Kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình hiện nay

  • Số trang: 114 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 103 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kinh tế cá thể, tiểu chủ có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, gắn liền với sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa. Trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta phát triển theo mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp, chỉ tồn tại một hình thức sở hữu công hữu với hai thành phần kinh tế: quốc doanh và tập thể. Do đó, kinh tế cá thể, tiểu chủ không được tạo điều kiện phát triển, hơn nữa còn bị coi là “phi XHCN”, là “đối tượng cải tạo XHCN”. Mặc dù vậy, trên thực tế nó vẫn hoạt động dưới dạng “kinh tế ngầm”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức thực tiễn, trong đổi mới tư duy lý luận, trước hết là tư duy kinh tế. Với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm giải phóng và khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, phát triển LLSX, kinh tế cá thể, tiểu chủ có điều kiện phục hồi và phát triển. Nhờ vậy, trong những năm vừa qua, bộ phận kinh tế này ở nước ta đã phát triển nhanh chóng và ngày càng khẳng định là một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế quốc dân. Theo số liệu từ cuộc tổng điều tra các cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp năm 2002, hàng năm tỷ trọng đóng góp của kinh tế cá thể, tiểu chủ vào tổng sản phẩm trong nước ở mức trên 30%. Đồng thời, kinh tế cá thể, tiểu chủ còn đóng vai trò rất quan trong việc giải quyết việc làm. Đến năm 2005, khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ cả nước đã có trên 3 triệu hộ hoạt động trong các ngành và các lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp và trên 10 triệu hộ hoạt động sản xuất nông nghiệp, thu hót khoảng 28,6 triệu lao động tham gia làm việc (chiếm 65,6% sè lao động có việc làm cả nước và 74,6% lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh) [4, tr.233]. Do đó, kinh tế cá thể, tiểu chủ đã góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp. Những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội mang tính đặc thù đó đã tạo điều kiện cho kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình phát triển nhanh chóng, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp với mô hình kinh tế hộ và kinh tế trang trại. Hiện nay kinh tế cá thể, tiểu chủ đã và đang có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh. Trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh tế cá thể, tiểu chủ đang chiếm giữ tỷ trọng rất lớn. Theo số liệu của Cục Thống kê Thái Bình năm 2004 cho thấy: kinh tế cá thể, tiểu chủ chiếm tới 38,4% giá trị sản xuất nông nghiệp; 77,7% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ và chiếm 45,4% giá trị sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình còn bộc lé nhiều yếu kém, hạn chế như: quy mô nhỏ bé, phân tán, manh mún, vốn Ýt, công nghệ lạc hậu, trình độ tay nghề của người lao động thấp, sức cạnh của hàng hóa thấp... Mặt khác, những khó khăn vướng mắc về cơ chế chính sách, về tâm lý xã hội... cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của bộ phận kinh tế này. Trên thực tế kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của nó. Vì vậy, với mong muốn được góp phần làm rõ hơn những cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế cá thể, tiểu chủ, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển trong phạm vi cả nước nói chung, Thái Bình nói riêng, vấn đề: "Kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình hiện nay" được chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Kinh tế cá thể, tiểu chủ là vấn đề khá nhạy cảm và phức tạp cả về lý luận và giải pháp thực tiễn. Do vậy, nó đã và đang là đối tượng nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức và các nhà khoa học. Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau, được công bố dưới dạng chuyên đề, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các kỷ yếu đề tài cấp bộ, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí…như: - GS.TS Hồ Văn Vĩnh (chủ biên), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến vị trí, vai trò của KTTN trong nền kinh tế nhiều thành phần; vấn đề quản lý của nhà nước đối với KTTN, thực trạng KTTN ở nước ta, phương hướng, giải pháp, chiến lược phát triển KTTN trong tình hình hiện nay. - TS. Hà Huy Thành (chủ biên), Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân - lý luận và chính sách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân, đánh giá, phân tích thực trạng phát triển khu vực KTTN ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, đồng thời trình bày những quan điểm, chính sách và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực KTTN trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Luận văn thạc sĩ Đồng Hương Gấm, Kinh tế tư nhân ở tỉnh Lạng Sơn, thực trạng và giải pháp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004. Tác giả đã phân tích, đánh giá vị trí, vai trò và xu hướng vận động của KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN. Phân tích thực trạng KTTN ở tỉnh Lạng Sơn, từ đó đề ra những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả KTTN ở Lạng Sơn. - Lê Xuân Tùng, Các thành phần kinh tế và quan hệ sản xuất, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989. Tác giả đã đề cập đến các quan điểm lý luận và nhận thức mới của Đảng ta về cách mạng QHSX, những chính sách mới của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. - Cùng một số bài viết của các tác giả: PGS.TS Nguyễn Đình Kháng; TS. Lê Xuân Bá, PGS.TS Hồ Trọng Viện, PGS.TSKH Trần Nguyễn Tuyên. Tóm lại, với nhiều mức độ và cách tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đi sâu phân tích những đặc điểm, vai trò, thực trạng của kinh tế cá thể, tiểu chủ, đề xuất những giải pháp thúc đẩy phát triển bộ phận kinh tế này ở nước ta. Song, cho đến nay chưa có nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công bố, tôi hy vọng góp phần làm sáng tỏ hơn vấn đề phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ trên địa bàn tỉnh Thái Bình. 3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn - Mục đích: Mục đích nghiên cứu của luận văn là khẳng định vị trí, vai trò của kinh tế cá thể, tiểu chủ, làm rõ xu hướng vận động của nó, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình, trong đó nhấn mạnh những vấn đề đặt ra, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp phù hợp để phát triển bộ phận kinh tế này ở Thái Bình trong thời gian tới. - Nhiệm vô: + Đánh giá vị trí, vai trò của kinh tế cá thể, tiểu chủ trong nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. + Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của kinh tế cá thể, tiểu chủ (thuộc thành phần KTTN) ở Thái Bình hiện nay: Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân. + Luận chứng những quan điểm cơ bản và đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Kinh tế cá thể, tiểu chủ (thuộc thành phần KTTN). - Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Thái Bình trong giai đoạn (từ năm 2001 đến nay). 5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu - Luận văn được thực hiện dùa trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những chủ trương, chính sách của Nhà nước về các thành phần kinh tế nói chung, kinh tế cá thể, tiểu chủ nói riêng. Ngoài ra, luận văn kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến đề tài. - Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp lôgíc và lịch sử. Ngoài các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, điều tra… 6. Những kết quả đạt được của luận văn - Trên cơ sở lý luận chung, luận văn phân tích, khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò của kinh tế cá thể, tiểu chủ và xu hướng vận động của nó trong nền KTTT định hướng XHCN. - Đánh giá đúng thực trạng kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy những lợi thế, tiềm năng của bộ phận kinh tế này ở tỉnh Thái Bình hiện nay. - Luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành trong tỉnh, tham khảo, hoạch định các chính sách nhằm phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ nói riêng và phát triển kinh tế, xã hội nói chung. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết. Chương 1 kinh tế cá thể, tiểu chủ và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ CÁ THỂ, TIỂU CHỦ 1.1.1. Khái niệm, bản chất và các hình thức tổ chức của kinh tế cá thể, tiểu chủ 1.1.1.1. Khái niệm kinh tế cá thể, tiểu chủ * Về kinh tế cá thể: Trong sự phân loại các thành phần kinh tế của V.I Lênin không có tên thành phần kinh tế cá thể, nó được Người sử dụng bằng khái niệm “kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ”. Ở nước ta khái niệm kinh tế cá thể xuất hiện vào thời kỳ cải tạo XHCN (1958 - 1960) khi có phong trào hợp tác hóa mà thực chất là tập thể hóa đưa các hộ sản xuất kinh doanh độc lập, riêng lẻ vào kinh tế tập thể dưới các hình thức HTX. Trong Chỉ thị 81/CT – TW (14/5/1958), có đoạn viết: “Đặc điểm của thủ công nghiệp cá thể là sản xuất phân tán, vốn Ýt, công cụ thô sơ kỹ thuật lạc hậu...”. Ở đây kinh tế cá thể được quy định bởi hai tiêu thức: một là trình độ thấp; hai là sản xuất nhỏ lẻ, phân tán. Các loại hình kinh tế có thuộc tính nhỏ lẻ phân tán đã được gộp chung lại vào một khái niệm “kinh tế cá thể”. Như vậy, kinh tế cá thể là loại hình kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân những người nông dân, thợ thủ công, những người buôn bán kinh doanh dịch vụ, hoạt động dùa trên quan hệ sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX và lao động chủ yếu của chính hộ hay cá nhân đó. * Về kinh tế tiểu chủ: Trong sự phân loại thành phần kinh tế của V.I Lênin cũng không có thành phần kinh tế tiểu chủ. Cũng như kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ là loại hình kinh tế được nâng lên thành thành phần kinh tế, là một khái niệm xuất hiện trong thực tế đúng ra là tên gọi một loại hình kinh tế. Khái niệm thành phần kinh tế tiểu chủ cũng được ra đời trong điều kiện cải tạo XHCN nền kinh tế. Trong những năm vừa qua, thực hiện công cuộc đổi mới với những chủ trương chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước ta, kinh tế nông thôn đã có bước khởi sắc. Các mô hình kinh tế trang trại đã hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trong các trang trại ngoài lao động trong gia đình còn phải thuê mướn thêm một số lao động. Do vậy, kinh tế trang trại là một hình thức của kinh tế tiểu chủ trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Đồng hành với kinh tế trang trại, các làng nghề truyền thống cũng được phục hồi và phát triển nhanh chóng, các làng nghề đã được thu hót và sử dụng một số lượng lớn lao động, thu hót nguồn vốn rất lớn trong dân cư, tạo nhiều việc làm thúc đẩy sự phát triển của ngành tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn và thành thị. Trong điều kiện đó, một số người sản xuất cá thể đã trở thành tiểu chủ trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp. Như vậy, kinh tế tiểu chủ cũng là loại hình kinh tế dùa trên sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX như kinh tế cá thể nhưng có thuê thêm lao động ngoài lao động của chủ. Loại hình kinh tế tiểu chủ đã được ghi nhận trong Báo cáo Chính trị tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII và được khẳng định lại tại Đại hội Đảng lần thứ VIII. Từ sự trình bày trên có thể định nghĩa: “kinh tế CT, TC (của nông dân, thợ thủ công, người làm thương nghiệp và dịch vụ cá thể) bao gồm những đơn vị kinh tế dùa trên hình thức sở hữu tư nhân quy mô nhỏ về TLSX và hoạt động chủ yếu dùa vào sức lao động của từng hộ” [40, tr.14]. Đại hội Đảng lần thứ IX, trong chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, Đảng ta đã khẳng định: "Từ các hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, hình thành nhiều thành phần kinh tế" [16, tr.98], cụ thể gồm 6 thành phần: Kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế CT, TC; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy, kinh tế CT, TC tại Đại hội Đảng lần thứ IX được thừa nhận là một trong sáu thành phần kinh tế. Đến Đại hội X, với quan điểm: Phải có chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế cùng phát triển, không phân biệt đối xử, kỳ thị, định kiến với bất cứ thành phần kinh tế nào. Ban Chấp thành Trung ương khoá IX đã biểu quyết nhất trí nêu phương án để trình với Đại hội về vấn đề thành phần kinh tế. Theo phương án này, ở nước ta hiện nay có các thành phần kinh tế như sau: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất kinh doanh và sở hữu [17, tr.336]. Đại hội X khẳng định ở nước ta tồn tại 5 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; KTTN; kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Việc phân định các thành phần kinh tế của Đại hội IX và Đại hội X có sự khác nhau, song nội hàm khái niệm kinh tế CT, TC vẫn không thay đổi. 1.1.1.2. Bản chất của kinh tế cá thể, tiểu chủ Khi nghiên cứu lý luận về thành phần kinh tế chúng ta thấy tiêu thức cơ bản để xác định một thành phần kinh tế, một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh, thuộc về thành phần kinh tế nào chính là dùa trên QHSX mà cơ sở của nó là quan hệ sở hữu về TLSX. Do vậy, khi nghiên cứu bản chất của kinh tế CT, TC phải xem xét trên ba mặt của QHSX đó là quan hệ sở hữu về TLSX, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. * Xét về quan hệ sở hữu: Kinh tế CT, TC dùa trên hình thức sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX. Đó là hình thức sở hữu của những người lao động tự do, sản xuất ra sản phẩm chủ yếu bằng sức lao động của chính mình và các thành viên trong gia đình. Đây không phải là hình thức đặc trưng của một phương thức sản xuất nhất định mà nó tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau. Riêng với bộ phận kinh tế tiểu chủ cũng dùa trên sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX nhưng có sự thuê mướn nhân công ngoài lao động của chủ. Vậy bản chất của các loại hình kinh tế này là gì? Nó có khác với kinh tế tư bản tư nhân (bộ phận có bóc lột lao động làm thuê) không? kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tiểu chủ giống nhau ở chỗ: cùng thuê mướn lao động, lao động làm thuê tạo ra một lượng giá trị thặng dư nhất định cho người chủ. Như vậy tiêu chí chung để xác định một ông chủ là nhà tư sản ở chỗ: họ có thuê mướn nhân công và bóc lột giá trị thặng dư do lao động làm thuê tạo ra. Nhưng không phải bất cứ người nào thuê mướn lao động cũng trở thành nhà tư bản. Sự phân biệt giữa nhà tư bản và người tiểu chủ được thể hiện ở chỗ: khi người chủ còn trực tiếp tham gia lao động và chưa phải là chủ của một số tiền nhất định đủ để: + Mua các TLSX cần thiết. + Thuê sức lao động để hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận họ thu được phải đủ: đảm bảo cho gia đình và bản thân họ có mức sống cao trong xã hội; có tích luỹ để tái sản xuất mở rộng, thì họ vẫn là người tiểu chủ. Từ sự phân tích trên ta thấy kinh tế tiểu chủ khác với kinh tế tư bản tư nhân ở chỗ: người chủ sở hữu TLSX vẫn trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Bản thân họ và các thành viên trong gia đình vẫn là lực lượng lao động chính trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Sè lao động làm thuê không nhiều và giá trị thặng dư do lao động tạo ra không đáng kể, quy mô vốn đầu tư thấp hơn so với kinh tế tư bản tư nhân. Do đó, mặc dù có thuê lao động nhưng nguồn thu nhập của kinh tế tiểu chủ vẫn chủ yếu dùa vào vốn và lao động của bản thân và gia đình người chủ. * Xét về quan hệ quản lý: Do dùa trên quan hệ sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX, quan hệ quản lý của bộ phận kinh tế này có đặc điểm: dùa trên sự tự điều hành, tổ chức, phân công công việc trong nội bộ gia đình dùa trên quyền lực của người chủ trong gia đình. Các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ phục tùng sự phân công, điều khiển của người chủ đối với các vấn đề sản xuất kinh doanh. Quan hệ giữa người chủ gia đình với các thành viên trong gia đình không phải là quan hệ chủ thợ hay quan hệ bóc lột mà là quan hệ mang tính chất gia trưởng. Tuy vậy, trong quá trình phát triển nhiều hộ CT, TC do nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất đã thuê nhân công. Như vậy đã xuất hiện mầm mèng bóc lột, nhưng chõng nào người chủ vẫn trực tiếp tham gia lao động sản xuất, nguồn thu nhập chủ yếu vẫn dùa vào lao động của họ và gia đình thì ranh giới giữa bóc lột và bị bóc lột vẫn chưa được xác định rõ ràng. * Xét về quan hệ phân phối: Thực chất của quan hệ phân phối là giải quyết tốt mối quan hệ về lợi Ých kinh tế giữa các cá nhân tham gia vào quá trình tái sản xuất. Phân phối phải đảm bảo được lợi Ých của các cá nhân mới nâng cao được hiệu quả kinh doanh. Phân phối phải dùa trên quan hệ sở hữu về TLSX. Đối với kinh tế CT, TC do dùa vào sức lao động của bản thân là chủ yếu, nên sản phẩm và kết quả lao động chủ yếu thuộc về chính hộ hay cá nhân đó. Ở đây quan hệ phân phối là sự tự phân phối trong nội bộ gia đình của các hộ kinh doanh nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng của các thành viên trong gia đình. Đối với các hộ tiểu chủ có thuê mướn nhân công thì phân phối kết quả sản xuất còn căn cứ vào giá trị sức lao động của lao động làm thuê. Nhờ thực hiện quan hệ phân phối như vậy nên các loại hình kinh tế CT, TC đã gắn kết được lợi Ých vật chất của các thành viên trong hộ với kết quả sản xuất kinh doanh, phát huy được khả năng sáng tạo, lòng nhiệt tình lao động của từng thành viên, nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ đối với tài sản, nguồn vốn và hiệu quả kinh doanh của cơ sở sản xuất kinh doanh CT, TC. 1.1.1.3. Các hình thức tổ chức kinh doanh của kinh tế cá thể, tiểu chủ Như trên đã trình bày kinh tế CT, TC được hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động chủ yếu dùa trên quan hệ sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX và lao động của chính hộ gia đình hay cá nhân đó. Do đó về hình thức tổ chức kinh doanh, kinh tế CT, TC ở nước ta chủ yếu được tổ chức dưới hình thức hộ gia đình sản xuất kinh doanh. Trong nông nghiệp hình thức tổ chức cơ bản của kinh tế CT, TC là hộ nông dân tự chủ và trang trại gia đình. Ở nước ta hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về việc xếp kinh tế hộ nông dân vào thành phần kinh tế tập thể hay kinh tế CT, TC. Từ khi Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4/1988) ra đời, các hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, vì vậy hộ nông dân đã được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ. Với việc được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cùng với 5 quyền của người sử dụng ruộng đất (theo luật đất đai) họ đã trở thành những người chủ trên thực tế. Trên cơ sở chính sách của Nhà nước, hộ nông được tự do lùa chọn phương hướng sản xuất, xác định quy mô tổ chức, hình thức tổ chức quản lý và tự do hạch toán kinh doanh. Như vậy, hộ nông dân là người trực tiếp tổ chức thực hiện quá trình sản xuất và chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế. Trong khi đó các HTX hiện nay không còn quản lý hộ nông dân theo kiểu cũ mà chỉ hỗ trợ một số khâu dịch vụ nhất định trong quá trình sản xuất cho các hộ nông dân. Do đó hiện nay hộ nông dân về thực chất là hộ CT, TC và được xếp vào kinh tế CT, TC. Trang trại gia đình cũng là một trong những hình thức tổ chức kinh doanh của kinh tế CT, TC nó thuộc loại hình kinh tế tiểu chủ trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Trang trại gia đình là một hình thức tổ chức ra đời phổ biến từ kinh tế hộ, phát triển dùa trên cơ sở tích tụ quyền sử dụng đất đai, vốn, lao động và các chủ thể kinh doanh, hoạt động theo cơ chế thị trường với mục đích thu lợi nhuận cao. Xét về QHSX thì trang trại gia đình cũng giống như kinh tế hộ nông dân, cũng dùa trên sở hữu cá thể về TLSX nhưng có trình độ chuyên môn hoá cao hơn, quy mô ruộng đất, vốn và lao động lớn hơn, do đó hiệu quả kinh tế cũng cao hơn nhiều so với kinh tế hộ nông dân. Như vậy, kinh tế trang trại chính là hộ tiểu chủ trong nông nghiệp. Kinh tế trang trại ở nước ta hiện nay được coi là điểm tựa để phát triển hàng hoá quy mô lớn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, mặt nước, tạo việc làm, đem lại cách làm mới, phát triển thị trường ở nông thôn. Trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ, kinh tế CT, TC được tổ chức dưới hình thức xưởng, thợ gia đình, các hộ kinh doanh thương mại và dịch vụ. Với những tiềm năng và thế mạnh của các làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống đã tạo điều kiện cho một số người sản xuất cá thể vươn lên mở rộng quy mô sản xuất, thu hót và sử dụng một khối lượng khá lớn lao động, vốn và trở thành những tiểu chủ trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp. 1.1.2. Những đặc điểm cơ bản của kinh tế cá thể, tiểu chủ Trên cơ sở phân tích khái niệm, bản chất và các hình thức tổ chức của kinh tế CT, TC, có thể rót ra những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, kinh tế CT,TC là loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh mang tính chất của một hộ gia đình. Mối quan hệ giữa các thành viên trong hộ chủ yếu là quan hệ hôn nhân, huyết thống. Trong gia đình, các thành viên gắn bó với nhau bởi quan hệ ruột thịt, vợ chồng con cái, ông bà, anh em đã gắn kết họ thành một khối thống nhất, có trách nhiệm cao đối với tài sản, vốn liếng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hé kinh tế CT,TC thực sự là một khối thống nhất không thể tách rời giữa quyền sử dụng đất đai, quyền tham gia lao động và quyền phân phối sản phẩm của các thành viên trong hộ. Các thành viên đều có chung một mục đích và có sự thống nhất rất cao về lợi Ých kinh tế và lợi Ých xã hội. Mỗi người trong hộ đều lao động theo khả năng và trách nhiệm gắn với vai trò của họ trong gia đình. Do đó, mô hình kinh tế hộ cho phép hạn chế đến mức tối đa các mâu thuẫn về lợi Ých kinh tế. Trong hộ, mọi người hiểu rõ năng lực, sở trường của từng thành viên nên việc bố trí, sắp xếp công việc tương đối phù hợp, hiệu quả. Quan hệ quản lý ở đây là trực tuyến nên thông tin nhanh chóng. Chính vì vậy, hộ CT, TC là loại hình có sự nhất trí cao trong khâu tổ chức quản lý sản xuất. Mô hình kinh tế hộ, bên cạnh những lợi thế cũng có những hạn chế nhất định: do dùa trên mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nên không tránh khỏi xu hướng biệt lập, khép kín, mang nặng tính tự cung tự cấp. Do đó, họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nắm bắt thông tin thị trường, hạn chế khả năng tiếp thị, quảng bá cho sản phẩm dẫn tới khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm cũng như trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ hai, sản xuất kinh doanh của kinh tế CT, TC chủ yếu là quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, trình độ lao động thấp, dễ bị phân hoá trong nền KTTT. Quy mô sản xuất kinh doanh của hộ CT, TC là quy mô nhỏ (cả về diện tích đất canh tác, quy mô vốn, lao động). Do quy mô sản xuất nhỏ nên đòi hỏi vốn đầu tư Ýt, sử dụng không nhiều lao động, nên hộ CT, TC có thể chủ động thay đổi hoạt động sản xuất kinh doanh, dễ dàng đối phó với những biến động thị trường. Song, còng do quy mô nhỏ, vốn đầu tư Ýt nên các cơ sở sản xuất kinh doanh không có điều kiện để trang bị những máy móc hiện đại, dẫn tới công nghệ lạc hậu, nhất là trong các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Trong nông nghiệp lao động thủ công vẫn là chủ yếu. Do đó, năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Do bản chất của kinh tế CT, TC dùa trên sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX, hình thức tổ chức của kinh tế CT, TC là hộ nông dân tự chủ nên trình độ lao động của bộ phận kinh tế này rất thấp. Các chủ hộ sản xuất kinh doanh (trong nông nghiệp) là những người nông dân, phần lớn trong số họ có trình độ văn hoá, trình độ kỹ thuật sản xuất thấp. Không Ýt người trong số họ có tư tưởng cố hữu, bảo thủ, trì trệ. Những đặc tính này đã gây trở ngại cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật và cách thức làm ăn mới vào sản xuất nông nghiệp. Có thể nói, kinh tế CT, TC là loại hình mang nặng tính chất sản xuất nhỏ, kinh doanh manh mún, tự cung tự cấp, do đó dễ bị phân hoá trong nền KTTT. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế CT, TC ở nước ta nói chung. Chính đặc điểm này quy định xu hướng phát triển của bộ phận kinh tế này trong tương lai. Thứ ba, hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ CT, TC vừa nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của các thành viên trong hộ vừa nhằm mục tiêu thu lợi nhuận. Hé CT, TC là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng (tiêu dùng của hộ xét cả khía cạnh tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho các cá nhân), nó ảnh hưỏng trực tiếp đến sản xuất của hộ. Nó là đơn vị sản xuất tự thực hiện quá trình tái sản xuất dùa trên cơ sở phân bố các nguồn lực (lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật, nguồn thu nhập) vào các ngành sản xuất để thực hiện tất cả các chức năng của nó nhằm mục đích đảm bảo tiêu dùng cá nhân và thu lợi nhuận. Do có sự kết hợp cả hai mục đích: tiêu dùng và lợi nhuận, nên nguyên tắc kinh doanh theo đuổi mục tiêu lợi nhuận luôn được kết hợp chặt chẽ với các giá trị gia đình. Trong điều kiện sản xuất kinh doanh không thuận lợi, do sức Ðp của nhu cầu trong gia đình, các hộ sản xuất kinh doanh CT, TC vẫn sẵn sàng tiếp tục hoạt động sản xuất (cho dù không có lợi nhuận hoặc Ýt lợi nhuận) để duy trì việc làm cho các thành viên trong gia đình. Chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vì nếu mua máy móc để sử dụng thay lao động thủ công, thì số lao động trong gia đình sẽ thất nghiệp. Chính vì vậy, kinh tế CT, TC là loại hình kinh tế có ý nghĩa chiến lược tình thế, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Thứ tư, kinh tế CT, TC là loại hình hoạt động sản xuất đa ngành, trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong hầu hết các khâu của quá trình sản xuất -xã hội hoạt động ở khắp các địa bàn từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền núi. Tuy cơ cấu sản xuất kinh doanh của kinh tế CT, TC phong phú đa dạng, hoạt động trong hầu hết các ngành kinh tế nhưng nông nghiệp vẫn là ngành chủ yếu và là cơ sở cho mọi hoạt động kinh tế của các hộ CT, TC. Bởi vì mục tiêu chính của nông nghiệp gia đình vẫn nhằm đảm bảo đủ khẩu phần lương thực tối thiểu cho mọi thành viên trong hé gia đình, sau đó mới tính đến lợi nhuận. Do đó sản xuất nông nghiệp luôn được coi là cơ sở kinh tế cho phép kết hợp và phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các hộ CT,TC ở nước ta. Hơn nữa kinh tế CT, TC với cơ cấu đa ngành nghề hoạt động khắp các địa bàn nên nó có khả năng to lớn trong việc huy động, khai thác và sử dụng tối đa các tiềm năng sẵn có như: vốn, lao động, tay nghề, bí quyết nghề, đất đai… tận dụng thời gian và không gian để phát triển sản xuất. Chính vì vậy, nó là bộ phận kinh tế tạo nhiều việc làm cho lao động, nhất là lao động nhàn rỗi ở địa bàn nông thôn, tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo, thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước. Tuy nhiên, do các hộ CT, TC sinh sống chủ yếu ở nông thôn, miền núi với điều kiện sản xuất, kết cấu hạ tầng còn kém phát triển, thiếu thông tin nên các hộ gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất hàng hóa, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, áp dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất. Tóm lại, kinh tế CT, TC ở nước ta dù hoạt động ở lĩnh vực nào, địa bàn và môi trường nào cũng mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản nói trên. Tuy nhiên, tùy từng loại hình tổ chức của kinh tế CT, TC có thể biểu hiện ở những mức độ khác nhau. Với những đặc điểm trên chúng ta khẳng định kinh tế CT, TC là loại hình sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của một nền kinh tế kém phát triển, sản xuất nhỏ còn phổ biến đang trong quá trình chuyển đổi sang nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta. 1.2. VAI TRÒ VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA KINH TẾ CÁ THỂ, TIỂU CHỦ 1.2.1. Vai trò của kinh tế cá thể, tiểu chủ đối với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực tiễn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã cho thấy kinh tế CT, TC ở nước ta đã trở thành lực lượng kinh tế quan trọng và có những đóng góp đáng kể vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội của đất nước. Đến nay, khu vực kinh tế CT, TC cả nước đã có trên 3 triệu hộ hoạt động trong các ngành và các lĩnh vực kinh tế và trên 10 triệu hộ hoạt động sản xuất nông nghiệp (chiếm khoảng hơn 20 triệu lao động) [29, tr.122]. Riêng hộ CT, TC phi nông nghiệp phát triển rộng khắp ở thành thị và nông thôn, đặc biệt ở hàng trăm làng nghề. Kinh tế CT, TC đã góp phần quan trọng vào tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn vốn đầu tư vào phát triển, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tạo sự ổn định và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. 1.2.2.1. Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo Lao động - việc làm là vấn đề đặc biệt quan tâm của toàn xã hội. Đảng và nhà nước ta luôn đặt vấn đề lao động - việc làm vào vị trí hàng đầu trong các chính sách kinh tế, xã hội, coi đó là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng cần phải giải quyết. - Nhu cầu hàng năm phải tạo thêm được hàng triệu việc làm đang là một áp lực lớn đối với Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương, bởi lẽ: không có việc làm sẽ dẫn tới tình trạng “thất nghiệp” – mét trong những nguyên nhân cơ bản gây suy thoái kinh tế và làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực trong xã hội như: trộm cắp, ma tuý, buôn lậu, nghèo đói... Do đó, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của các tầng líp dân cư không chỉ là những vấn đề kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội rất sâu sắc. - Hiện nay, kinh tế CT, TC đang đóng vai trò quyết định trong giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là khi tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị còn cao, nhu cầu việc làm mới rất lớn. Tuy trong mấy năm vừa qua tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị có giảm (từ 6,44% năm 2000 xuống 6,01% năm 2002 và 5,6% năm 2003), tỷ lệ thời gian không lao động ở nông thôn khoảng 26 - 27% và cũng đang có xu hướng giảm, nhưng hiện nay, với 1,5 – 1,8 triệu lao động mới bổ sung hàng năm thì sức Ðp tạo việc làm mới vẫn còn rất lớn đối với nước ta. Trong khi đó, theo con số thống kê năm 2003, khu vực kinh tế nhà nước mới giải quyết được việc làm cho 3,858 triệu lao động (chiếm gần 10% lực lượng lao động cả nước) [1, tr. 59]. Lao động trong khu vực này có đang có xu hướng giảm do cải cách hành chính và sắp xếp lại. Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cũng đang trong quá trình chuyển đổi và có xu thế giảm tỷ lệ lao động. Số lao động còn lại của cả nước (90%) thuộc về KTTN (trong đó chủ yếu của kinh tế CT, TC). Trong điều kiện đó, kinh tế CT, TC càng khẳng định vai trò to lớn trong giải quyết việc làm cho đại bộ phận lao động trong toàn xã hội, thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước. - Trên thực tế, kinh tế CT, TC có những điều kiện thuận lợi để thu hót nguồn lực lao động, ở chỗ: + Kinh tế CT, TC thích hợp với quy mô vốn nhỏ, suất đầu tư cho một chỗ làm việc của khu vực kinh tê này thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. + Không hoặc Ýt có nhu cầu tăng quy mô vốn. + Không cần đầu tư vào công nghệ vừa đòi hỏi vốn lớn, vừa rủi ro cao. + Nhanh chóng thu hồi vốn, đồng thời vừa năng động, vừa dễ rót ra khỏi thị trường. + Là khu vực kinh doanh phù hợp với tâm lý kinh doanh của người Việt Nam. Do quy mô vốn nhỏ nên các cơ sở sản xuất kinh doanh CT, TC có khả năng thích nghi rất cao với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động dôi dư, lao động nông nhàn, trình độ dân trí thấp và đời sống còn nhiều khó khăn. Với những ưu thế trên, kinh tế CT, TC trong những năm gần đây đã thu hót được khối lượng lớn lao động. Theo công bố của Ban chỉ đạo điều tra lao động – việc làm Trung ương cho thấy: lao động đang làm việc tại thời điểm 1/7/2005 trong khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, tập trung chủ yếu trong khu vực KTTN là 38,355 triệu người, chiếm 88,2% sè lao động có việc làm thường xuyên trong cả nước [2, tr.5]. Trong đó số lao động làm việc trong khu vực KTTN thì lao động trong hé kinh doanh CT, TC có số lượng lớn (28,6 triệu lao động, chiếm 65,6% sè lao động có việc làm cả nước, 74,6% lao động trong khu vực ngoài quốc doanh) [4, tr. 182]. Trong 5 năm (2001 – 2005) khu vực KTTN (trong đó có kinh tế CT, TC) đã thu hót hơn 2 triệu việc làm mới. Hiện nay cả nước có 151.004 doanh nghiệp dân doanh và trên 10 triệu hộ kinh doanh CT, TC, đã và đang đảm bảo cho khoảng 90% lực lượng lao động trong xã hội có việc làm [4, tr. 184]. Nhờ tạo ra việc làm cho người lao động, kinh tế CT, TC đã góp phần tạo ra thu nhập cho các tầng líp dân cư, cải thiện đời sống nhân dân. Hiện nay thu nhập bình quân của một lao động trong khu vực kinh tế CT, TC khoảng 600.000 đồng/người/tháng. Mức thu nhập bình quân trên tuy còn khiêm tốn nhưng có ý nghĩa rất to lớn trong việc cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xoá đói giảm nghèo và thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế, xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Như vậy, có thể nói, trong điều kiện lực lượng lao động ở nước ta ngày càng tăng, tỷ lệ thất nghiệp còn cao, trong khi khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể khả năng thu hót lao động rất hạn chế thì kinh tế CT, TC ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và góp phần xoá đói giảm nghèo. 1.2.2.2. Kinh tế cá thể, tiểu chủ khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội, góp phần giải phóng mọi năng lực sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần được khởi xướng từ Đại hội VI là một trong những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm mục đích giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Những chủ trương đó đã được tiếp tục khẳng định qua các kỳ đại hội Đảng, được cụ thể hoá bằng các văn bản, pháp luật của Nhà nước, tạo nên môi trường kinh doanh thông thoáng, tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế, mọi người dân yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh. Nhờ vậy đã khơi dậy được những nguồn lực, những tiềm năng còn tiềm Èn trong dân cư, phát huy sức sáng tạo của nhân dân, huy động ngày
- Xem thêm -