%, còn các nước đang phát triển đóng 32,4%. Mức lệ phí này cứ 5 năm lại được xem xét lại, có thể tăng lên hoặc giảm đi tùy theo nhu cầu của IMF và mức độ phát đạt của nước thành viên. Tuy nhiên từ l/4/1978, với sự sửa đổi điều lệ lần thứ hai, việc xem xét và điều chỉnh phần đóng góp của mỗi nước thành viên được quy định 3 năm một lần. Năm 1945, 35 thành viên khi đó đóng góp vào IMF 7,6 tỷ USD, năm 1977 con số đó khoảng 200 tỷ USD. Ngày 6/2/1998 Hội đồng quản trị của IMF đã phê chuẩn kế hoạch tăng 45% ngân quỹ của tổ chức này, từ 199 tỷ USD lên 288 tỷ USD. Cho đến nay, Mỹ là nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới, đóng góp nhiều nhất cho IMF, chiếm khoảng 19% tổng số (40 tỷ USD); Marshall Island, một nước cộng hoà đảo ở Thái Bình Dương đóng ít nhất khoảng 3,6 triệu USD. Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) Cục dự trữ liên bang (tiếng Anh: Federal Reserve System – Fed) là ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ. Bắt đầu hoạt động năm 1915 theo "Đạo luật Dự trữ Liên bang" của Quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1913. Trong khoảng thời gian từ 1862 đến 1913, hệ thống ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ được hình thành theo Đạo luật Ngân hàng quốc gia 1863. Một loạt các biến động trong lĩnh vực ngân hàng ở Hoa Kỳ vào các năm 1873, 1893 và 1907 cho thấy một hệ thống ngân hàng trung ương là cần thiết để điều phối thị trường. Sau cuộc khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng năm 1907, Quốc hội Hoa Kỳ thành lập "Ủy ban tiền tệ quốc gia" với nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cải cách hệ thống ngân hàng. Nelson Aldrich – người đứng đầu đảng Cộng hòa ở quốc hội đồng thời là chuyên gia tài chính, được chỉ định là Chủ tịch Ủy ban. Ông chỉ đạo một cuộc khảo sát tường tận các ngân hàng trung ương Châu Âu và nhận thấy rằng Anh và Đức là hai nước có các ngân hàng trung ương ưu việt hơn hẳn. Năm 1910, Nelson Aldrich tìm kiếm sự giúp đỡ từ các ngân hàng hàng đầu của Hoa Kỳ với mong muốn dự thảo một kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng cho Hoa Kỳ một hệ thống tài chính tiên tiến như của Anh và Đức. Ông cùng các chuyên viên đại diện của các định chế tài chính lớn khi đó là J.P. Morgan, Rockefeller, và Kuhn, Loeb và Công ty, dành riêng một tuần thảo luận tại đảo Jekyll (ngoài khơi bang Georgia). Đại diện của Kuhn, Loeb và Công ty là Paul Warburg (chuyên gia tài chính gốc Đức) chủ trì việc xác lập những ý cơ bản của Đạo luật Dự trữ liên bang. Aldrich sau đó giới thiệu kế hoạch của ông về ngân hàng trung ương với tên “dự luật Aldrich”, đề xuất thành lập "Tổ chức Dự trữ liên bang" (Federal Reserve Association). Dự luật này trở thành một phần trong chính sách của đảng Cộng hòa ở Quốc hội nhưng không được phê chuẩn năm 1911 khi đa số quốc hội thuộc về đảng Dân chủ. Năm 1913, Tổng thống đảng Dân chủ Woodrow Wilson phải tác động để kế hoạch của Aldrich được thông qua dưới sự đỡ đầu của thế lực đảng Dân chủ với tên mới là "Đạo luật Dự trữ liên bang". Frank Vanderlip, người đã tham gia hội nghị ở đảo Jekyll và là chủ tịch National City Bank viết trong tự truyện của mình rằng “mặc dù kế hoạch về Quỹ dự trữ liên bang của Aldrich đã không được thông qua với cái tên của chính ông, nhưng những điểm cơ bản của nó đều nằm trong dự luật sau này được thông qua”. Tổng thống Wilson đã giành ưu thế trước William Jennings Bryan, người đứng đầu phe ủng hộ nông nghiệp trong đảng. Những người thuộc phe này muốn có ngân hàng trung ương của chính phủ mang đặc quyền in ấn và phát hành giấy bạc mỗi khi Quốc hội cần. Woodrow Wilson thuyết phục rằng giấy bạc của Cục dự trữ liên bang chính là nghĩa vụ của chính phủ, do đó chương trình này phù hợp mong muốn của họ. Những nghị sỹ đại diện miền nam và miền tây được tổng thống thuyết phục rằng hệ thống mới ra đời sẽ phân tán ở 12 vùng và sẽ giảm quền lực của New York, tăng quyền lực cho các vùng nội địa. (Trên thực tế, Ngân hàng dự trữ liên bang chi nhánh New York trở thành “số một” trong các Ngân hàng dự trữ liên bang. Ví dụ, nó có đặc quyền tiến hành các hoạt động trên thị trường (phát hành trái phiếu, v.v..) dưới sư chỉ đạo của Ủy ban thị trường của Fed). Carter Glass, nghị sĩ đảng Dân chủ ủng hộ nhiệt liệt dự luật và mang về cho Richmond, Virginia quê ông một Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Bang Missouri có tới hai Ngân hàng nhờ James A. Reed (đảng Dân chủ). Quốc hội thông qua "Đạo luật Dự trữ liên bang" cuối năm 1913. Paul Warburg và các chuyên gia xuất sắc khác được chỉ định điều hành hệ thống non trẻ. the Fed đi vào hoạt động năm 1915 và đóng vai trò chủ chốt tài trợ các nỗ lực chiến tranh của Mỹ và phe liên minh trong Thế chiến thứ nhất. Tháng 07 năm 1979, Paul Volcker được tổng thống Jimmy Carter chỉ định là Chủ tịch Hội đồng thống đốc của Cục dự trữ liên bang khi lạm phát đang gia tăng trầm trọng. Dưới sự lãnh đạo của Paul Volcker, các biện pháp kiểm soát lạm phát đã có hiệu quả và tỷ lệ lạm phát đã giảm nhanh chóng trước năm 1986. Tháng 01 năm 1987, khi chỉ số lạm phát hàng tiêu dùng chỉ là 1%, Fed tuyên bố không còn sử dụng tổng cung tiền tệ M2 làm định hướng kiểm soát lạm phát nữa mặc dù phương pháp này đã rất thành công từ 1979. Trước 1980, lãi suất được sử dụng làm định hướng và lạm phát khi đó rất cao. Việc sử dụng chỉ số tổng cung tiền tệ M2 thay thế lãi suất làm định hướng rất thành công, nhưng Paul Volcker cho rằng nó dễ gây nhầm lẫn. Tháng 08 năm 1987, 07 tháng sau khi thay đổi chính sách tổng cung tiền tệ, Alan Greenspan thay thế Volcker trên cương vị Chủ tịch Hội đồng thống đốc. Và rồi sau 19 năm lãnh đạo Fed rất thành công, huyền thoại của ngành tài chính thế giới, Alan Greenspan nghỉ hưu và chỉ định người kế tục mình, Ben Bernanke. Tính pháp lý và vị trí trong chính quyền Các bộ phận của Cục dự trữ liên bang (Fed) có tư cách pháp lý khác nhau. Hội đồng Thống đốc của Fed là cơ quan độc lập của chính phủ liên bang. Hội đồng không nhận tài trợ của Quốc hội và bảy thành viên của Hội đồng theo cơ chế dân chủ. Thành viên của Hội đồng là độc lập và không phải chấp hành yêu cầu của hệ thống lập pháp cũng như hành pháp. Tuy nhiên, Hội đồng phải gửi báo cáo tới Quốc hội theo định kỳ. Theo luật, thành viên của Hội đồng này chỉ rời chức vụ khi mãn hạn. Hội đồng Thống đốc chịu trách nhiệm việc hình thành và cụ thể hóa chính sách tiền tệ. Nó cũng giám sát và quy định hoạt động của 12 Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ nói chung. Các Ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve Banks) về danh nghĩa sở hữu bởi các ngân hàng thành viên (mỗi ngân hàng thành viên giữ cổ phần không có khả năng chuyển nhượng). Theo Tòa án tối cao Mỹ, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực không phải là công cụ của chính quyền liên bang, chúng là các ngân hàng độc lập, sở hữu tư nhân và hoạt động theo luật pháp ở địa phương. Phán quyết trên cũng cho rằng, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực có thể được coi là công cụ của chính quyền liên bang theo một số mục đích nhất định. Trong một phán quyết khác ở tòa án cấp bang, sự khác biệt giữa Hội đồng thống đốc và các Ngân hàng được quy định rõ ràng. Các ngân hàng sở hữu Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực là của tư nhân và rất nhiều trong số đó có cổ phiếu phát hành trên thị trường. Giấy bạc do Fed phát hành là nguồn cung tiền tệ và chúng được đưa vào lưu thông qua các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Vai trò và nhiệm vụ Theo Hội đồng thống đốc, Fed có các nhiệm vụ sau: 1. Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia bằng cách tác động các điều kiện tiền tệ và tín dụng với mục đích tối đa việc làm, ổn định giá cả và điều hòa lãi suất dài hạn 2. Giám sát và quy định các tổ chức ngân hàng đảm bảo hệ thống tài chính và ngân hàng quốc gia an toàn, vững vàng và bảo đảm quyền tín dụng của người tiêu dùng 3. Duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinh trên thị trường tài chính 4. Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài, và chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia. Tổ chức Cấu trúc cơ bản gồm     Hội đồng thống đốc Ủy ban thị trường các Ngân hàng của Fed các ngân hàng thành viên (có cổ phần tại các chi nhánh) Mỗi ngân hàng Fed khu vực và ngân hàng thành viên của Cục dự trữ liên bang tuân thủ sự giám sát của Hội đồng thống đốc. Bảy thành viên của Hội đồng thống đốc được chỉ định bởi Tổng thống Hoa Kỳ và phê chuẩn bởi Quốc hội. Các thành viên được lựa chọn cho nhiệm kỳ 14 năm (trừ khi bị phế truất bởi Tổng thống) và không phục vụ quá một nhiệm kỳ. Tuy nhiên, một thành viên nếu được chỉ định để phục vụ nốt phần chưa hoàn tất của thành viên khác có thể phục vụ tiếp một nhiệm kỳ 14 năm nữa, ví dụ cựu chủ tịch Hội đồng là Alan Greenspan đã phục vụ 19 năm từ 1987 đến 2006. Ủy ban thị trường gồm 7 thành viên của Hội đồng thống đốc và 5 đại diện từ các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Luôn có một đại diện của ngân hàng Fed tại Quận 2, thành phố New York (hiện tại là Timonthy Geithner) là thành viên trong Ủy ban này. Thành viên từ các ngân hàng khác được luân phiên theo thời gian 2 hoặc 3 năm. Ngành ngân hàng thế giới hiện nay đang rơi vào tình trạng khó khăn bắt nguồn từ tỉ lệ nợ xấu tại các ngân hàng Mỹ tăng cao làm giảm khả năng thanh khoản và tạo ra hiệu ứng lên thị trường tài chính toàn cầu. Trước hết phải kể đến sự biến mất của mô hình đầu tư độc lập (investment bank) của phố Wall.Cả 5 ngân hàng đầu tư độc lập của con phố này đều trải qua một bước ngoặt số phận trong năm 2008:Lehman Brother phá sản,Bear Stearns và Merill Lynch bị thâu tóm, Morgan Stanley và Goldman Sachs phải chuyển đổi sang mô hình ngân hàng tổng hợp Kế đến là hàng loạt vụ giải thể trong lĩnh vực ngân hàng thương mại của Mỹ.Tính đến ngày 15/12/2008,số ngân hàng thương mại của Mỹ phải đóng cửa lên đến con số 25,so với con số 3 ngân hàng bị ngưng hoạt động trong năm 2007 Và Iceland được coi là nạn nhân cấp quốc gia đầu tiên của cuộc khủng hoảng lần này với việc đóng cửa thị trường tài chính của nước này sau khi quốc hữu hóa các ngân hàng nước này Cuộc khủng hoảng đã ảnh hưởng mạnh đến tâm lý của người dân các nước B.LỊCH SỬ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM: Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của từng thời kỳ cách mạng và công cuộc xây dựng Đất nước.
- Xem thêm -