Kinh tế tư nhân ở thành phố long xuyên, thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 88 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ --X W--- ĐÀO THỊ ĐIỆP KINH TẾ TƯ NHÂN Ở THÀNH PHỐ LONG XUYÊN (2005-2010) THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC. Khóa học: 2006 - 2010. An Giang, 2010 LỜI CẢM ƠN # " Trước tiên em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Lý Luận Chính Trị, Thư viện Trường Đại Học An Giang cùng với các ban ngành, công ty, doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Long Xuyên đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp. Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đối với sự hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tận tình của Thạc sĩ Trần Văn Hùng - Giảng viên chính môn Kinh tế chính trị - đã hướng dẫn và giúp đỡ để em hoàn thành khóa luận. Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu quá ngắn và trình độ của người nghiên cứu còn hạn chế nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy cô và bạn đọc để bài khóa luận được hoàn chỉnh hơn. Long Xuyên ngày 03 tháng 05 năm 2010. Đào Thị Điệp i DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT. XHCN: Xã hội chủ nghĩa. KTTN: Kinh tế tư nhân. TPLX: Thành phố Long Xuyên. TNHH: Trách nhiệm hữu hạn. CNH,HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa. KT - XH : Kinh tế - Xã hội. CN - TTCN: Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp. CN: Công nghiệp. VPĐD: Văn phòng đại diện. TDTT: Thể dục thể thao. TTVS: Trật tự vệ sinh. THCS: Trung học cơ sở. CNTT: Công nghệ thông tin. VH: Văn hóa. GTGT: Giá trị gia tăng. GTSX: Giá trị sản xuất. ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long. TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh. KD: Kinh doanh. UBND: Ủy ban nhân dân. QHSX: Quan hệ sản xuất. LLSX: Lực lượng sản xuất. GDP: Tổng sản phẩm trong nước. XNK: Xuất nhập khẩu. ii MỤC LỤC MỤC LỤC.......................................................................................................... ii 3.1. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................. 3 3.2. Phạm vi nghiên cứu..................................................................................... 3 CHƯƠNG 1....................................................................................................... 4 1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế tư nhân. .............. 5 1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế tư nhân hiện nay. ........................................................................................................ 9 CHƯƠNG 2..................................................................................................... 22 2.1. Tình hình kinh tế - xã hội ở thành phố Long xuyên ảnh hưởng đến kinh tế tư nhân............................................................................................ 22 Thứ nhất về Phát triển kinh tế:..................................................................... 23 Thứ hai về lĩnh vực văn hóa - xã hội: ........................................................... 24 2.2. Thực trạng hoạt động của kinh tế tư nhân về sản xuất, thương mại dịch vụ ở TPLX........................................................................................... 28 2.2.1. Trong lĩnh vực sản xuất. .............................................................. 32 Thứ nhất : Quá trình thành lập và phát triển của công ty:........................ 33 Thứ hai: Hoạt động sản xuất chính của công ty:......................................... 34 Thứ ba: Số lượng lao động, trình độ lao động và hoạt động của công đoàn: .......................................................................................................................... 34 Thứ tư: Cơ cấu tổ chức quản lý kinh doanh của công ty: .......................... 34 Thứ năm: Chức năng, nhiệm vụ của công ty:.............................................. 37 Thứ sáu: Những thuận lợi và khó khăn. ...................................................... 37 Thứ bảy: Định hướng phát triển của công ty: ............................................. 38 2.2.2. Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ.......................................... 42 Thứ nhất: Những thành tựu đạt được: ........................................................ 46 Thứ hai: Nguyên nhân những thành tựu. .................................................... 48 Thứ ba: Những hạn chế. ................................................................................ 49 Một là: phát triển còn mang tính chất tự phát. ........................................... 49 Thứ tư: Nguyên nhân của hạn chế................................................................ 51 CHƯƠNG 3..................................................................................................... 53 3.1. Phương hướng. .................................................................................... 53 Thứ sáu: nâng cấp, mở rộng các tổ chức hiệp hội sản xuất KD. ............... 61 Thứ bảy: Mở rộng nâng cao năng lực sản xuất - hướng mạnh vào xuất khẩu. ................................................................................................................ 62 3.2. Giải pháp. ................................................................................................. 63 Một là : Chính sách đất đai: .......................................................................... 73 Hai là: Chính sách thuế, tài chính, tín dụng. ............................................... 74 Ba là: chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tư, chính sách kích cầu. ....... 75 Thứ sáu: Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực........................................... 78 Thứ tám: Xã hội hóa dịch vụ tư vấn cho KTTN TPLX. .............................. 81 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................................................ 82 1. kết luận. ................................................................................................... 82 2. Kiến nghị. ................................................................................................ 83 1 PHẦN MỞ ĐẦU. 1. Lý do chọn đề tài. Thành phố Long Xuyên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của tỉnh An Giang. Thành phố nằm bên bờ sông hậu có diện tích tự nhiên 106,87 km2, dân số 247,281 người, gồm 9 phường và 3 xã. Tháng 02 năm 1976. Long Xuyên gồm các xã: Bình Đức, Mỹ Bình, Mỹ Long và Mỹ Phước. Ngày 01 tháng 03 năm 1977, theo quyết định số 239/TCUB của UBND tỉnh, thị xã Long Xuyên gồm 4 phường và 2 xã là: phường Bình Đức, Mỹ Bình, Mỹ Long, Mỹ Phước, xã Mỹ Hòa và Mỹ Thới với 13 khóm, 10 ấp. Năm 1979 tiếp tục sáp nhập thêm phường Mỹ Xuyên và hai xã Mỹ Khánh và Mỹ Thạnh theo Quyết định 08/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng [15, tr.61- 62]. Từ sau khi giải phóng, dưới sự lãnh đạo của tỉnh Đảng bộ, cùng với UBND tỉnh, đã có những chủ trương, biện pháp phát triển KT-XH mang lại sự ổn định trong cuộc sống cho mọi người dân. Trên cơ sở đó, nhân dân đã tích cực đầu tư phát triển kinh tế gia đình, xây dựng đời sống văn hóa mới, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, xã hội lên một bước đáng kể. Vì vậy, ngày 01 tháng 3 năm 1999, theo Nghị định 09/1999/NĐ.CP của chính phủ, TPLX, theo dạng đô thị loại III [15, tr.62]. Đó là thành quả của quá trình phấn đấu và nỗ lực của Đảng bộ và toàn dân trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Sau hơn mười năm phấn đấu và phát triển. TPLX đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực: kinh tế phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng ở mức bình quân mỗi năm hơn 13%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng dịch vụ - thương mại chiếm hơn 70%, CN xây dựng chiếm 25%. Đặc biệt ở lĩnh vực xây dựng đô thị, đã có tiến bộ rõ nét, đô thị Long Xuyên phát triển rộng hơn với tốc độ đô thị hóa cao, kết cấu hạ tầng đô thị hoàn chỉnh, góp phần thay đổi diện mạo thành phố theo hướng văn minh, hiện đại. Để ghi nhận và đánh dấu bước phát triển toàn diện của TPLX, ngày 14 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng chính phủ có Quyết định số 474/QĐ-TTg về việc công nhận TPLX, tỉnh An Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang. Khẳng định vị thế TPLX là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học -kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của tỉnh An Giang vùng tứ giác Long 2 Xuyên. Là một đô thị loại II, Long Xuyên sẽ phát huy hơn nữa vai trò trung tâm giao dịch với nước bạn Campuchia và các tỉnh trong khu vực. TPLX từ lâu là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh An Giang. Góp phần quan trọng trong việc phát triển KT-XH của tỉnh nhà. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của TPLX tương đối cao, ổn định và cao hơn mức tăng chung của tỉnh An Giang, năm 2007 tốc độ tăng trưởng kinh tế của TPLX là 15,48% và dự kiến năm 2010 tăng 16%. Đời sống của nhân dân TPLX hiện nay đã được cải thiện khá nhiều, số hộ nghèo năm 2007 giảm còn 4,22% (so với năm 2006 số hộ nghèo là 7,8%), số hộ dùng nước sạch được nâng lên 99,8%, số gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa chiếm khoảng 85%. Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục và y tế cũng được nâng lên đáng kể. Việc thực hiện phổ cập giáo dục phổ thông đạt hiệu quả cao, năm 2007 tỷ lệ học sinh phổ thông là 152 em/1000 người, chất lượng phục vụ y tế cho người dân cũng đã được cải thiện đáng kể. Nhân dân TPLX, giàu truyền thống cách mạng, năng động, tích cực trong việc phát triển ngành nghề, năng động trong KD, mạnh dạn đầu tư và có nhiều doanh nhân KD phát đạt là điều kiện thuận lợi cơ bản để KTTN phát triển. Hiện nay KTTN ở TPLX ngày càng phát triển với tốc độ cao và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của tỉnh nhà. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để KTTN TPLX phát triển đúng hướng, đúng mục tiêu và tăng trưởng bền vững. Nhìn chung, nhiều năm qua việc nghiên cứu KTTN ở tỉnh An giang có nhiều công trình như: “Thực trạng và giải pháp phát triển KTTN huyện chợ mới đến năm 2010” của T.S Trần Văn Hiển; “KTTN huyện Thoại Sơn - tỉnh An Giang thực trang và giải pháp” của Phan Thị Hồng Nga DH3CT…Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thành phần KTTN ở TPLX chưa có. Do vậy, “KTTN ở TPLX-Thực trạng và giải pháp”, là vấn đề mang tính cấp thiết, cần phải được nghiên cứu cẩn trọng. Đây là vấn đề vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn, nếu nghiên cứu thành công sẽ góp phần thúc đẩy CNH, HĐH của TPLX đạt tốc độ nhanh và bền vững. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. 2.1. Mục đích nghiên cứu. Đề tài nhằm mục đích: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KTTN ở TPLX giai đoạn 2005-2010. Từ đó đề xuất ra một số giải pháp cần thiết phát triển KTTN của thành phố trong thời gian tới. 3 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Khảo sát thực trạng hoạt động sản xuất - kinh doanh của KTTN ở TPLX. - Tìm ra những giải pháp nhằm phát triển khu vực kinh tế này trong thời gian tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 3.1. Đối tượng nghiên cứu. Một số công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, các hộ cá thể về hoạt động sản xuất KD, thương mại và dịch vụ dưới các loại hình: Lớn, vừa, nhỏ, trên địa bàn TPLX. 3.2. Phạm vi nghiên cứu. - Các công ty, doanh nghiệp loại lớn, vừa, nhỏ ở TPLX. - Thời gian từ 2005-2010. 4. Phương pháp nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu Tôi sẽ sử dụng phép biện chứng duy vật, phương pháp phân tích và tổng hợp, sơ đồ hóa,… 5. Đóng góp của khóa luận. Nếu đề tài được nghiệm thu : - Khóa luận có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các cấp ủy Đảng của thành phố trong việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách phát triển KT-XH ở TPLX. - Khóa luận cũng có thể là tài liệu tham khảo cho quí thầy cô, sinh viên trường Đại Học An Giang trong quá trình giảng dạy và học tập. 6. Kết cấu của khóa luận. Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương. Chương 1: Một số quan điểm cơ bản trong việc phát triển kinh tế tư nhân. 1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về KTTN. 1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển KTTN hiện nay. Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Long Xuyên trong giai đoạn (2005 -2010). 2.1. Tình hình KT-XH ở TPLX ảnh hưởng đến KTTN. 2.2. Thực trạng hoạt động của KTTN về sản xuất, thương mại - dịch vụ ở thành phố Long Xuyên. 2.2.1. Trong lĩnh vực sản xuất. 2.2.2. Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ. 4 Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Long Xuyên. 3.1. Phương hướng. 3.2. Giải pháp. PHẦN NỘI DUNG. CHƯƠNG 1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN. 5 1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế tư nhân. Chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất là một phạm trù kinh tế phản ánh sự thống nhất biện chứng giữa sở hữu với tư cách là điều kiện của sản xuất (Pháp lý), với sở hữu được thực hiện về mặt kinh tế trong quá trình sản xuất. Theo đó, chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất ra đời khi xã hội có giai cấp và có Nhà nước. Từ chế độ sở hữu hình thành nên nhiều hình thức sở hữu khác nhau, tương ứng với mỗi hình thức sở hữu là một thành phần kinh tế. Vì vậy, trong một nền kinh tế tất yếu tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có KTTN. KTTN là mô hình kinh tế ra đời, tồn tại và phát triển lâu dài trong những thời kỳ lịch sử của xã hội loài người. Sở hữu tư nhân đã xuất hiện trong các nền kinh tế trước tư bản chủ nghĩa và trở nên phổ biến, phát triển dưới nhiều hình thức mới trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản - giai đoạn tự do cạnh tranh, với những dự báo của Mác - Ăngghen về chủ nghĩa cộng sản và sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản đã đòi hỏi cần có cách nhìn mới về sở hữu tư nhân. Ở đây đặt ra vấn đề; sở hữu tư nhân còn tồn tại hay không trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản ? Bản chất của chủ nghĩa tư bản là chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về các tư liệu sản xuất. Ngược lại, là chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất trong chủ nghĩa xã hội. Tuy vậy sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội và sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa tư bản không kéo theo sự biến mất của hình thức tư hữu trong thời kỳ quá độ. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng: Trong thời kỳ quá độ, không thể thủ tiêu hình thức tư hữu ngay lập tức được mà chỉ có thể thực hiện dần dần. Điều này đã khẳng định sự tồn tại khách quan của hình thức tư hữu trong thời kỳ quá độ. Bởi vì chỉ khi nào đã tạo được một lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hóa sản xuất thực tế với năng suất lao động rất cao thì khi đó mới có thể xóa bỏ tư hữu về tư liệu sản xuất. khi đó, “ Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [4, tr.79]. Vì chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ra đời từ trong chế độ chiếm hữu nô lệ và lần lượt chuyển tiếp qua nhiều phương thức sản xuất cho đến nay; mặt khác cùng với quá trình phát triển của chế độ sở hữu tư nhân thì phân công lao động xã hội ngày càng được củng cố và phát triển. 6 Do vậy, KTTN là mô hình kinh tế ra đời, tồn tại và phát triển lâu dài trong những thời kỳ lịch sử của xã hội loài người. KTTN gắn chặt với sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa và ngược lại sự hình thành kinh tế hàng hóa phụ thuộc vào sự phát triển của nền KTTN. Trong bộ Tư bản, Mác đã phân tích rõ qui luật hình thành và phát triển của nền kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân và kết thúc quá trình nghiên cứu của mình Mác Khẳng định phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ diệt vong, việc ra đời phương thức sản xuất mới cộng sản chủ nghĩa là một hiển nhiên. Từ xã hội nọ sang xã hội kia tất yếu phải trải qua một thời kỳ lịch sử nhất định. Thời kỳ cải biến cách mạng - Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Sự tồn tại khách quan của hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, theo Mác lý giải thì đó là một xã hội mà về phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó lọt lòng ra. Chủ nghĩa xã hội là xã hội thoát thai từ chủ nghĩa tư bản nên vẫn mang trên mình “ những vết tích” của xã hội cũ trong đó KTTN là một trong những vết tích đó mà chủ nghĩa xã hội không thể xóa ngay tức khắc được [8, tr.6]. Quá độ lên chủ nghĩa cộng sản là những bước đi phức tạp với sự đan xen, lẫn lộn giữa cái cũ và cái mới. Vì thế trong thời kỳ quá độ khó tránh khỏi sự thiếu công bằng khi việc phân phối sản phẩm tiêu dùng theo số lượng và chất lượng lao động. Bởi vì, nó mặc nhiên thừa nhận sự không ngang nhau về năng lực lao động của những người lao động. Ở đây, cái quyền ngang nhau cũng là cái quyền tư sản tức là vẫn thừa nhận chế độ tư hữu trong khâu phân phối ở thời kỳ quá độ [8, tr.6]. Những luận điểm của Mác - Ăngghen về vai trò của giá trị và những quan hệ giá trị trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng đề cập đến vấn đề tư hữu. Mác và Ăngghen dự báo rằng sẽ không còn tồn tại nền sản xuất hàng hóa trong xã hội cộng sản nhưng lại không phủ nhận sự tồn tại của những quan hệ giá trị trong thời kỳ quá độ. Trong bộ “Tư bản” Mác cho rằng: “….Sau khi xóa bỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng vẫn còn duy trì nền sản xuất xã hội, thì sự qui định giá trị vẫn sẽ có tác dụng chi phối, theo ý nghĩa là việc điều tiết thời gian lao động và phân phối lao động xã hội giữa những nhóm sản xuất khác nhau, và cuối cùng việc ghi chép tất cả những khoản đó vào sổ kế toán sẽ trở thành quan trọng hơn bao giờ hết [8, tr.6]. 7 Như vậy Mác và Ăngghen đều thừa nhận sự tồn tại khách quan của hình thức tư hữu trong thời kỳ quá độ. Trên cơ sở đó Lênin đã phát triển thành lý luận về thành phần kinh tế, đặc biệt trong chính sách kinh tế mới (NEP). Nói về đặc trưng của thời kỳ quá độ, trong đó đặc biệt đề cập đến sự quá độ của nền kinh tế, trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực” Lênin đã viết:…“danh từ quá độ có nghĩa là gì ? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không ? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có. Song không phải mỗi người thừa nhận điều ấy đều suy nghĩ xem thành phần của kết cấu KT-XH khác nhau hiện có là như thế nào ?”. Trước hết Lênin đã khẳng định tính tất yếu của sự tồn tại các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, trong đó bao gồm cả “những” thành phần lấy lại của tư bản chủ nghĩa và XHCN. Song điều quan trọng mà Lênin muốn nhấn mạnh ở đây chính là sự phân định các thành phần kinh tế và từ đó nhận thức được sự khác nhau về bản chất giữa các thành phần kinh tế này. Theo Lênin mỗi một thành phần kinh tế phải được xem xét như một thành phần, một bộ phận, một “ mảnh” thống nhất biện chứng trong một kết cấu KT-XH. Thực tế đã khẳng định điều này. Xét dưới gốc độ kinh tế, mỗi thành phần kinh tế đều có những đặc trưng riêng, vốn có đó là sự khác biệt về trình độ và tính chất xã hội hóa lao động, trình độ phát triển lực lượng sản xuất, hệ thống quan hệ sản xuất và các lợi ích kinh tế v.v…trong đó đặc biệt là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Vì vậy, mặc dù trên thực tế các thành phần kinh tế không tách biệt nhau, quan hệ tác động lẫn nhau, đan kết với nhau trong các hình thức tổ chức kinh tế, các thành phần kinh tế vẫn không bị hòa tan, mà giữ nguyên bản chất của nó. Do đó muốn hay không muốn, giữa các thành phần kinh tế vẫn có sự phân định. Sự phân định này hoàn toàn mang tính khách quan, do quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quy định. Từ sự phân định này quyết định khả năng phát triển, vị trí, vai trò của mỗi thành phần kinh tế trong nền KT-XH và cũng từ sự phân định này dẫn đến sự khác biệt về thái độ chính trị của mỗi giai cấp trong từng thành phần kinh tế, vì vậy việc phân định thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó vừa mang tính khách quan do những đặc trưng vốn có của mỗi thành phần kinh tế qui định, nhưng đồng thời là sự cần thiết mang tính chủ quan của giai cấp cầm quyền để quản lý và lãnh đạo xã hội hoạt động một cách hiệu quả trong thời kỳ 8 quá độ. Ở đây không chỉ cần thiết dưới gốc độ kinh tế, mà đặc biệt dưới gốc độ chính trị, Lênin đã cho thấy rõ điều này [4, tr.164-165]. Theo Lênin các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ gồm có : 1) Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng. Nghĩa là một bộ phận lớn có tính chất tự nhiên 2) Sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó đại đa số nông dân). 3) Chủ nghĩa tư bản tư nhân. 4) Chủ nghĩa tư bản nhà nước. 5) Chủ nghĩa xã hội. Nhận xét về các thành phần kinh tế này Lênin đã chỉ ra:...“trong một nước tiểu nông thì tính tự phát tiểu tư sản chiếm ưu thế và không thể không chiếm ưu thế. Số đông thậm chí là đại đa số nông dân đều là những người sản xuất hàng hóa nhỏ” cuộc đấu tranh hiện đang mở rộng chính là ở lĩnh vực đó…cuộc đấu tranh đó diễn ra giữa ai với ai ? có phải là giữa thành phần thứ tư và thành phần thứ năm theo thứ tự mà tôi kể trên hay không ? đương nhiên là không. Ở đây không phải là chủ nghĩa tư bản Nhà nước đấu tranh với chủ nghĩa xã hội, mà là giai cấp tiểu tư sản cộng với chủ nghĩa tư bản tư nhân cùng nhau đấu tranh chống lại cả chủ nghĩa tư bản Nhà nước lẫn chủ nghĩa xã hội” [4, tr.165]. Thật vậy, trước bối cảnh nước Nga xô viết vừa mới ra đời còn non yếu, trước 14 nước tư bản bao vây, cấm vận, cộng thêm bọn bạch vệ bên trong thổi phồng lên cuộc nội chiến, buộc Lênin phải thực hiện chính sách cộng sản thời chiến, sau khi kết thúc chính sách này tỏ ra lỗi thời, tháng 3 năm 1921 Đảng cộng sản Nga thông qua chính sách kinh tế mới NEP do Lê nin khởi xướng. Nội dung của NEP là áp dụng chính sách thuế lương thực thay cho “chính sách cộng sản thời chiến”, khôi phục và phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp thông qua trao đổi hàng hóa giữa CN và nông nghiệp phù hợp với yêu cầu của nông nghiệp, nông dân, đổi mới quá trình lưu thông hàng hóa và ổn định tiền tệ, củng cố nền tài chính Xô viết…Mặt quan trọng của NEP là những phương pháp mới trong kinh doanh, trong tổ chức sản xuất và lao động. Lênin chỉ ra rằng, tiến trình phát triển khách quan của cách mạng đã chứng minh tầm quan trọng sống còn của việc kết hợp những nhân tố kích thích về cả tinh thần và vật chất, vì vậy, việc áp dụng một chính sách kinh tế mới phù hợp với điều kiện khách quan mới là việc làm cấp thiết. NEP ra đời trên cơ sở xem xét toàn diện các nhân tố gây ra cuộc khủng hoảng, trong đó nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ bên trong, đó 9 là những sai lầm về lãnh đạo, quản lý mà trước hết và chủ yếu là trên lĩnh vực kinh tế. Do đó, có thể thấy, NEP không chỉ là chính sách kinh tế mà còn là đường lối chính trị đúng đắn và dũng cảm để Nhà nước Nga Xô-viết tháo gở khó khăn, điều hành sự phát triển KT-XH theo con đường XHCN. Chỉ sau một thời gian ngắn thực hiện NEP, KT-XH nước Nga Xô - viết được cải thiện nhanh chóng. Ngay trong năm 1921, vụ thuế lương thực đầu tiên đạt 90% (mặc dù bị hạn hán và nạn đói nghiêm trọng); Từ năm 1922 đến 1925, sản lượng lương thực tăng từ 56,3 triệu tấn lên 74,7 triệu tấn, nông nghiệp được phục hồi và phát triển, kéo theo sự khôi phục của CN, thương nghiệp và giao thông vận tải, đời sống nhân dân lao động được cải thiện rõ rệt, tình hình chính trị - xã hội dần được ổn định. Sự thành công của NEP ở nước Nga Xô Viết trong những năm đầu khôi phục, phát triển KT-XH theo con đường XHCN, đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu, có thể áp dụng cho những nước có hoàn cảnh, điều kiện KT-XH tương tự. Một là, xác định đúng vai trò quyết định của nông dân đối với thành công của sự nghiệp cách mạng XHCN, đặc biệt là đối với những nước có nền kinh tế tiểu nông, nông dân chiếm đại đa số trong dân cư. Hai là, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa CN và nông nghiệp, xây dựng liên minh công nông trên cơ sở cả chính trị và kinh tế. Ba là, con đường đi từ nền kinh tế nhiều thành phần đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phải qua những bước trung gian, những hình thức quá độ. Bốn là, đổi mới quản lý kinh tế theo hướng chuyển từ biện pháp hành chính thuần túy sang biện pháp kinh tế. Nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Lênin cùng với chính sách kinh tế mới đã đưa nước Nga thoát khỏi cuộc khủng hoảng KT-XH, hàn gắn được vết thương chiến tranh, nhất là cuộc nội chiến (1918-1920) đưa nền kinh tế Nga phát triển vượt bậc. Điều này khẳng định tính đúng đắn trong quan điểm của Lênin về hình thức tư hữu nói chung và KTTN nói riêng. Rất tiếc, sau khi Lê nin qua đời, NEP không được sử dụng, nền kinh tế Liên Xô chuyển sang mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung. 1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế tư nhân hiện nay. Mô hình KT-XH tập trung đã phát huy tác dụng tích cực trong giai đoạn đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, song dần dần đã bọc lộ khuyết tật, hạn chế, yếu kém, là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khủng 10 hoảng toàn diện của hệ thống XHCN trên thế giới. Trước tình hình này các Đảng cộng sản ở các nước XHCN buộc phải xem xét lại mô hình KT-XH đang áp dụng và đã nhận ra những khuyết tật của nó cùng những sai lầm trong công tác lãnh đạo, quản lý. Sự vận dụng NEP như thế nào, điều đó phụ thuộc vào sự nhận thức và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước. Đối với Việt Nam, mặc dù điều kiện, lịch sử không hoàn toàn giống nước Nga Xô viết, song có nét tương đồng: Nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, nông dân chiếm đại đa số trong dân cư,…Vì vậy, chính những bài học kinh nghiệm của NEP có thể được áp dụng linh hoạt với Việt Nam. Nhận thức được vấn đề này, Đảng ta đã vận dụng một cách sáng tạo, tài tình NEP vào công cuộc đổi mới đất nước. Trước hết có thể thấy rằng, Đảng ta đã đặt đúng vị trí vấn đề nông dân và kinh tế nông nghiệp. “tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” [3, tr.26]. Là quan điểm chính trị nhất quán được thực hiện từ Đại hội V của Đảng đến nay. Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta cũng đã khẳng định: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu khách quan và chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Tuy nhiên trước Đại hội VI, do nôn nóng tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường quá độ trực tiếp, nên trong quá trình triển khai đường lối phát triển kinh tế chúng ta đã vấp phải một sai lầm khi đặt KTTN vào vị trí là đối tượng cải tạo, nên xem nhẹ và có phần muốn xóa bỏ thành phần kinh tế này chỉ đến Đại hội VI KTTN được Đảng ta chính thức thừa nhận cùng với quan điểm nhất quán phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Quá trình đổi mới và phát triển kinh tế của đất nước cũng là quá trình đổi mới tư duy lý luận - thực tiễn của Đảng về KTTN, từ chỗ còn dè dặt thận trọng, chỉ cho phát triển có giới hạn trong một số ngành lĩnh vực cụ thể, đến bảo đảm quyền tự do KD, khuyến khích tạo điều kiện để KTTN phát triển trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Đó là một quá trình phát triển cả về tư duy lý luận và thực tiễn vận động, phát triển của KTTN gắn liền với chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện dân chủ hóa kinh tế và nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện quan điểm này Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, xây 11 dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân, trong đó tiêu biểu là chỉ thị 100-CT/TW, Khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp; Nghị quyết 10-NQ/Tw của bộ chính trị khóa VI về quản lý nông nghiệp và tiếp theo đó là Nghị quyết trung ương 6 khóa VI về chủ trương CNH, HĐH phải phục vụ cho nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn… Vận dụng bài học kinh nghiệm NEP vào công cuộc đổi mới ở nước ta còn thể hiện ở đường lới phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đã được nhận thức từ đại hội VI của Đảng, và tư tưởng này được các kỳ Đại hội VII, VIII, IX và X của Đảng tiếp tục tái khẳng định, bổ sung và hoàn thiện với nhiều nội dung, biện pháp, chính sách mới như: giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, khuyến khích phát triển và định hướng thành phần KTTN theo quỹ đạo chủ nghĩa xã hội, sử dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…Trong quản lý kinh tế cương lĩnh của Đảng lại một lần nữa khẳng định tính chất lâu dài và vững chắc của đường lối của Đảng về phát triển kinh tế: “Xóa bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác”. Sự vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của NEP đã góp phần quan trọng vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước. Trong hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng KT-XH, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện, kinh tế tăng trưởng nhanh; sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN đang được đẩy mạnh; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đang được củng cố và tăng cường; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng và an ninh được giữ vững. Qua đó, khẳng định được hình thức tồn tại của KTTN: “KTTN gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân”. [1, tr.25] KTTN là những đơn vị kinh tế được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sở hữu tư nhân có nhiều hình thức như: sở hữu của hộ gia đình, sở hữu của hộ tiểu chủ, trang trại và sở hữu của tư bản tư nhân…đây là khu vực kinh tế bao gồm các hộ KD cá thể, tiểu chủ và các loại hình doanh nghiệp như: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công 12 ty hợp doanh, công ty cổ phần phát triển trong các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp, CN-TTCN, thương mại - dịch vụ ở nông thôn và thành thị. Kinh tế trang trại, kinh tế hộ nông dân cũng được đưa vào kinh KTTN, mặc dù có mang đặc điểm riêng của nó. Việc đưa kinh tế hộ nông dân vào cùng với khu vực KTTN là để đảm bảo tính hệ thống của tổng thể kinh tế cá thể tiểu chủ ở cả thành thị và nông thôn, không có gì thay đổi về mặt chính trị của nông dân - quân chủ lực của cách mạng. Khu vực kinh tế này đã và đang phát triển mạnh mẽ, thu hút được đông đảo tầng lớp dân cư tham gia và ngày càng chứng tỏ vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Từ quan niệm trên, vị trí của KTTN cũng được Đảng và Nhà nước xác định : KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Đại hội VIII của Đảng khẳng định “ kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước, khuyến khích KTTN đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp và tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn theo pháp luật, có lợi quốc kế dân sinh”.[15, tr.5]. Quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta có tầm quan trọng đặc biệt, tạo điều kiện ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của KTTN trong sự nghiệp CNH, HĐH. Văn kiện Đại hội IX, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX xác định: “ Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, CNH, HĐH, nâng cao năng lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế” [8, tr.8]. Đây là kết quả của quá trình phát triển KTTN trong thực tiễn, đồng thời cũng là quá trình nhận thức về KTTN và sự khẳng định vị trí, vai trò của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Đảng từ đổi mới đến nay. Từ Đại hội IV đến Đại hội IX KTTN từ chỗ không được thừa nhận đến được thừa nhận; từ chỗ thừa nhận có mức giới hạn cả về qui mô lẫn thời gian đến sự mở rộng và lâu dài. Từ chỗ được phát triển nhưng không được hỗ trợ giúp đỡ tiến tới được Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ, khuyến khích, cỗ vũ, tôn vinh. Từ phân biệt đối xử trong chính sách, pháp luật dần chuyển sang quan hệ bình đẳng, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế. 13 Sự khẳng định trên của Đảng cũng ngày càng được Nhà nước thể chế hóa, vị trí của KTTN được ghi trong Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt Nam (1992) và các luật như: Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân (1990) và có hiệu lực từ ngày 15 - 4 - 1991 và một số các luật khác. Ngoài ra, Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản quan trọng như Nghị quyết 27 - HĐBT (9-3-1988) quy định về chính sách đối với KTTN, cá thể. Nghị định 66-HĐBT (1992) đối với các cơ sở, kinh doanh dưới vốn pháp định. Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 3-2-2000 của chính phủ hướng dẫn thi hành luật doanh nghiệp, quyết định 1253/QĐ-TTg ngày 19-12-1999 của Thủ Tướng chính phủ về bãi bỏ các giấy phép trái với qui định của luật doanh nghiệp (12-6-1999) một số luật, Nghị định, quyết định nêu trên là những cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định vị trí pháp lý của KTTN ở nước ta, quyền tự do KD và bảo hộ sở hữu tư nhân hợp pháp. Sự thừa nhận cả về mặt chính trị và pháp lý đã tạo cơ sở quan trọng cho thành phần KTTN phát huy hết vai trò của mình trên tất cả các lĩnh vực KT-XH, trở thành lực lượng quan trọng thúc đẩy sự phát triển toàn diện trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Trước hết là khả năng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và sử dụng tối ưu các nguồn lực địa phương. Việc thành lập các hộ KD cá thể, các doanh nghiệp thuộc KTTN không đòi hỏi quá nhiều vốn, nhất là các doanh nghiệp quy mô nhỏ. Cùng với sự khuyến khích của Nhà nước đã tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư. Mặt khác, trong quá trình hoạt động các loại hình doanh nghiệp tư nhân có thể dễ dàng huy động vốn vay từ quan hệ họ hàng, bạn bè…Cho nên việc đẩy mạnh phát triển các loại hình doanh nghiệp tư nhân được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động các khoảng tiền đang phân tán, nằm im trong dân cư thành nguồn vốn đầu tư. Do KD trên tài sản của mình nên các chủ cơ sở KD vừa phải thận trọng, vừa chớp thời cơ, không để mất cơ hội KD sao cho đồng vốn được luân chuyển và sinh lời nhiều nhất. Điều này đã tạo cho KTTN có ưu thế rất rõ nét về sự năng động, nhạy bén cũng như việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn xã hội. Hòa cùng chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta, các địa phương lần lượt triển khai, cụ thể hóa thành những biện pháp phát triển kinh tế ở các địa phương, trong đó có An giang. Năm 2000 được xem là dấu mốc quan trọng với sự ra đời của luật doanh nghiệp mới (có hiệu lực từ 1/1/2000) đã tạo đà cho thành 14 phần KTTN có bước chuyển biến nổi bật. Tính đến ngày 30/9/2009 đã cấp giấy chứng nhận đăng ký KD cho 724 doanh nghiệp (so với cùng kỳ năm 2008, doanh nghiệp đăng ký tăng 245 doanh nghiệp; tỷ lệ tăng 51,15% ); tổng số vốn đăng ký KD 3.691 tỷ đồng (so với cùng kỳ năm 2008, tổng số vốn đăng ký tăng 60 tỷ đồng; tỷ lệ tăng 1,65%). Cấp thay đổi bổ sung 691 doanh nghiệp và 114 chi nhánh/VPĐD. Bình quân vốn đăng ký KD của một doanh nghiệp gần 5,1 tỷ đồng. Nâng tổng số doanh nghiệp có trên địa bàn tỉnh lên 4.865 doanh nghiệp, bao gồm: 2.191 doanh nghiệp tư nhân, 1.099 công ty TNHH hai thành viên trở lên, 397 công ty TNHH một thành viên, 141 công ty cổ phần và 1.037 chi nhánh/VPĐD. Tổng số vốn đăng ký KD của 3.828 doanh nghiệp là 16.636 tỷ đồng. Quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta có tầm quan trọng đặc biệt, tạo điều kiện ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của KTTN trong sự nghiệp CNH, HĐH. Kinh tế cá thể tiểu chủ xuất hiện và phát huy tác dụng ở thành thị lẫn nông thôn, cả trong CN-TTCN lẫn thương mại và dịch vụ. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa gắn với thị trường thì nó có vai trò quan trọng trước mắt cũng như lâu dài trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Còn kinh tế tư bản tư nhân có vai trò quan trọng xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, về phát triển nền sản xuất hàng hóa, về giải quyết các vấn đề xã hội. Vì vậy Đại hội VIII của Đảng khẳng định “kinh tế tư bản tư nhân có khả năng đóng góp phần xây dựng đất nước, khuyến khích KTTN đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp và tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn theo pháp luật, có lợi quốc kế dân sinh”.[15, tr.5]. Như vậy, về lý luận cũng như qua sự vận động thực tiễn hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh sức sống và vai trò to lớn của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội ở nước ta. Nhưng để khẳng định và xem xét vai trò quan trọng của KTTN cần xem xét các hoạt động của nó trong nền kinh tế thị trường hiện nay trên một số nét chủ yếu sau: Thứ nhất phải tăng vốn đầu tư xã hội để phát triển sản xuất KD. Để sản xuất, KD, mọi chủ thể đều phải đầu tư, mà trước hết là đầu tư vốn tiền tệ. Với sự khuyến khích của Nhà nước đã tạo cho KTTN tự bỏ vốn và huy động mọi nguồn vốn trong dân để đầu tư KD. Khi tiến hành các hoạt động đầu tư, do luôn phải chịu sức ép gay gắt của cạnh tranh, cho nên KTTN phải có khả năng phản ứng linh hoạt trước những 15 biến động để đối phó với những rủi ro. Vì thế, đa phần là họ tự bỏ vốn, tự tích lũy hoặc bằng việc tự huy động từ nhiều nguồn khác nhau. Để đồng vốn trên luân chuyển sinh lời nhiều nhất, KTTN rất linh hoạt trong lựa chọn yêu cầu của khách hàng và “tín hiệu” của thị trường. Do đó, KTTN luôn tăng đầu tư vốn trong quá trình phát triển sản xuất KD và góp phần vốn không nhỏ cho quá trình CNH, HĐH đất nước. Từ năm 2005 đến năm 2009, vốn đầu tư của KTTN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Vốn sử dụng, vốn đầu tư phát triển và vốn đăng ký KD đều tăng, năm 2009 vốn đăng ký KD của doanh nghiệp tư nhân tăng rất nhanh, đạt 15,831 tỷ đồng gấp 5,5 lần so với năm 2005. Ở tỉnh An Giang, vốn đầu tư tư nhân chiếm tỷ lệ khoảng 35% so với tổng số vốn đầu tư trên địa bàn của tỉnh. Nhiều hơn khoảng 10 lần so với đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, hơn 28 lần so với đầu tư FDI. Thứ hai, đóng góp tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo. Chúng ta đều biết lao động là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của nền sản xuất xã hội. Vì vậy, giải quyết việc làm không chỉ có ý nghĩa về mặt xã hội mà luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước, là một trong những điều kiện để đảm bảo tăng trưởng, phát triển kinh tế nhanh chóng, bền vững. Hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, điều quan trọng là phải sắp xếp lại nguồn lao động. Theo Nghị quyết hội nghị trung ương 5 về KTTN, năm 2000, lao động trong khu vực KTTN chiếm tới 56,3% lao động có việc làm thường xuyên trong cả nước. Trong ngành phi nông nghiệp, trong 4 năm (1997-2000), đã thu hút thêm lao động có việc làm gấp 6,6 lần so với khu vực Nhà nước (=977.019 lao động). Ngành nông nghiệp, giải quyết việc làm chiếm tới 63,9% trong tổng số lao động nông nghiệp toàn quốc [15, tr.7]. Ở An Giang từ năm 2000 đến tháng 6/2004 KTTN đã góp phần gải quyết việc làm cho người lao động trên 40.000 người, trong đó các loại hình doanh nghiệp đã tạo việc làm cho trên 12.000 lao động, hộ KD cá thể 30.000 lao động. Thực tế cho thấy KTTN không những đã góp phần rất lớn trong việc tạo ra nhiều việc làm cho người lao động mà còn cùng với Nhà nước thực hiện tốt vấn đề xóa đói giảm nghèo tại địa phương. Những doanh nghiệp ở địa phương trước hết sẽ tạo ra việc làm; riêng những doanh nghiệp, cơ sở KD tập trung ở các thành phố lớn thu hút được đông đảo 16 lực lượng lao động ở nông thôn muốn chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp. Nếu bình quân một doanh nghiệp tư nhân sử dụng 6 lao động, một công ty TNHH 31 lao động, một hộ KD cá thể 2 lao động thì với hàng trăm nghìn cơ sở tư nhân ở tỉnh đã giải quyết một áp lực lớn về việc làm cho người lao động, thực hiện xóa đói giảm nghèo có hiệu quả. Mặt khác, KTTN còn từng bước tạo ra một lực lượng lao động giỏi. Bởi vì muốn đứng được vững trong cạnh tranh, các doanh nghiệp tư nhân, cơ sở kinh doanh cá thể phải luôn có biện pháp tổ chức lao động, quản lý nhân sự hiệu quả nhất. Do vậy kỷ luật lao động được thực hiện rất sát sao từ khâu tuyển chọn đến bố trí, sử dụng lao động sao cho thích hợp. Bản thân người lao động cũng phải có ý thức tự nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần nâng cao sức cạnh trạnh cho doanh nghiệp. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Riêng ở TPLX, trong 2 năm (2007- 2008) KTTN đã giải quyết việc làm cho người lao động khoảng 15.932 người, trong đó các loại hình doanh nghiệp đã tạo việc làm cho khoảng 15.816 lao động. Trong đó doanh nghiệp tư nhân đã giải quyết việc làm cho 384 lao động, công ty TNHH, công ty cổ phần 15.432 lao động Thứ ba, KTTN đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và tăng ngân sách Nhà nước. Khu vực KTTN có mặt hầu hết các ngành nghề: CN chế biến, nông, lâm, ngư, nghiêp, xây dựng, thương mại, dịch vụ. Góp phần hình thành nên những doanh nghiệp đa dạng, phong phú, khai thác mọi tiềm năng kinh tế của đất nước. Thương mại - dịch vụ dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng là tác nhân quan trọng thúc đẩy các ngành sản xuất công nông nghiệp tăng trưởng. Từ đó đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế và ngân sách Nhà nước. Năm 2000, cả nước có gần 9,8 triệu hộ KD cá thể và đến năm 2001 66.780 doanh nghiệp đăng ký KD với các loại hình doanh nghiêp tư nhân chiếm 58,75%, công ty TNHH 38,68%, công ty cổ phần 2,25%, công ty hợp doanh 0,01%. Chỉ trong vòng 2 năm từ tháng 1/2000 đến tháng 3/2002, cả nước có trên 42.000 doanh nghiệp và hơn 300.000 hộ KD mới đăng ký, tương đương với số doanh nghiệp đăng ký trong 10 năm trước đó. Năm 2000, GDP KTTN chiếm 42,3% GDP toàn quốc. Trong đó các ngành phi nông nghiệp có mức đóng góp chiếm tỷ lệ khá cao bằng 63,6% khu vực KTTN, hay bằng 26,87% GDP toàn quốc, tăng 25,94% so với năm 1995, mức tăng bình quân 7%/năm. Còn đối với các
- Xem thêm -