Kinh tế - xã hội huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an thời nguyễn (1802 - 1884)

  • Số trang: 171 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Trong đời sống của các cộng đồng cư dân, kinh tế - xã hội là một lĩnh vực hoạt động mang tính thiết yếu, gắn liền với nhu cầu vật chất và sinh hoạt của con người. Ở mỗi giai đoạn, hoạt động kinh tế - xã hội thường có tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau. Cùng với quá trình phát triển kinh tế, mục tiêu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh cũng được đặt ra. Do vậy, nghiên cứu kinh tế, xã hội của các cộng đồng cư dân từng khu vực cụ thể là một việc làm cần thiết nhằm đem lại những hiểu biết chính xác và toàn diện hơn về lịch sử địa phương cũng như lịch sử dân tộc. 1.2. Lịch sử Việt Nam thời Nguyễn (1802 - 1884) thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà sử học trong và ngoài nước. Điều này xuất phát từ nhiều lý do, trong đó, sự thiếu thống nhất trong việc nhìn nhận, đánh giá về vương triều Nguyễn, về lịch sử Việt Nam thời kỳ này là một trong những nguyên nhân quan trọng. Tuy nhiên, vấn đề thường được đặt ra trên tầm vĩ mô, trong một cái nhìn toàn cảnh mang tính quốc gia hoặc vùng (Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Nam bộ). Những năm gần đây, trước sự thay đổi nhanh chóng của xã hội, những yếu tố, đặc điểm của địa phương đang từng bước bị nhấn chìm. Việc lựa chọn một địa bàn cụ thể (chẳng hạn một tỉnh như Bình Định, Thừa Thiên - Huế hay một huyện như Đông Sơn [Thanh Hóa], Đức Thọ [Hà Tĩnh]) làm đối tượng nghiên cứu xuất hiện ngày một nhiều. Đây là một yêu cầu cấp thiết cả về mặt khoa học và thực tiễn. Bởi nghiên cứu cái cụ thể có thể làm cho bức tranh lịch sử Việt Nam thời Nguyễn trở nên sinh động hơn, sát với thực tế hơn, để từ đó góp phần làm cho nhận thức chung trở nên sâu sắc và toàn diện hơn. 1.3. Nghệ An là một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng. Vào đầu thời Trung đại, thế kỷ X - XI và XII, Nghệ An đã từng là “phên dậu” của quốc gia Đại Việt. Nghệ An còn nổi tiếng là một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa. Trải qua từng thời kỳ lịch sử, chính sách quản lý của các vương triều đối với vùng đất này ít nhiều có sự khác biệt so với những nơi khác. Chính vì vậy, Nghệ An có nhiều nét đặc thù về kinh tế, xã hội so với diện mạo chung của cả nước. Từ thực tế đó, nghiên cứu về kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An và từng địa phương 2 cụ thể ở khu vực này trong những giai đoạn cụ thể là một việc làm cần thiết, mang ý nghĩa khoa học. Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về đề tài này. 1.4. Nằm trên mảnh đất “xứ Nghệ”, Nghi Lộc là một trong những huyện đồng bằng ven biển tiêu biểu của tỉnh Nghệ An. Dưới thời Nguyễn, Nghi Lộc được chọn làm nơi đóng “trấn thành”, “tỉnh thành” của Nghệ An. Đây vừa là lỵ sở của bộ máy chính quyền, vừa là nơi tích trữ binh lương và cũng là nơi đóng quân bảo vệ thành. Bên cạnh đó, Nghi Lộc còn có 2 cửa sông lớn là Cửa Xá (Cửa Lò) và Cửa Hội. Ngay từ rất sớm, hai cửa sông này đã có vị trí quan trọng về quân sự, kinh tế và giao thương buôn bán với bên ngoài. Ngoài ra, Nghi Lộc còn là một trong những vùng đất có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời của Nghệ An. Nơi đây đã sản sinh ra nhiều nhân tài làm rạng danh cho đất nước. Đó không chỉ là những người đỗ đạt cao, nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới các triều đại phong kiến, mà họ còn là những người đạo cao, đức trọng, sống gần gũi, chân thật, giản dị nhưng có chí lớn. Với lý do trên, Nghi Lộc xứng đáng được các nhà nghiên cứu quan tâm nhằm góp phần phục dựng lại bức tranh kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc dưới thời Nguyễn. Chính vì thế chúng tôi chọn vấn đề: “Kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802 - 1884)” làm luận án Tiến sĩ lịch sử. 2. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2.1. Đối tượng Đối tượng nghiên cứu của luận án là thực trạng kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc (tỉnh Nghệ An) dưới triều Nguyễn, cụ thể là từ năm 1802 đến năm 1884. Việc trình bày đối tượng nghiên cứu chủ yếu tập trung trong chương 3 (Kết cấu kinh tế huyện Nghi Lộc thời Nguyễn) và chương 4 (Xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn). Các lĩnh vực kinh tế, xã hội được phân chia thành từng nội dung cụ thể nhằm đảm bảo tính cụ thể, toàn diện và hệ thống của luận án. 2.2. Nhiệm vụ Với tính chất là công trình nghiên cứu độc lập về đề tài: “Kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802 - 1884)”, nhiệm vụ cụ thể của luận án là: - Trên cơ sở sưu tầm, chọn lọc và đối chiếu các nguồn tài liệu, luận án đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (1802 - 1884). 3 - Đánh giá, so sánh nhằm rút ra những nét tiêu biểu trong lĩnh vực kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc thời Nguyễn so với các vùng, các khu vực lân cận. - Rút ra những kết luận khoa học mang tính độc lập, khách quan về vấn đề nghiên cứu trên cơ sở các cứ liệu đã trình bày. 2.3. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung: Luận án đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (1802 - 1884). Trong một số nội dung cụ thể, luận án cũng so sánh huyện Nghi Lộc với một số địa phương khác ở khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ, đặc biệt là những huyện lân cận trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Về kinh tế: Luận án đi sâu nghiên cứu về kết cấu kinh tế huyện Nghi Lộc thời Nguyễn trên các phương diện: ruộng đất, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp. Theo quan điểm truyền thống của các nhà sử học, ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thường gắn liền với nhau. Tuy nhiên, ở phạm vi nghiên cứu của đề tài này, trên cơ sở khai thác triệt để nguồn tài liệu địa bạ, chúng tôi cấu trúc ruộng đất thành một mục riêng, tách rời khỏi kinh tế nông nghiệp và xem đây là một trong những đóng góp quan trọng của luận án. Về xã hội: Chúng tôi dựa trên quan niệm rộng của các nhà nghiên cứu về phần lịch sử xã hội hiện nay, cụ thể là bao gồm nhiều mặt hoạt động liên quan đến đời sống của con người. Dựa trên mức độ cho phép của nguồn tài liệu, chúng tôi tập trung khắc họa một số vấn đề nổi bật về xã hội của huyện Nghi Lộc thời Nguyễn, cụ thể như: tổ chức hành chính và bộ máy quản lý xã thôn, kết cấu xã hội và đời sống nhân dân, giáo dục, tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội. - Về thời gian: Luận án đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc trong thời kỳ nhà Nguyễn là triều đại phong kiến độc lập, cụ thể là trong khoảng thời gian từ năm 1802 (khi nhà Nguyễn bắt đầu thành lập) cho đến năm 1884 (khi thực dân Pháp xác lập được toàn bộ ách thống trị trên đất nước ta). Nhằm đảm bảo tính lịch sử và tùy thuộc mức độ cho phép của nguồn tư liệu, một số nội dung luận án trình bày kéo dài tới giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. - Về không gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trên địa bàn huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (1802 - 1884), gồm 4 tổng: Đặng Xá, Kim Nguyên, Ngô Trường, Thượng Xá theo ghi chép cụ thể trong các bộ sử thời Nguyễn (Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí) và theo cuốn Các tổng trấn xã danh bị lãm (Tên 4 làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (từ Nghệ Tĩnh trở ra)). Về cơ bản, phạm vi khảo sát của luận án tập trung vào địa bàn chủ yếu của huyện Chân Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn cũng như phần lớn địa bàn huyện Nghi Lộc hiện nay. 3. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3.1. Nguồn tài liệu: Để thực hiện đề tài này, luận án sử dụng các nguồn tài liệu sau: * Thứ nhất: Luận án sử dụng nguồn tài liệu chính thống do Quốc Sử quán, Nội Các triều Nguyễn biên soạn như: Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Chính biên và Tục biên), Hoàng Việt luật lệ... Loại tài liệu này được khai thác, sử dụng triệt để trong quá trình nghiên cứu và trình bày nội dung luận án. Bởi đây là cơ sở khoa học giúp chúng tôi khảo sát về huyện Nghi Lộc thời Nguyễn. Trong quá trình thu thập tài liệu, chúng tôi nhận thấy các sách địa lý học - lịch sử chép về toàn quốc như: Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí...hay các sách chép về Nghệ An như: Hoan Châu phong thổ ký (Trần Danh Lâm), Nghệ An ký (Bùi Dương Lịch), An Tĩnh cổ lục (H. Le Breton)...đã cung cấp thêm cho chúng tôi những tư liệu về điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành vùng đất và tình hình kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn. * Thứ hai: Nguồn tài liệu quan trọng nhất của luận án là các thư tịch: địa bạ, thần tích, thần sắc, gia phả, hương ước, văn bia... Chúng tôi đã khai thác hơn 5.000 trang tài liệu thư tịch tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trong đó, đáng chú ý hơn cả là 47 tập địa bạ lập vào các thời điểm Gia Long, Minh Mệnh, Tự Đức. Số địa bạ này được phân bố đều ở 4 tổng: Đặng Xá, Kim Nguyên, Ngô Trường, Thượng Xá. Nguồn tài liệu thư tịch trên là cơ sở chủ yếu giúp chúng tôi nghiên cứu tình hình kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn. * Thứ ba: Kết quả nghiên cứu trong các công trình chuyên khảo về ruộng đất, kinh tế và xã hội của các tác giả đi trước như: Nguyễn Đức Nghinh, Trương Hữu Quýnh, Phan Huy Lê, Vũ Huy Phúc, Phan Đại Doãn, Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Văn Quân, Phan Phương Thảo...là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, giúp chúng tôi đối chiếu, so sánh để rút ra những đánh giá khoa học và những đặc điểm tiêu biểu của huyện Nghi Lộc thời Nguyễn. Bên cạnh đó, các công trình biên soạn lịch sử địa phương như: Lịch sử các xã, phường của huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; Lý lịch di tích các công trình lịch sử, văn 5 hóa của huyện Nghi Lộc; Các công trình nghiên cứu về địa phương Nghệ An của Ninh Viết Giao, Chu Trọng Huyến, Phan Xuân Thành...cũng là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết, giúp chúng tôi so sánh, đối chiếu với các tài liệu thư tịch để rút ra nét tiêu biểu của vùng đất “xứ Nghệ”, của huyện Nghi Lộc. Qua đó, làm phong phú thêm vốn hiểu biết của chúng tôi về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn. * Tuy đã cố gắng khai thác triệt để các nguồn tài liệu nhưng chúng tôi vẫn không thể tránh khỏi những khó khăn trong quá trình khôi phục lại toàn bộ diện mạo kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc thời Nguyễn. Để khắc phục khó khăn đó, trong các cuộc điều tra, khảo sát thực địa tại địa bàn huyện Nghi Lộc, chúng tôi nhận thấy nguồn tài liệu địa phương tương đối phong phú và đa dạng (đặc biệt là tài liệu truyền miệng). Nếu được xử lý theo phương pháp khoa học thì đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng, góp phần thiết thực cho quá trình nghiên cứu luận án. 3.2. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu và trình bày nội dung, luận án sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp sử học, phương pháp logic. Những nhận xét, đánh giá của luận án đều xuất phát từ tính cụ thể, xác thực của nguồn tài liệu. Ngoài phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp liên ngành như: xã hội học, khảo cổ học...để nghiên cứu một cách toàn diện về kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (1802 - 1884). Mặt khác, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đặc biệt chú ý khai thác nguồn tài liệu chính thống (các bộ sử của triều Nguyễn), nguồn tài liệu thư tịch cổ (địa bạ, thần tích, thần sắc, gia phả, văn bia)... Tuy nhiên, không phải lúc nào nguồn tư liệu gốc cũng có sẵn. Do vậy, để khắc phục sự thiếu khuyết đó, chúng tôi sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn điều tra, hồi cố, lấy kết quả từ quá trình khảo sát, điều tra thực địa nhằm bổ sung thêm tư liệu, khôi phục một cách chân thực diện mạo kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn. Vì địa bàn và không gian nghiên cứu rộng nên trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi còn sử dụng phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu thực địa và phân tích địa bạ. Đồng thời, chúng tôi sử dụng phương pháp định lượng để phân tích, xử lý địa bạ kết hợp so sánh, đối chiếu các nguồn tài liệu nhằm rút ra đặc điểm nổi bật của kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn. 6 4. Đóng góp của Luận án - Về mặt khoa học, luận án khôi phục lại một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống về tình hình kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn, qua đó góp phần nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử, xã hội của khu vực Nghệ Tĩnh nói riêng cũng như cả nước giai đoạn này. Đồng thời, luận án đi sâu làm rõ nét tiêu biểu về kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc so với các vùng, các khu vực lân cận. - Về mặt thực tiễn, luận án góp phần bổ sung nguồn tài liệu vào khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử địa phương huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Kết quả nghiên cứu của luận án cũng là cơ sở để tiến hành khảo sát, nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương; các bài giảng lịch sử địa phương cho học sinh, sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng và Phổ thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An theo Chương trình giáo dục lịch sử của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Đồng thời, luận án còn góp thêm những luận chứng, luận cứ cụ thể cho việc hoạch định và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc hiện nay, đặc biệt là trong việc khai thác những lợi thế về điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực, tài nguyên đất và biển. 5. Bố cục luận án: Luận án gồm 169 trang. Trong đó, phần mở đầu 6 trang, kết luận 4 trang, tài liệu tham khảo 19 trang. Nội dung luận án gồm 151 trang, được chia làm 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề (12 trang) Chương 2: Vài nét về địa bàn huyện Nghi Lộc (19 trang). Chương 3: Kết cấu kinh tế huyện Nghi Lộc thời Nguyễn (53 trang) Chương 4: Xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn ( 57 trang) Ngoài ra, trong luận án còn có các bảng thống kê, sơ đồ và phần phụ lục gồm các bản đồ, bảng biểu, ảnh, bản chụp tư liệu. 7 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1. Các công trình nghiên cứu về nông thôn làng xã Việt Nam * Dưới thời thuộc Pháp: Các chuyên khảo nghiên cứu về kinh tế, xã hội nông thôn, làng xã Việt Nam của các học giả nước ngoài bắt đầu xuất hiện. Những tác phẩm tiêu biểu nhất của thời kỳ này là: Cuốn La Commune Annamite au Tonkin (Làng xã An Nam ở Bắc kỳ, 1894) của P.Ory đã đề cập đến một số vấn đề về kinh tế nông nghiệp, phong tục tập quán trong các làng xã ở Bắc kỳ; Cuốn L’Annam (1906) do Hội đồng tư vấn hỗn hợp và thương mại canh nông Trung kỳ biên soạn nhằm giới thiệu các loại cây trồng, vật nuôi trong khu vực. Cuốn L’Economie Agricole de l’Indochine (Kinh tế nông nghiệp Đông Dương, Hà Nội, 1932) của Y.Henry có đề cập đến tình hình sở hữu ruộng đất và các phương thức sử dụng ruộng đất ở một số vùng Bắc Trung kỳ. Cuốn Le problème economique Indochinois (Vấn đề kinh tế Đông Dương, Paris, 1934) của P.Bernard đã nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến kinh tế Đông Dương, trong đó có Bắc Trung kỳ Việt Nam. Đặc biệt, P.Gourou trong cuốn Les paysans du Delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc kỳ, Paris, 1936) đã nghiên cứu về địa lý nhân văn ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, qua đó phác họa đời sống của người nông dân và kinh tế hộ nông dân ở Bắc kỳ. Bên cạnh đó, trong cuốn L’Utilisation du sol en Indochine Franscaise (Sử dụng ruộng đất Đông Dương thuộc Pháp, Paris, 1940), P.Gourou đã thống kê tình hình sở hữu ruộng đất, các ứng dụng sản xuất kinh doanh lúa ở một số vùng Bắc Trung kỳ (trong đó có Nghệ An). Các công trình kể trên chủ yếu đi sâu phân tích tình hình sở hữu ruộng đất, canh tác nông nghiệp, đời sống nông dân và sử dụng nhân công ở Đông Dương, trong đó có đề cập đến các tỉnh Bắc Trung kỳ. Bên cạnh các nhà nghiên cứu người Pháp đã xuất hiện một số tác giả người Việt. Các công trình nghiên cứu về làng Việt thời kỳ này khá phong phú, đề cập đến một số vấn đề về địa lý, kinh tế, văn hóa truyền thống của nông thôn, làng xã Việt Nam. Tiêu biểu có: Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, Sở hữu làng xã ở Bắc kỳ của Vũ Văn Hiền, Nghiên cứu về làng xã An Nam của Nguyễn Văn Huyên... Các tác phẩm trên đã chú ý nghiên cứu về ruộng đất, kinh tế nông nghiệp và phong tục tập quán của làng Việt. 8 Ngoài các công trình kể trên, các tập san như: Bulletin L’e’vail conomique de l’Indochine (Sự thức tỉnh kinh tế Đông Dương) đã đăng tải một số bài viết, công trình thực nghiệm của các nhà nghiên cứu, quản lý kinh tế về tình hình nông nghiệp ở Bắc Trung kỳ. Trong đó đáng chú ý là các bài viết của H. Le Breton - Hiệu trưởng Trường Quốc học Vinh, E.M.Castagnol - Giám đốc Hạt canh nông Trung kỳ, M.H.Ginberf và H.Cucherousset - Thanh tra nông nghiệp Trung kỳ...; Annuaire statistique de L’Indochine (Niên giám thống kê Đông Dương); Annuaire e’conomique de L’Indochine (Niên giám kinh tế Đông Dương) đã thống kê tình hình nông nghiệp Đông Dương, trong đó có các tỉnh Bắc Trung kỳ. * Sau Cách mạng tháng Tám (1945): Giới sử học bắt đầu chú ý nghiên cứu về kinh tế, xã hội nông thôn, làng xã Việt Nam. Mở đầu là cuốn Kinh tế làng xã Việt Nam (1951) của Vũ Quốc Thúc. Đây là luận án Tiến sĩ Luật học nghiên cứu một cách tổng thể về kinh tế làng xã Việt Nam. Công trình khoa học này được tiến hành một cách công phu và có nhiều giá trị tham khảo về mặt tư liệu. Tuy nhiên, vấn đề kinh tế, xã hội của nông thôn, làng xã Việt Nam chỉ thực sự được giới sử học đặc biệt quan tâm nghiên cứu kể từ sau cải cách ruộng đất (1955 1956). Nhiều chuyên khảo có giá trị đã ra mắt bạn đọc, trong đó đáng chú ý hơn cả là: Xã thôn Việt Nam (1959) của Nguyễn Hồng Phong; Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ (1959) của Phan Huy Lê; Tín ngưỡng Việt Nam (1967) của Toan Ánh... Các chuyên khảo trên đã chú ý nghiên cứu về chế độ ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, phong tục tập quán và tín ngưỡng của làng xã Việt Nam cổ truyền. * Sau năm 1975: Nghiên cứu về kinh tế, xã hội nông thôn, làng xã tiếp tục được đẩy mạnh. Mở đầu là hai tập sách chuyên đề Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (1977, 1978) do Viện Sử học tổ chức biên soạn. Đây được xem là một bước tiến trong nghiên cứu bởi các tác giả đã đưa ra những quan điểm mới về kinh tế, xã hội Việt Nam truyền thống. Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế, xã hội nông thôn, làng xã Việt Nam đã ra đời. Các tác phẩm: Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (1979) của Vũ Huy Phúc; Chế độ ruộng đất Việt Nam (2 tập) của Trương Hữu Quýnh (1982, 1983); Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền (1984) của Trần Từ; Lệ làng phép nước (1985) của Bùi Xuân Đính... Các công trình đã đi sâu nghiên cứu về các lĩnh vực: kinh tế nông nghiệp, chế độ ruộng đất làng xã, tổ chức xã 9 thôn và sự vận hành của nó. Trong đó đáng chú ý hơn cả là tác phẩm: Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX của Vũ Huy Phúc đã nghiên cứu một cách toàn diện về tình hình ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX trên các phương diện: sở hữu công tư, chính sách ruộng đất của nhà nước và chế độ tô thuế thời Nguyễn... Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra những đánh giá toàn diện về chế độ ruộng đất nửa đầu thế kỷ XIX và quan hệ của nó với đấu tranh giai cấp của nông dân. * Từ sau thời kỳ đổi mới (1986): Nghiên cứu về kinh tế, xã hội nông thôn, làng xã tiến thêm một bước và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hàng chục cuốn sách chuyên khảo về kinh tế, xã hội làng xã; về kinh nghiệm tổ chức, quản lý xã thôn đã xuất hiện, cụ thể như: Làng Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội (1992) của Phan Đại Doãn; Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử (1993) của Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc; Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc bộ (1996) của Nguyễn Hải Kế; Một số vấn đề về làng xã Việt Nam (2009) của Nguyễn Quang Ngọc; Tìm lại làng Việt xưa (2006) và Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc bộ (2010) của Vũ Duy Mền... Bên cạnh đó, đây cũng là thời kỳ nhiều hội thảo khoa học, nhiều chương trình hợp tác nghiên cứu có quy mô về nông thôn, làng xã Việt Nam được tiến hành: Hội thảo Quốc tế Việt Nam học (4 lần), Chương trình hợp tác Việt - Pháp, Chương trình hợp tác Việt - Nhật... Nhiều ấn phẩm đã ra đời, đáng chú ý hơn cả là cuốn Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ (2002) do P. Papin và O. Tessier (Cb) đã tập trung nghiên cứu, phân tích về cơ cấu ruộng đất, các ngành kinh tế nông - công - thương nghiệp và các lĩnh vực xã hội như: dòng họ, tôn giáo, cơ cấu xã hội một cách công phu, tỉ mỉ qua các trường hợp cụ thể ở đồng bằng Bắc bộ. Chính những nghiên cứu với cách tiếp cận mới của các tác giả trong các hội thảo khoa học, chương trình hợp tác đã gợi mở nhiều vấn đề trong nghiên cứu về kinh tế, xã hội nông thôn, làng xã Việt Nam sau này. Cùng với những công trình kể trên, từ đầu thập niên 70 (thế kỷ XX) đến nay, trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử xuất hiện nhiều bài viết liên quan đến vấn đề kinh tế, xã hội nông thôn, làng xã Việt Nam: Về tính chất sở hữu ruộng đất công làng xã (số 4/1981) của Phan Đại Doãn; Thêm một số ý kiến về chế độ ruộng đất ở Tiền Hải nửa đầu thế kỷ XIX (số 5/1986) của Bùi Quý Lộ; Diễn biến sở hữu ruộng đất ở một số làng buôn tiêu biểu thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ (đầu thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX) 10 (số 273/1994) của Vũ Văn Quân, Nguyễn Quang Ngọc; Vài nhận xét về đội ngũ chức sắc làng xã ở Bình Định nửa đầu thế kỷ XIX qua tư liệu địa bạ (số 322/2002) của Phan Phương Thảo... Hay trên Tạp chí khoa học của Trường Đại học Tổng hợp cũng xuất hiện một số bài viết liên quan: Sự phát triển của các hình thức sở hữu ruộng đất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam (số 3/1988) của Vũ Minh Giang; Thử tìm hiểu đất nước Việt Nam qua 10.044 tập địa bạ (số 4/1988) của Nguyễn Đình Đầu; Vài nét về chế độ tô thuế thời Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX) (số 4/1988) của Vũ Văn Quân... Mặt khác, trong những năm vừa qua còn có một số luận án Tiến sĩ, đề tài khoa học nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử dân tộc, ruộng đất và kinh tế nông nghiệp giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX, ít nhiều liên quan hoặc trở thành tài liệu tham khảo có ích đối với việc nghiên cứu đề tài này. Tiêu biểu như: Chế độ ruộng đất - kinh tế nông nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX của Vũ Văn Quân (ĐH Tổng hợp Hà Nội, 1991), Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh của Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học Hà Nội, 1996)... Hay dưới góc độ nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế, xã hội, văn hóa thời Nguyễn ở một địa phương cụ thể có một số luận án, đề tài khoa học như: Làng xã Thanh Trì (ngoại thành Hà Nội) đầu thế kỷ XIX qua tư liệu địa bạ của Vũ Văn Quân, Đề tài khoa học cấp ĐH Quốc gia, Mã số QX 97.04, Hà Nội; Chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định qua tư liệu địa bạ của Phan Phương Thảo (ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia, Hà Nội, 2003); Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) nửa đầu thế kỷ XIX của Trịnh Thị Thủy (ĐH Sư phạm Hà Nội, 2002); Kinh tế, văn hóa huyện La Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) nửa đầu thế kỷ XIX của Lê Hiến Chương (ĐH Sư phạm Hà Nội, 2012)... Nhìn chung, những công trình trên đã nghiên cứu một cách toàn diện về nông thôn, làng xã Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như: ruộng đất và kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp; thiết chế xóm làng và tổ chức quản lý xã thôn, vấn đề đẳng cấp, giai cấp... Đây là nguồn tài liệu tham khảo, cung cấp lý luận khoa học và những kiến thức chuyên ngành giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan, khoa học trong nhận thức, đánh giá và nghiên cứu về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn. 11 1.2. Các công trình nghiên cứu về tỉnh Nghệ An * Trước Cách mạng tháng Tám (1945): Mở đầu quá trình nghiên cứu về địa lý, lịch sử, văn học, tư tưởng truyền thống của khu vực Nghệ Tĩnh là cuốn Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch. Đây là một bộ địa lý học - lịch sử khá nổi trội so với các sách địa lý học - lịch sử đương thời. Nghệ An ký ghi chép về trấn Nghệ An, bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh, được viết vào khoảng thập niên thứ 10 hoặc 20 của thế kỷ XIX (được dịch và xuất bản năm 1993). Sách viết khá kỹ về vấn đề cương vực, duyên cách địa lý của Nghệ An xưa, trong đó có đề cập đến một số vấn đề địa lý của huyện Nghi Lộc. Tuy vẫn còn những hạn chế nhất định về quan điểm, phương pháp nhưng Nghệ An ký được xem là tác phẩm có chất lượng và đáng tin cậy trong thể loại địa phương chí, cung cấp nhiều thông tin khi nghiên cứu về địa phương tỉnh Nghệ An nói chung và các huyện trong tỉnh nói riêng. Tiếp đến là công trình nghiên cứu về vùng đất An Tĩnh của học giả người Pháp - H.Le Breton, với tác phẩm Le vieux An Tinh (An Tĩnh cổ lục, 1936), được dịch và xuất bản năm 2005. Dựa trên các nguồn tài liệu thành văn và tài liệu điền dã sưu tầm tại địa phương từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Le Breton đã bước đầu tái hiện diện mạo lịch sử, văn hóa truyền thống của vùng đất Nghệ Tĩnh qua những địa danh, công trình kiến trúc nổi tiếng. Ông đặc biệt chú trọng đến dòng họ, việc tra cứu các gia phả, các sự tích, các tác phẩm để thấy được diện mạo sinh động của “xứ Nghệ”. Những nội dung nghiên cứu về huyện Nghi Lộc trong tác phẩm này còn rất hạn chế, chủ yếu điểm qua một số địa danh, công trình kiến trúc trên địa bàn huyện. Tuy còn nhiều hạn chế về mặt tư liệu và phương pháp biên soạn nhưng có thể coi An Tĩnh cổ lục là công trình nghiên cứu tiêu biểu, có giá trị khoa học cao nhất trong số những tác phẩm của các học giả nước ngoài nghiên cứu về khu vực Nghệ Tĩnh trước năm 1945. Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu về các địa phương lân cận như Thanh Hóa, Hà Tĩnh của các học giả nước ngoài cũng có nhiều giá trị tham khảo nhằm đối chiếu, so sánh để rút ra những nét tương đồng giữa Nghệ An với các tỉnh trong khu vực Bắc Trung kỳ. Đáng chú ý là cuốn La province de Ha Tinh (Tỉnh Hà Tĩnh) của R.Bulateau và La province Thanh Hoa (Tỉnh Thanh Hóa) của H.Le Breton. Hai công trình này đã đề cập đến điều kiện tự nhiên của các tỉnh nằm trong khu vực Bắc Trung bộ, đồng thời cung cấp nhiều tư liệu cụ thể về kinh tế, xã hội của các 12 huyện ở Hà Tĩnh, Thanh Hóa. Những công trình nghiên cứu trên sẽ góp thêm tài liệu và làm cơ sở giúp chúng tôi liên hệ, so sánh với địa bàn nghiên cứu của đề tài luận án. Ngoài ra, tại Thư viện Nghệ An hiện còn lưu giữ nhiều bài viết của các học giả nước ngoài có liên quan đến đề tài mà chúng tôi nghiên cứu. Các bài viết này đã được biên dịch và lưu trữ tại phòng Địa chí. Điểm chung là đều đề cập đến kinh tế nông nghiệp và đời sống nông dân ở Nghệ An (trong đó có Nghi Lộc) thời thuộc Pháp. Tiêu biểu như: Chuyên luận nông nghiệp Nghệ An (1930) của M.G.Castagnol đã giới thiệu khái quát về điều kiện canh tác, thổ nhưỡng, cơ cấu cây trồng, diện tích, năng suất ở Nghệ An; Kế hoạch mở rộng Vinh - Bến Thủy (1930) của Barbier có điểm qua về thực trạng kinh tế, xã hội của Vinh - Bến Thủy, từ đó đề ra kế hoạch mở rộng, sử dụng và khai thác thành phố này; Diễn văn của Toàn quyền Đông Dương nhân dịp khánh thành dẫn thủy nhập điền ở miền Bắc Nghệ An (1937) của J.Brévié ghi nhận vai trò quan trọng của công tác thủy lợi trong nông nghiệp... Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các học giả Pháp là nguồn tài liệu tham khảo, giúp chúng tôi đối chiếu, liên hệ và so sánh với thời kỳ nhà Nguyễn; đồng thời cung cấp lý luận, phương pháp nghiên cứu mới trong quá trình phân tích, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn. * Sau Cách mạng tháng Tám (1945): Nghiên cứu về Nghệ An được đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả cụ thể. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, địa bàn Nghệ An và các địa phương trong khu vực này chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ khảo cổ học, lịch sử chống ngoại xâm và thành tựu thơ văn. Việc nghiên cứu cụ thể về lịch sử từng huyện hoặc xã cũng như những vấn đề kinh tế, xã hội ở khu vực này nhìn chung chưa được chú trọng. Hạn chế này dần được khắc phục với sự ra đời của nhiều công trình biên khảo về lịch sử kinh tế, xã hội khu vực Nghệ An từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX. Các công trình tiêu biểu như: - Sách Lịch sử Nghệ Tĩnh (tập 1, 1984) của Ban Nghiên cứu lịch sử tỉnh Nghệ Tĩnh là công trình nghiên cứu tương đối quy mô và có hệ thống đầu tiên về lịch sử Nghệ An - Hà Tĩnh. Từ những nguồn tư liệu đáng tin cậy, các tác giả đã bước đầu khôi phục lại quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Nghệ Tĩnh từ thời đại nguyên thủy đến giữa thế kỷ XIX. Trong đó, những nội dung kinh tế, xã hội liên quan đến huyện Nghi Lộc cũng như các huyện khác ở Nghệ Tĩnh cũng được đề cập đến, dù không thật hệ thống và cụ thể. 13 - Sách Nghệ Tĩnh hôm qua và hôm nay của Nxb Sự thật (Hà Nội, 1986) chủ yếu trình bày những vấn đề lịch sử Nghệ Tĩnh thời kỳ cận - hiện đại. Một số vấn đề về kinh tế, xã hội của các địa phương cụ thể ở khu vực Nghệ Tĩnh cũng được đề cập đến trong cuốn sách này. - Sách Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh do Nguyễn Đổng Chi (Cb, 1995) là công trình có quy mô lớn, được biên soạn công phu. Tác phẩm này đề cập đến hầu hết các lĩnh vực trong đời sống văn hóa dân gian ở vùng đất Nghệ Tĩnh, đồng thời cung cấp nhiều tư liệu quý về tình hình kinh tế, xã hội và văn hóa truyền thống của các huyện trong tỉnh, trong đó có Nghi Lộc. Tuy vậy, do tính chất tổng hợp của thể loại địa chí, hầu hết những vấn đề được trình bày trong sách Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh chưa thể hiện được tính lịch sử cụ thể và chưa đi sâu vào những đặc điểm riêng của các huyện trong tỉnh. - Sách Lịch sử giáo phận Vinh của Trương Bá Cần, Vương Đình Chữ (1996); Lịch sử về giáo phận Vinh tóm lược (từ 1629 đến 2009) của Giacobe Võ Văn Hậu. Các tác giả đã đề cập đến sự du nhập của Ki tô giáo ở khu vực Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Những nội dung về đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của một bộ phận giáo dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An, trong đó có huyện Nghi Lộc cũng được đề cập. - Sách Danh nhân Nghệ An của Nhiều tác giả (1998) khảo cứu về thân thế và sự nghiệp của những danh nhân tiêu biểu ở Nghệ An thời kỳ trung đại, trong đó có nhiều vị là người Nghi Lộc như: Nguyễn Xí, Hoàng Phan Thái, Nguyễn Thức Tự... Việc nghiên cứu những nhân vật này đã cung cấp nhiều tư liệu, hiểu biết về lịch sử, văn hóa truyền thống của huyện Nghi Lộc thế kỷ XVIII, XIX. - Sách Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919) của Đào Tam Tỉnh (2000) là công trình đầu tiên khảo cứu một cách công phu về những thành tựu khoa bảng của Nghệ An từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX. Đây là cuốn sách nghiên cứu một cách hệ thống và khá đầy đủ về những sự kiện quan trọng mà người Nghệ An đạt được trong làng khoa bảng nước ta và trong gần 1000 năm xây dựng nền giáo dục Nho học Việt Nam. Từ những nội dung mà tác giả đề cập, có thể xem đây là một dạng “đăng khoa lục” về Nghệ An. Bởi tác giả đã thống kê cụ thể số người đỗ đại khoa, hương khoa của các huyện ở Nghệ An qua các thời kỳ, trong đó có Nghi Lộc. Đặc biệt, tác giả đã có sự chỉnh sửa, bổ sung một số nhầm lẫn trong các tài liệu viết về khoa bảng Nghệ An trước đây. 14 - Sách Địa danh lịch sử, văn hóa Nghệ An do Trần Viết Thụ (Cb, 2006), được biên soạn theo thể loại từ điển tổng hợp về địa phương Nghệ An. Có thể coi đây là công trình giới thiệu toàn diện về tỉnh Nghệ An trên các phương diện: địa danh, lịch sử, văn hóa, xã hội... Tuy nội dung sách chỉ trình bày theo từng mục từ (gồm phần tên gọi và giải thích tên gọi) nhưng Địa danh lịch sử, văn hóa Nghệ An chứa đựng một dung lượng khá lớn về nội dung lịch sử, văn hóa, xã hội của các làng xã, khu vực trong tỉnh, đặc biệt trong đó có nhiều nội dung liên quan hoặc trực tiếp đề cập đến huyện Nghi Lộc. - Đáng chú ý hơn cả là các công trình nghiên cứu về Nghệ An của Ninh Viết Giao như: Hương ước Nghệ An (1998); Nghề (làng nghề) thủ công truyền thống ở Nghệ An (1998); Tục thờ thần và thần tích Nghệ An (2000); Văn bia Nghệ An (2003); Nghệ An - Lịch sử, văn hóa (2005)...đã đề cập một cách toàn diện các vấn đề kinh tế, giáo dục, văn hóa và phong tục tập quán của các làng xã trên địa bàn Nghệ An, trong đó có huyện Nghi Lộc. Tuy nhiên, những nội dung về kinh tế, xã hội được đề cập trong các công trình trên còn mang tính khái quát về Nghệ An, những nội dung liên quan đến huyện Nghi Lộc lại hết sức sơ lược, thiếu tính cụ thể và hệ thống. - Sách Lịch sử Nghệ An (2 tập) do Trần Văn Thức (Cb, 2012) là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về lịch sử hình thành, phát triển của tỉnh Nghệ An từ nguồn gốc đến 2005. Trong đó, tập 1, Lịch sử Nghệ An (từ nguyên thủy đến 1945), đã cung cấp nhiều tư liệu mới, nhiều luận điểm khoa học có giá trị về tình hình kinh tế, xã hội truyền thống của Nghệ An. Mặc dù một số nội dung kinh tế, xã hội có liên quan đến huyện Nghi Lộc cũng được đề cập đến song hết sức sơ lược, tản mạn và rất chung chung dựa trên quan điểm nghiên cứu tổng thể về lịch sử tỉnh Nghệ An. - Bên cạnh đó, nhiều hội thảo khoa học nghiên cứu về mảnh đất, con người Nghệ An cũng được tổ chức. Đáng chú ý hơn cả là Hội thảo: Văn hóa các dòng họ ở Nghệ An do Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An phối hợp tổ chức (1997). Tập kỷ yếu Hội thảo xuất bản đã tập hợp nhiều bài viết nghiên cứu về văn hóa các dòng họ và các dòng họ cụ thể trên đất Nghệ An. Nhiều dòng họ tiêu biểu của huyện Nghi Lộc cũng được đề cập đến: Văn hóa dòng họ Đinh ở Kim Khê, Nghi Lộc của Đinh Văn Niêm; Vài nét về văn hóa họ Phạm (Tiên Động) và Nguyễn Bá ở xã Nghi Xuân, Nghi Lộc, 15 Nghệ An của Hồ Hữu Quyền; Bước đầu tìm hiểu về văn hóa dòng họ Nguyễn Năng ở Nghi Trường, Nghi Lộc của Phan Đình Phương... - Mặt khác, trong những năm gần đây, trên các tạp chí trung ương, địa phương cũng có một số bài viết đề cập đến lịch sử, kinh tế, xã hội truyền thống của khu vực Nghệ Tĩnh (trong đó có huyện Nghi Lộc) như: Hệ thống chợ Nghệ An thế kỷ XIX (NCLS, số 6/2004) của Nguyễn Quang Hồng ; Cương Quốc công Nguyễn Xí với những cống hiến và sự tôn vinh (VHNA, số 58/2005) của Nguyễn Đình Chú; Danh xưng Nghi Lộc qua các thời kỳ (VHNA, số 165 + 166/2010) của Lê Quang Chắn... Các tác giả đã đưa ra một số nhận định có giá trị khoa học khi nghiên cứu về vùng đất Nghệ An (trong đó có đề cập đến huyện Nghi Lộc) trong lịch sử. Tuy vậy, phần lớn những bài viết này chỉ tập trung vào lĩnh vực văn hóa mà ít đề cập đến vấn đề kinh tế, xã hội của khu vực. Hay dưới góc độ nghiên cứu chuyên sâu về tỉnh Nghệ An có một số Luận văn Thạc sĩ: Giáo dục khoa cử Nho học ở Nghệ Tĩnh từ 1802 - 1919 của Hồ Sỹ Hùy (Trường ĐH Vinh, 2001); Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân các huyện ven biển Nghệ An của Trần Nghị (Trường ĐH Vinh, 2008)... Đây là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng khi nghiên cứu về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn. Nhìn chung, các công trình kể trên chủ yếu tập trung nghiên cứu một số lĩnh vực về kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An, trong đó có đề cập hết sức sơ lược đến địa bàn huyện Nghi Lộc. Tuy vậy, các công trình này đã cung cấp nhiều tư liệu và luận điểm có giá trị, làm cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu về từng địa phương cụ thể trên địa bàn tỉnh Nghệ An. 1.3. Các công trình nghiên cứu về huyện Nghi Lộc Đi sâu hơn trong việc tìm hiểu những vấn đề cụ thể của địa phương Nghi Lộc, đã có một số tác phẩm đề cập trực tiếp đến tình hình kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc, cụ thể như: - Sách Lịch sử Đảng bộ huyện Nghi Lộc (Sơ thảo, 1991), tập 1, đã giúp người đọc có cái nhìn khái quát về đặc điểm địa lý, sinh hoạt dân cư và tình hình kinh tế, xã hội của huyện giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đặc biệt, phần phụ lục ở cuối sách có bảng: Tên đơn vị hành chính huyện Nghi Lộc qua các lần thay đổi, đây chính là nguồn tài liệu tham khảo giúp đối chiếu các đơn vị hành chính ở Nghi Lộc thời Nguyễn với hiện nay. 16 - Sách Thành phố Vinh quá trình hình thành và phát triển (1804 - 1945) của Nguyễn Quang Hồng (2003) là công trình khoa học có nội dung khá phong phú về lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố Vinh từ 1804 - 1945. Nhiều thông tin cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội được đề cập. Trong đó, tác giả đã cung cấp nhiều tư liệu có giá trị về kinh tế, văn hóa, xã hội của tổng Ngô Trường, huyện Nghi Lộc thế kỷ XIX. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về ruộng đất và kinh tế, tác giả chưa chú ý sử dụng, khai thác nguồn tư liệu địa bạ. Do vậy, bức tranh ruộng đất và kinh tế chưa được khắc họa rõ nét. - Các sách về lịch sử xã phường trên địa bàn huyện Nghi Lộc, Thành phố Vinh (Lưu tại Thư viện Nghệ An và các xã, phường): Phường Trường Thi (Lịch sử sơ thảo) (1997); Lịch sử truyền thống xã Nghi Long (2005); Lịch sử xã Phúc Thọ (2007); Lịch sử xã Nghi Hợp (2009); Lịch sử phường Lê Mao Thành phố Vinh (2009)...cung cấp những hiểu biết cụ thể về địa danh lịch sử, đặc điểm địa lý, dân cư và kinh tế của các địa phương. - Gia phả của các dòng họ lớn ở Nghi Lộc (Lưu tại Thư viện Nghệ An và nhà thờ các dòng họ): Gia phả dòng họ Hoàng ở Vạn Lộc (Nghi Tân); Gia phả họ Nguyễn Đình ở Thượng Xá (Nghi Hợp); Gia phả dòng họ Nguyễn Năng ở Thịnh Trường (Nghi Trường); Gia phả họ Nguyễn Thức ở Đông Chử (Nghi Trường); Gia phả họ Đinh ở Kim Khê (Nghi Long)...cung cấp nhiều tư liệu khi nghiên cứu về các dòng họ, các nhân vật tiêu biểu ở Nghi Lộc. - Lý lịch di tích các công trình lịch sử, văn hóa của huyện Nghi Lộc (Lưu tại Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Nghệ An) với rất nhiều hồ sơ về các đền, chùa, nhà thờ họ như: Lý lịch di tích nhà thờ và mộ Phạm Nguyễn Du (Nghi Xuân); Lý lịch di tích đền, đình, chùa Trung Kiên (Nghi Thiết); Lý lịch di tích nhà thờ và mộ Nguyễn Thức Tự (Nghi Trường)... Những ghi chép trong các hồ sơ di tích cung cấp thêm thông tin về các đền, chùa, nhà thờ họ trên địa bàn huyện Nghi Lộc nhằm góp phần tìm hiểu về đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của từng địa phương trong huyện. - Đặc biệt tháng 11/2009, UBND huyện Nghi Lộc phối hợp với Viện Sử học tổ chức hội thảo: Xác định Danh xưng Nghi Lộc. Đây là một cuộc hội thảo có sự góp mặt của nhiều Nhà nghiên cứu với nhiều bài viết có giá trị như: Sự thay đổi địa danh hành chính huyện Nghi Lộc qua các thời kỳ lịch sử của Nguyễn Đức Nhuệ; Làng xã Nghi Lộc trong thời kỳ lịch sử Lê - Nguyễn (thế kỷ XV - XIX) của Vũ Duy Mền; Vài 17 nét về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc, Nghệ An dưới triều Nguyễn của Nguyễn Hữu Tâm... Hội thảo đã cung cấp những hiểu biết cơ bản về sự thay đổi địa danh hành chính; về kinh tế, chính trị, xã hội huyện Nghi Lộc qua các thời kỳ... Tuy nhiên, nội dung của các bản tham luận còn hết sức sơ lược, thiếu tính chuyên sâu. Ngoài ra, dưới góc độ nghiên cứu cụ thể về địa phương huyện Nghi Lộc còn có một số luận văn Thạc sĩ như: Chế độ giáo dục khoa cử Nho học ở Nghi Lộc thời Nguyễn (1802 - 1884) của Vũ Thị Thùy Giang (Trường ĐH Vinh, 2001); Dòng họ Nguyễn ở Nghi Lộc và thầy giáo Nguyễn Thức Tự của Nguyễn Thị Phương Lan (Trường ĐH Vinh, 2008)... Nhìn chung, các công trình kể trên ít nhiều đề cập đến một số lĩnh vực kinh tế, xã hội của huyện Nghi Lộc qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là thời kỳ vương triều Nguyễn độc lập. Đây là cơ sở khoa học, góp phần cung cấp nhiều luận điểm có giá trị khi đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội huyện Nghi Lộc trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. 1.4. Một vài nhận xét Thứ nhất: Từ năm 1884 đến năm 1945 là thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và thống trị Việt Nam, do vậy có rất nhiều học giả Pháp nghiên cứu về nông thôn, làng xã Việt Nam trên các phương diện: địa lý, lịch sử, ruộng đất, kinh tế nông nghiệp và phong tục tập quán... Sau năm 1954, giới sử học nước ta đã đi sâu nghiên cứu và công bố nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn Việt Nam. Nhiều công trình đã tập trung vào việc nghiên cứu về một lĩnh vực cụ thể như: tình hình ruộng đất, kinh tế, kết cấu xã hội, dòng họ, đời sống tôn giáo tín ngưỡng, giáo dục... Những nghiên cứu này sẽ góp phần làm phong phú thêm vốn hiểu biết của chúng tôi khi nghiên cứu về nông thôn, làng xã Việt Nam. Thứ hai: Trong phạm vi nửa đầu thế kỷ XIX, việc nghiên cứu về vùng đất Nghệ Tĩnh cũng như các địa phương cụ thể ở đây chưa được chú trọng đúng mức. Thực trạng và đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của các địa phương trong bối cảnh chung của khu vực và dân tộc thời kỳ vương triều Nguyễn (1802 - 1884) vẫn chưa được nghiên cứu làm rõ. Tuy vậy, những công trình nghiên cứu về vùng đất Nghệ Tĩnh trong các công trình kể trên chính là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, giúp chúng tôi so sánh đối chiếu giữa địa bàn huyện Nghi Lộc với các huyện, các khu vực lân cận. 18 Thứ ba: Tuy đã có một số công trình, tác phẩm đề cập hoặc ít nhiều liên quan đến huyện Nghi Lộc trong lịch sử, nhưng cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đi sâu khảo sát, nghiên cứu về tình hình kinh tế, xã hội của địa phương này ở một giai đoạn lịch sử cụ thể. Do vậy, trên cơ sở khai thác, sử dụng những nguồn tài liệu mới (địa bạ, thần tích, thần sắc, hương ước, gia phả), đồng thời tham khảo, kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trước, luận án: Kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802 - 1884) là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này. Tiểu kết chương 1: - Hầu hết các công trình của các học giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu một cách toàn diện về nông thôn, làng xã Việt Nam trên nhiều lĩnh vực: ruộng đất và kinh tế, văn hóa, xã hội... Tuy nhiên, các công trình trên chỉ tập trung nghiên cứu kinh tế, văn hóa, xã hội trên phạm vi toàn quốc mà chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu về địa phương huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802 1884). - Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, căn cứ vào các nguồn tài liệu (đặc biệt nguồn tài liệu lưu trữ), luận án tập trung nghiên cứu, làm rõ: Kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802 - 1884), từ tình hình ruộng đất, kinh tế đến việc tổ chức quản lý xã thôn, kết cấu xã hội và đời sống nhân dân, giáo dục, tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội của Nghi Lộc giai đoạn 1802 - 1884. 19 CHƯƠNG 2. VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN HUYỆN NGHI LỘC 2.1. Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Đầu thế kỷ XIX, huyện Nghi Lộc nằm ở vị trí trung tâm của trấn Nghệ An, là nơi đóng trấn thành của trấn Nghệ An. Phía Bắc và phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên; Phía Đông giáp biển Đông; phía Nam giáp huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Theo Đại Nam nhất thống chí, huyện Chân Lộc: Đông Tây cách nhau 24 dặm, Nam Bắc cách nhau 46 dặm. Phía Đông giáp bể; phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên; phía Nam giáp sông (sông Lam), thuộc địa giới huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh); phía Bắc giáp địa giới huyện Hưng Nguyên [124; 771]. Hiện tại, huyện Nghi Lộc nằm sát phía Bắc Thành phố Vinh. Khoảng cách từ huyện lỵ Thị trấn Quán Hành đến Thành phố Vinh là 1 km. Cực Bắc của huyện có tọa độ 18055’ vĩ độ Bắc; cực Nam có tọa độ 18040’ vĩ độ Bắc; cực Tây có tọa độ 1050 28’ kinh tuyến Tây; cực Đông có tọa độ 105045’ kinh tuyến Đông. Phía Bắc giáp huyện Diễn Châu; phía Nam giáp Thành phố Vinh và huyện Hưng Nguyên; phía Tây giáp huyện Đô Lương; phía Tây Nam giáp huyện Nam Đàn; phía Tây Bắc giáp huyện Yên Thành; phía Đông giáp Thị xã Cửa Lò và biển Đông; phía Đông Nam giáp huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Diện tích tự nhiên toàn huyện là 34.809 hécta (Số liệu do phòng thống kê UBND huyện cung cấp, 2010). * Địa hình Trên cơ sở tài liệu khảo sát địa chất của tỉnh Nghệ An, các nhà nghiên cứu lịch sử và địa lý đoán định, cách đây ít nhất khoảng 1 vạn năm, bờ biển còn nằm sâu trong lục địa huyện Nghi Lộc ngày nay. Còn theo An Tĩnh cổ lục của Le Breton: Nghi Lộc xưa là một vùng đất cát, các làng mạc của vùng đất cát này được hình thành trên những dải bãi cát song song với đường bờ biển ngày nay. Những dải đất cát này bị ngăn cách bởi những vụng lòng chảo dài, có dòng nước trong luôn luôn chảy vào. Chỉ nơi đây mới có các loại cây trồng ưa đất khô. Mỗi dải đất đều có một con đường nhỏ chạy suốt từ đầu đến cuối. Các cồn cát này là những đụn cát hóa thạch và mỗi dải cát đánh dấu một đợt hải tiến, biển lùi ra bắt đầu vào cuối thời kỳ đệ tứ kỷ. 20 Như vậy là từ con đường cái quan cho đến miền duyên hải ngày nay, các làng xã lần lượt được thành lập [70; 89]. Bên cạnh đó, qua thực tế điền dã và khảo sát địa bàn huyện Nghi Lộc, chúng tôi thấy rằng: phía Đông và Đông Bắc của huyện chủ yếu là sản phẩm của biển Đông và sông Cấm bồi tụ; phía Nam và Tây Nam huyện chủ yếu là do sông Lam bồi đắp mà thành. Như vậy, ở buổi ban đầu, vùng đất Nghi Lộc nằm trên địa bàn chuyển tiếp từ núi xuống biển theo chiều Tây sang Đông. Địa hình chủ yếu là đồng bằng ven biển xen lẫn với các mô núi nhỏ, ở giữa là những cồn cát trải dài song song với đường mép biển. Những dải cồn cát ấy bị ngăn cách bởi các vụng lòng chảo dài. Theo Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch: “...đất huyện Chân Phúc, toàn cát. Vì ngày xưa chỗ ấy là biển nước mặn, sau biến thành bãi” [83; 103]. Về cơ bản, có thể chia địa hình huyện Nghi Lộc thời Nguyễn thành 3 loại: Vùng phía Tây và Tây Bắc: chủ yếu là địa hình bán sơn địa, rừng núi xen lẫn với các thung lũng đồng bằng. Núi đồi ở vùng này hầu hết có độ dốc lớn, từ 35 0 - 400 và bị xói mòn nặng. Vì đất bị rửa trôi, chỉ còn lại sỏi đá nên thực vật ở đây chỉ có loại cây bụi nhỏ và rất ít động vật. Khoáng sản tuy có các loại như: sắt, măng gan, phốt phát...song trữ lượng ít, chất lượng thấp, giá trị công nghiệp không nhiều. Diện tích bán sơn địa này địa chiếm tỷ lệ không nhiều, bị phủ dày sỏi đá, nghèo chất mùn và chất hữu cơ. Thung lũng đồng bằng vì gián tiếp với đồi núi nên bị chia cắt nhỏ, tỷ lệ sét cao, độ PH thấp (4,5 - 5%). Vùng phía Đông và Đông Nam từ hữu ngạn sông Cấm trở xuống, tuy không có nhiều đồi núi, song địa hình rất phức tạp. Sau các đợt biển lùi, cứ cách nhau khoảng 1 km lại nổi lên một cồn cát cao, rộng và kéo dài song song theo bờ biển. Trên các dãy cồn cát ấy, không có cỏ cây. Về mùa hè, cát nóng như rang. Xen kẽ giữa các dãy cồn cát là các lòng chảo và bàu đầm. Thổ nhưỡng ở đây có hiện tượng tích tụ sắt và nhôm rất nghèo chất mùn, chất hữu cơ và hàm lượng trao đổi thấp. Tỷ lệ đất canh tác trong vùng vừa ít, vừa manh mún và năng suất cây trồng rất thấp, một số nơi chỉ làm một vụ. Vùng phía Bắc và phía Nam nằm ở hạ nguồn sông Cấm, sông Lam nên đất đai khá bằng phẳng và màu mỡ. Phía tả ngạn sông Lam và hữu ngạn sông Cấm chủ yếu là đất bãi bồi hình thành bởi phù sa sông Lam, sông Cấm nên thổ nhưỡng ở đây chủ
- Xem thêm -