Kinh doanh xnk hàng hoá trong nền kinh tế thị trường

  • Số trang: 52 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 6 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24939 tài liệu

Mô tả:

PHẦN I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG I.-TẦM QUAN TRỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. 1. khái niệm của thương mại Quốc tế: Ngày nay khi quá trình phân công lao động Quốc tế đang diễn ra hết sức sâu sắc thì thương mại Quốc tế trở thành một qui luật tất yếu khác quan và được xem như là một điều kiện Tiền đề cho sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Thực tế cho thấy, không một quốc gia nào có thể tồn tại chứ chưa nói gì đến phát triển nếu tự cô lập mình không quan hệ với kinh tế thế giới. Thương mại quốc tế trở thành vấn đề sống còn vì nó cho phép thay đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao khả năng tiêu dùng của dân cư một quốc gia. Thương mại quốc tế là hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia với nhau. Hoạt động đó là hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa riêng biệt giữa các quốc gia. 2. Vai trò của kinh doanh xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân. 2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa đất nước. Để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước mắt chúng ta cần phải nhập khẩu một số lượng lớn máy móc, trang thiết bị hiện đại từ bên ngoài nhằm trang bị cho nền sản xuất. Nguồn vốn để nhậo khẩu thường dựa vào các nguồn chủ yếu là: vay, viện trợ, đầu tư nước ngoài và xuất khẩu. Nguồn vốn vay rồi cũng phải trả, còn viện trợ và đầu tư nước ngoài thì có hạn, hơn nữa các nguồn này thường bị phụ thuộc vào nước ngoài, vì vậy nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu chính là xuất khẩu. Thực tế là, nước nào gia tăng được xuất khẩu thì nhập khẩu theo đó cũng tăng theo. Ngược lại, nếu nhập nhiều hơn xuất làm cho thâm hụt cán cân thương mại quá lớn sẽ có thể ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc dân. Trang 7 2.2. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khó học - công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta. Ngày nay, đa số các nước đều lấy nhu cầu thị trường thế giới làm cơ sở để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này thể hiện: - Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi. Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông hay thuốc nhuộm. Sự phát triển của ngành chế biến thực phẩm xuất khẩu cũng có thể kép theo sự phát triển của ngành công nghiệp bao bì phục vụ nó. - Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất ổn định và phát triển. - Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. 2.3. Xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động hướng ra thị trường thế giới, một thị trường mà ngày càng cạnh tranh . Sự tồn tại và phát triển của hàng hóa xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào chất lượng, giá cả do đó phụ thuộc rất lớn vào kỹ thuật công nghệ sản xuất chúng. Điều này thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải luôn luôn tìm tòi sáng tạo để cải tiến, nâng cao chất lượng công nghệ sản xuất. Mặt khác, xuất khẩu trong nền kinh tế cạnh tranh còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị sản xuất và kinh doanh, đòi hỏi phải nâng cao tay nghề người lao động. Trang 8 2.4.Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân. Thông qua hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu, với nhiều công đoạn khác nhau đã thu hút hàng triệu lao động với thu nhập không thấp. Giải quyết được vấn đề bức xũ nhất trong xã hội hiện nay. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu những vật liệu tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu ngày một phong phú hơn của nhân dân. 2.5. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta. Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế với các nước, nâng cao địa vị và vai trò của nước ta trên thương trường quốc tế ..., xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quỹ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế ... Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại mà chúng ta vừa kể trên lại tạo Tiền đề cho việc mở rộng xuất khẩu. Có thể nói, xuất khẩu không chỉ đóng vai trò chất xúc tác hỗ trợ phát triển kinh tế mà nó còn cùng với hoạt động nhập khẩu như là yếu tố bên trong trực tiếp tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ nền kinh tế như: vốn, kỹ thuật, lao động, nguồn tiêu thụ thị trường ... Đối với nước ta, hướng mạnh về xuất khẩu là một trong những mục tiêu quan trọng trong phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, qua đó tranh thủ đón bắt thơòI cơ, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển của Việt nam so với thế giới. Kinh nghiệm cho thấy, bất cứ một nước nào và trong thời kỳ nào đẩy mạnh được xuất khẩu thì nền kinh tế nước đó trong thời gian đó có tốc độ phát triển cao. để thấy rõ vấn đề này, chúng ta có thể nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế của các nước trong khu vực cũng như thế giới trong mối quan hệ với tăng trưởng xuất khẩu. Bảng 1.Kim Ngạch Xuất Khẩu với tăng trưởng GDP của các nước trong khu vực (1999) Nước Nhật Bản Tăng GDP GDP (PPP,triệu Kim ngạch XK(triệu XK/GDP( (%) 2,6 USD) 2.953.440 USD) 411.000 %) 0,139 Trang 9 Singapore 7,8 76.291 125.000 1,638 Đài Loan 6,5 333.745 122.000 0,366 Malaysia 8,4 208.502 78.000 0,375 Thái Lan 6,4 501.331 56.900 0,113 Bảng 2. Xuất Khẩu với tăng trưởng GDP của Mỹ và các nước khác (1999). GDP (PPP,triệu Nước Tăng GDP (%) USD) Kim ngạch XK XK/GDP (%) Mỹ 3,6 (triệu USD) 7.633.465 Anh 3,4 1.181.962 251.000 0,212 Canada 3,7 1.660.540 201.000 0,304 Pháp 2,2 1.284.182 275.000 0,214 Đức 2,8 1.723.366 521.000 0,302 Italy 633.000 0,083 1,7 1.179.283 244.000 0,207 Như vậy qua số liệu trên cho thấy, đa số các nước có nền kinh tế phát triển thì xuất khẩu đóng góp vào khoảng 10 - 30% GDP. Còn những nước có tốc độ phát triển cao, tỷ lệ này cũng có xu hướng cao hơn. Điển hình là trường hợp của Hồng Kông và Singapore, tỷ lệ này là trên 100%. Điều này phản ánh vai trò của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế. Tóm lại là, thông qua xuất khẩu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội bằng việc mở rộng trao đổi và thúc đẩy việc tận dụng các lợi thế, các tiềm năng và cơ hội của đất nước. 3. ý nghĩa của việc đẩy mạnh xuất khẩu đối với doanh nghiệp. Đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu giúp cho mỗi doanh nghiệp giải quyết được vấn đề về công ăn việc làm cho nhân viên, tăng nguồn ngoại tệ để phục vụ cho các hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh đổi mới trang thiết bị, mở rộng quy mô kinh doanh, và giải quyết các vấn đề về lợi nhuận. Ngoài ra, việc đẩy mạnh hoạt Trang 10 động xuất khẩu còn giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, tìm hiểu vả nắm bắt được phong tục, tập quán kinh doanh của các bạn hàng ở nước ngoài, là động lực để doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường ra thế giới. II/ NHỮNG NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC KINH DOANH XUẤT KHẨU CHỦ YẾU. 1. Các hình thức kinh doanh xuất khẩu chủ yếu Xuất khẩu hàng hoá là một bộ phận rất quan trọng của thương mại quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường ngày nay thì lĩnh vực hoạt động này được biểu hiện dưới nhiều hình thức rất khác nhau. Theo quy định của nghị định 33CP (19/4/1994) lĩnh vực kinh doanh này bao gồm các hình thức chủ yếu sau: -Xuất khẩu hàng hoá dưới các hình thức trao đổi hàng hoá, hợp tác sản xuất và gia công quốc tế. -Xuất khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ và vật tư phụ tùng cho sản xuất. -Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất -Làm các dịch vụ như đại lý, nhận uỷ thác xuất khẩu cho các tổ chức kinh tế nước ngoài. -Hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế Việt Nam ở nước ngoài hợp tác sản xuất và gia công quốc tế. 2. Nội dung của kinh doanh xuất khẩu hàng hoá. 2.1 Nghiên cứu thị trường Nội dung chính của nghiên cứu thị trường là xem xét khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường. Nghiên cứu thị trường được thực hiện theo hai bước là nghiên cứu kháI quát và nghiên cứu chi tiết thị trường.Nghiên cứu khái quát thị trường cung cấp những thông tin về quy mô, cơ cấu, sự vận động của thị trường, các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường như môi trường cạnh tranh, môi trường chính trị pháp luật, khoa học công nghệ, môi trường văn hoá xã hội, môi trường địa lý sinh thái...Nghiên cứu chi tiết thị trường cho biết những thông tin về tập quán mua hàng, những thói quen và những ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng. Nghiên cứu thị trường thường được tiến hành theo hai phương pháp chính. Phương pháp nghiên cứu tại văn phòng là thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu Trang 11 đã được xuất bản công khai hay bán công khai, xử lý các thông tin đã tìm kiếm được.Phương pháp nghiên cứu tại chỗ thu thập thông tin chủ yếu thông qua tiếp xúc trực tiếp hay điều tra chọn mẫu bằng các câu hỏi...Hoặc kết hơp cả hai phương pháp trên. 2.2. Thanh toán trong kinh doanh xuất khẩu hàng hoá. Thanh toán quốc tế là một khâu hết sức quan trọng trong kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá. hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh này một phần lớn nhờ vào chất lượng của việc thanh toán. Thanh toán là bước đảm bảo cho người xuất khẩu thu được tiền về và người nhập khẩu nhận được hàng hoá. Thanh toán quốc tế trong ngoại thương có thể hiểu đó là việc chi trả những khoản tiền tệ, tín dụng có liên đến nhập khẩu hàng hoá và đã được thoả thuận quy định trong hợp đồng kinh tế. Trong xuất khẩu hàng hoá, thanh toán phải xem xét đến các vấn đề sau đây: Trả trước bằng tiền mặt hoặc trả tiền mặt theo lệnh. Nhà xuất khẩu có quan điểm thích sử dụng quy tắc thanh toán này nhất vì họ không bị rủi ro về nhờ thu và không chịu chi phí lãi cho giấy đòi nợ. Người nước ngoài mua hàng hiếm khi chấp nhận quy tắc này (trừ các đơn vị đặt hàng rất nhỏ) bởi quy tắc này ràng buộc vốn của người mua và họ không yên tâm có nhận được hàng hay không. Ghi sổ: đây là hình thức tín dụng hào phóng nhất và nguy hiểm nhất. Chỉ sau khi điều tra mức tiền gửi ở ngân hàng của khách hàng thì cách thanh toán này mới được giành cho khách hàng lâu năm có khoản tiền gửi lớn nhưng chỉ giành cho những nước không có vấn đề ngoại hối. Gửi bán: Việc thanh toán phải được thực hiện một khi hàng gửi ra nước ngoài đã được khách hàng nước ngoài bán xong. Cho đến khi hàng gửi ra nước ngoài thì sở hữu hàng hóa vẫn thuộc nhà xuất khẩu. Nhưng rủi ro rất nhiều. Việc bán hàng không được báo cáo, hàng bán không được thanh toán đúng thời gian hoặc việc thanh toán có thể không thực hiện được do những diễn biến chính trị, hành hóa có thể bị mất hoặc tổn hại trước khi bán. Hối phiếu trả ngay. Hàng gửi đi với vận đơn đường biển có thể giao dịch được và người mua sẽ nhận được các chứng từ, gửi hàng và chuyển chứng từ cho ngân hàng nước ngoài. Rủi ro vẫn còn, chủ yếu bởi vì tình hình tài chính của người Trang 12 mua có thể thay đổi giữa lúc hàng gửi đi và hàng đến và người mua có thể không có khả năng hoặc không sẵn lòng chấp nhận tờ hối phiếu khi nó được xuất trình. Hối phiếu kỳ hạn: Người mua sẽ có quyền sở hữu hàng hóa khi họ chấp nhận ký vào một hay vài hối phiếu mà việc thanh toán chúng sẽ xảy ra khi học chấp nhận ký vào một hay vài hối phiếu mà việc thanh toán chúng sẽ xảy ra sau khi nó được chấp nhận khoảng 30, 60, 90 ngày. Đây là một hình thức tín dụng mà rủi ro sẽ cao hơn so với hối phiếu trả ngay.  Thư tín dụng: Theo nhiều khía cạnh thì đây là hình thức thanh toán lý tưởng - quan điểm của nhà xuất khẩu cũng như khách hàng của họ ở nước ngoài đều cho thấy như vậy. Thư tín dụng là một chứng từ do ngân hàng của khách hàng mua phát hành có hứa hẹn trả cho người cung cấp một số Tiền đã được thỏa thuận nếu như ngân hàng này nhận được các chứng từ đã được quy định rõ (thông thường là hóa đơn thương mại, vận đơn và chứng từ bảo hiểm) trong một thời hạn cũng đã được quy định rõ. 2.3 Lập phương án kinh doanh. Việc xây dựng phương án kinh doanh bao gồm: * Đánh giá thị trường và thương nhân, phác hoạ bức tranh tổng quát về hoạt động kinh doanh, những thuận lợi và khó khăn. * Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh, sự lựa chọn này phải mang tính thuyết phục trên cơ sở phân tích tình hình có liên quan. *Đề ra mục tiêu cụ thể như: sẽ bán bao nhiêu hàng? Với giá bao nhiêu? Sẽ thâm nhập vào thị trường nào. *Đề ra biện pháp và công cụ thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra. 2.4. Nội dung của công tác thu mua tạo nguồn hàng. Công tác thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu là một hệ thống các công việc, các nghiệp được thể hiện qua nội dung sau: *Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu. Muốn tạo được nguồn hàng ổn định, nhằm củng cố phát triển các nguồn hàng, doanh nghiệp ngoại thương phải nghiên cứu các nguồn hàng thông qua việc nghiên cứu tiếp cận thị trường. Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu nhằm xác định chủng loại mặt hàng, kích cỡ, mẫu mã và Trang 13 công dụng, chất lượng, giá cả, thời vụ (nếu là hàng nông lâm, thủy sản) những đặc tính, đặc điểm riêng của từng loại hàng hóa. *Kí kết hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu, việc kí kết hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu, đây là cơ sở vững chắc đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp diễn ra bình thường. *Tổ chức thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu.Sau khi kí kết hợp đồng với các chủ hàng xuất khẩu, doanh nghiệp thương mại phải lập được kế hoach thu mua, tiến hành xắp xếp những phần việc phải làm và chỉ đạo các bộ phận theo kế hoạch. 2.5 Định giá hàng xuất khẩu. Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá đồng thời biểu hiện một cách tổng hợp các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, giá cả luôn gắn với thị trường và chịu tác động của các nhân tố khác nhau. Trong buôn bán quốc tế, giá cả thị trường càng trở nên phức tạp do buôn bán diễn ra trên các khu vực khác nhau. Để thích ứng với sự biến động trên thị trường, tốt nhất là các nhà kinh doanh nên thực hiện định giá linh hoạt phù hợp với mục đích cơ bản của doanh nghiệp.Công việc đánh giá được thực hiện theo các bước sau: Bước 1: Xây dựng giá thành xuất khẩu cơ sở. Bước 2: Xác định các chi phí cố định và chi phí biến đổi của xuất khẩu. Bước 3: Khảo sát mức giá và phạm vi biến động giá trên thị trường nước ngoài Bước 4: Quyết định chiến lược đánh giá và xây dựng mức giá xuất khẩu. Bước 5: Soạn thảo các văn bản chào hàng và báo giá xuất khẩu. 2.6. Giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu. Thông thường có các hình thức giao dịch sau: * Giao dịch qua thư tín. Ngày nay việc sử dụng hình thức này vẫn là phổ biến để giao dịch giữa các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu. Những cuộc tiếp xúc Trang 14 ban đầu thường qua thư tín. Ngay cả sau khi hai bên đã có điều kiện gặp gỡ trực tiếp thì việc duy trì quan hệ cũng phải qua thư tín. Sử dụng thư tín để giao dịch đàm phán phải luôn nhớ rằng thư từ là "sứ giả" của mình đến với khách. Bởi vậy, cách viết thư, gửi thư cần đặc biệt chú ý. Những nhà kinh doanh khi giao dịch phải đảm bảo các điều kiện lịch sử, chính xác, khẩn trương. * Giao dịch qua điện thoại. Việc giao dịch qua điện thoại giúp nhà kinh doanh đàm phán một cách khẩn trương, đúng thời cơ cần thiết. Trao đổi qua điện thoại là trao đổi bằng miệng, không có gì làm bằng chứng cho những thỏa thuận quyết định trong trao đổi. Bởi vậy, hình thức đàm phán này chỉ nên dùng trong những trường hợp chỉ còn chờ xác nhận một cách chi tiết. Khi phải trao đổi bằng điện thoại cần chuẩn bị nội dung chu đáo. Sau khi trao đổi bằng điện thoại, cần có thư xác nhận nội dung đã đàm phán. * Giao dịch bằng cách gặp gỡ trực tiếp. Là việc gặp gỡ giữa hai bên để trao đổi về các điều kiện buôn bán. Đây là hình thức hết sức quan trọng, đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn đề mà cả hai bên cùng quan tâm. Hình thức này thường được dùng khi có nhiều vấn đề cần phải giải thích cặn kẽ để thuyết phục nhau hoặc là những hợp đồng lớn, phức tạp. Đối vớí quan hệ mua bán hàng hoá, sau khi các bên mua và bán tiến hành giao dịch và đàm phán có kết quả thì phải thực hiện lập và kí kết hợp đồng. Hợp đồng bằng văn bản là hình thức bắt buộc đối với các đơn vị xuất nhập khẩu ở nước ta.Đây là hình thức tốt nhất để đảm bảo cho quyền lợi của cả hai bên.Hợp đồng xác định rõ ràng trách nhiệm của cả bên mua và bên bán hàng hoá, tránh được những biểu hiện không đồng nhất trong ngôn từ hay quan nIệm. 2.7. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Nội dung trình tự thực hiện hợp đồng kinh doanh xuất khẩu như sau : 2.7.1 KIểm tra L/C: Sau khi ký kết hợp đồng, nhà nhập khẩu ở nước ngoài sẽ mởi L/C tại một ngân hàng có ngân hàng thông báo tại Việt Nam. Nhà xuất khẩu sau khi nhận được giấy báo xin mở L/C của đối tác thì cần kiểm tra lại nội dung thật chặt chẽ xem đã đúng như hợp đồng đã ký kết hay chưa. Nếu có gì chưa hợp lý cần báo lại cho phía nước ngoài để hai bên cùng thống nhất sửa lại. Trang 15 2.7.2 Xin giấy phép xuất khẩu. Sau khi xem xét nội dung L/C đã hợp lý, nhà kinh doanh cần làm thủ tục xin giấy phép xuất khẩu. Tư cách để được xuất khẩu trực tiếp là doanh nghiệp phải có giấy phép kinh doanh xuất, nhập khẩu do Bộ Thương mại cấp với các điều kiện như sau: - Doanh nghiệp được thành lập hợp pháp. - Mức vốn lưu động tối thiểu là 200.000 USD tại thời điểm đăng ký kinh doanh xuất khẩu (riêng một số trường hợp đặc biệt mức vốn tối thiểu là 100.000 USD). - Hoạt động theo đúng ngành hàng đã đăng ký khi thành lập doanh nghiệp. - Có đội ngũ cán bộ đủ trình độ kinh doanh, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương. Ngoài 3 mặt hàng xuất khẩu theo hạn ngạch là: dầu thô, gạo, đồ gỗ và song mây; các mặt hàng cấm nhập, cấm xuất, còn lại đối với các mặt hàng khác doanh nghiệp chỉ cần làm tờ khai hải quan và gửi cho Bộ Thương mại theo dõi. 2.7.3 Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu. Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu. Khâu này bao gồm công việc thu gom hàng hóa, đưa vào gia công chế biến, đóng gói hàng hóa, kẻ ký mã hiệu, dán nhãn hiệu, đóng thành bao kiện hoặc container để sẵn sàng xuất khẩu. Doanh nghiệp cần chuẩn bị hàng hóa thật tốt, đảm bảo về số lượng, chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, bao bì ... như hợp đồng đã qui định. 2.7.4 Thuê tàu và mua bảo hiểm hàng hoá. Tùy theo các thỏa thuận trong hợp đồng mà người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu có trách nhiệm thuê tàu và mua bảo hiểm cho hàng hóa. Trong trường hợp trách nhiệm thuê tàu là thuộc nhà xuất khẩu, cần cân nhắc các khả năng sau: - Nếu hàng hóa có khối lượng nhỏ, không cồng kềnh, có thời gian không quá gấp thì nên thuê tàu chợ. Tàu chợ là loại tàu để chở hàng chạy thường xuyên theo một tuyến nhất định, ghé vào các cảng qui định theo lịch trình định trước. - Nếu hàng hóa có khối lượng lớn, cồng kềnh đòi hỏi những điều kiện đặc biệt nào đó về vận chuyển thì nên thuê tàu chuyến. Tàu chuyến là tàu chuyên chở hàng hóa trên biển không theo một lịch trình định trước. Mặc dù thuê tàu chuyến Trang 16 đòi hỏi chi phí khá cao so với tàu chợ nhưng có thể vận chuyển với khối lượng lớn, công tác bảo quản, bảo vệ hàng trong vận chuyển bốc dỡ cũng dễ hơn, hiệu quả hơn. 2.7.5 Làm thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là một cách thức để Nhà nước quản lý hoạt động xuất nhập khẩu. Đối với nhà xuất khẩu cần thực hiện. - Khai báo hải quan. - Xuất trình hàng hóa để kiểm tra. - Thực hiện các quyết định của hải quan. 2.7.6 Giao hàng lên tàu. Tùy theo thảo thuận về điều kiện giao hàng mà việc giao hàng lên tàu là thuộc trách nhiệm của bên bán hay bên mua. Nếu việc giao hàng là thuộc trách nhiệm của nhà xuất khẩu thì cần thiết phải theo dõi bốc xếp hàng qua cơ quan điều độ cảng để tổ chức vận chuyển hàng hóa, bố trí lực lượng xếp hàng lên tàu. Sau khi bốc xếp thì thực hiện thanh toán phí bốc xếp và lấy vận đơn đường biển. Vận đơn đường biển nên là vận đơn hoàn hảo đã bốc hàng và có thể chuyển nhượng được. 2.7.7 Làm thủ tục thanh toán. Sau khi đã thực hiện chuyển giao hàng hóa lên tàu, nhà xuất khẩu cần lấy đầy đủ các giấy tờ như hóa đơn thương mại, vận đơn đường biển v.v... Đến thời hạn giao hàng nhà xuất khẩu xuất trình các chứng từ theo qui định trong L/C tại ngân hàng thông báo để nhận tiền từ ngân hàng này hoặc từ ngân hàng thanh toán. 2.7.8 Khiếu nại trọng tài nếu có. Tóm lại, việc tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu là hết sức quan trọng. Thông qua hợp đồng này, nó đưa lại kết quả phản ánh hiệu quả hoạt động của công ty. Thực hiện tốt các hợp đồng kinh doanh xuất khẩu là cơ sở nâng cao uy tín, đặt quan hệ kinh doanh lâu dài với bạn hàng, tạo điều kiện mở rộng phạm vi và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh. Trang 17 III. NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ. 1. Các chính sách và quy định của Nhà nước Có thể nói các chính sách và quy định của nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Thông qua việc đề ra các chính sách và quy định, Nhà nước thiết lập môi trường pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp. Chúng ta có thể xem xét tác động của các chính sách đó dưới các khía cạnh sau : a. Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là giá cả tại đó ngoại hối được mua và bán. Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu. Một tỷ giá hối đoái chính thức (HĐCT) được điều chỉnh theo quá trình lạm phát có liên quan gọi là tỷ giá hối đoái thực tế (HĐTT). Nếu tỷ giá hối đoái chính thức là không đổi và tỷ giá hối đoái thực tế tăng lên thì, các nhà xuất khẩu các sản phẩm sơ chế, là người bán theo mức giá cả quốc tế nằm ngoài tầm kiểm soát của họ sẽ bị thiệt. Họ phải chịu chi phí cao hơn do lạm phát trong nước. Hàng xuất khẩu của họ trở nên kém sinh lợi do ngoại tệ thu được phải bán lại với HĐCT cố định không được tăng lên để bù lại chi phí sản xuất cao hơn. Các nhà xuất khẩu các sản phẩm chế tạo có thể làm tăng giá cả xuất khẩu của họ để bù đắp lại chi phí nội địa cao hơn, nhưng kết quả khả năng chiếm lĩnh thị trường sẽ giảm. Họ chỉ có thể giữ nguyên mức giá tính theo ngoại hối và lợi nhuận thấp. Nếu tình trạng ngược lại là tỉ giá HĐTT giảm so với tỷ giá HĐCT, khi đó sẽ có lợi hơn cho các nhà xuất khẩu. b. Thuế quan và quota :Khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất trong nước tại thị trường xuất khẩu cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuế xuất khẩu và quota. Thuế xuất khẩu có xu thế làm giảm xuất khẩu và do đó làm giảm nguồn thu ngoại tệ của đất nứơc. Còn quota là hình thức hạn chế về số lượng xuất khẩu có tác động một mặt làm giảm số đầu mối tham gia xuất khẩu trực tiếp, mặt khác tạo cơ hội thuận lợi cho những người xin được quota xuất khẩu. Trang 18 c. Các chính sách khác của nhà nước. Các chính sách khác của nhà nước như xây dựng các mặt hàng chủ lực, trực tiếp gia công xuất khẩu , đầu tư cho xuất khẩu, lập các khu chế xuất , các chính sách tín dụng xuất khẩu, chính sách trợ cấp xuất khẩu cũng góp phần to lớn tác đọng tới tình hình xuất của một quốc gia. Tùy theo mức độ can thiệp, tính chất và phương pháp sử dụng các chính sách trên mà hiệu quả và mức độ ảnh hưởng của nó tới lĩnh vực xuất khẩu sẽ như thế nào. Bên cạnh các chính sách trên, nhóm các chính sách hỗ trợ mang tính thể chế - tổ chức, các khung pháp lý và hệ thống hành chính cũng là một trong các nhân tố tác động trực tiếp tới họat động xuất khẩu của các doanh nghiệp. 2. Nhân tố con người. Con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động. Hoạt động xuất khẩu hàng hoá phải nhấn mạnh tới nhân tố con người bởi vì nó là chủ thể sáng tạo và trực tiếp điều hành các hoạt động, ảnh hưởng của nhân tố này thể hiện qua hai chỉ tiêu chủ yếu nhất. Đó là tinh thần làm việc và năng lực công tác. TInh thần làm việc được biểu hiện bởi bầu không khí trong doanh nghiệp, tình đoàn kết và ý chí phấn đấu cho mục tiêu chung. Năng lực của nhân viên lại biểu hiện qua kỹ năng điều hành, công tác các nghiệp cụ cụ thể và qua kết quả của hoạt động. Để nâng cao vai trò nhân tố con người, các doanh nghiệp một mặt phải chú trọng đào tạo cán bộ, công nhân viên, bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ của họ, mặt khác, phải quan tâm thích đáng đến lợi ích cá nhân, bao gồm cả lợi ích vật chất lẫn tinh thần. 3. Mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ngoại thương phụ thuộc rất lớn vào hệ thống mạng lưới kinh doanh của nó.một mạng lưới kinh doanh rộng lớn, với các điểm kinh doanh được bố trí hợp lý là điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động như tạo nguồn hàng, vận chuyển , làm đại lý xuất khẩu...một cách thuận tiện hơn và do đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu. Nếu mạng lưới kinh doanh là quá thiếu, hoặc bố trí ở các điểm không hợp lý sẽ gây cản trở cho hoạt động kinh doanh làm triệt tiêu tính năng động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Trang 19 4. Khả năng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp như vốn cố định bao gồm các máy móc, thiết bị chế biến, hệ thống kho hàng, hệ thống phương tiện vận tải, các điểm thu mua hàng , đại lý, chi nhánh và trang thiết bị của nó cùng với vốn lưu động là cơ sở cho hoạt động kinh doanh.các khả năng này quy định quy mô và tính chất của hoạt động kinh doanh xuất khẩu, và vì vậy cũng góp phần quyết định tới hiệu quả kinh doanh. Rõ ràng là, một doanh nghiệp có hệ thống kho hàng hợp lý, các phương tiện vận tải đầy đủ và cơ động, các máy móc chế biến hiện đại sẽ góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Do vậy, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu một cách có tính khả thi và hiệu quả hơn. Trong kinh doanh xuất khẩu, thông thường các doanh nghiệp ngoại thương có cơ cấu vốn lưu động và cố định theo tỷ lệ 8:2 hoặc 7:3 là hợp lý. Tuy vậy, việc tăng vốn cố định là cần thiết nhằm góp phần mở rộng qui mô kinh doanh, cho phép xâm nhập và cạnh tranh trên thị trường lớn hơn. Trang 20 PHẦN II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA Ở CÔNG TY DONIMEX THỜI GIAN QUA. I. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY. 1. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Công ty. Quyết định số 545/QĐ-UBT ký ngày 31/10/1992 ủa UBND tỉnh Đồng Nai quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước Công ty Xuất nhập khẩu Đồng Nai. Công ty đặt trụ sở tại thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai. - Tên gọi: Công ty Xuất nhập khẩu Đồng Nai. - Tên giao dịch quốc tế: DONG NAI - IMPORT - EXPORT COMPANY. - Trụ sở chính: 73 - 75 - Đường 30/4 - Thanh Bình - Biên Hòa. - Vốn kinh doanh: 32,388 tỉ đồng. * Chức năng hoạt động của Công ty. - Trực tiếp xuất khẩu và nhận ủy thác xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thổ, thủy hải sản, thực phẩm chế biến, hàng thủ công mĩ nghệ, hàng tiểu thủ công nghiệp do Công ty thu mua, gia công chế biến hoặc do liên doanh, liên kết tạo ra. - Trực tiếp nhập khẩu và nhận ủy thác nhập khẩu các mặt hàng công cụ sản xuất, vật tư, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng kể cả chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất. - Tổ chức sản xuất, liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư với các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài để sản xuất chế biến hàng cuất nhập khẩu và hàng tiêu dùng. * Nhiệm vụ của Công ty: - Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu, gia công, lắp ráp theo đúng luật pháp hiện hành của Nhà nước và hướng dẫn của Sở Thương mại Đồng Nai. - Tổ chức nghiên cứu nâng cao năng suất lao động, đổi mới trang thiết bị, tổ chức tiếp thị tốt để nâng cao năng lực kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả ngày càng cao. Trang 21 - Chấp hành pháp luật Nhà nước, thực hiện các chế độ, chính sách về quản lí và sử dụng Tiền vốn, vật tư, tài sản, nguồn lực, thực hiện hạch toán kinh tế, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. - Thực hiện báo cáo theo ngành và chịu sự thanh tra của pháp luật. - Tổ chức tốt bộ máy doanh nghiệp, quản lí toàn dIện, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ công nhân viên chức theo pháp luật, chính sách của Nhà nước và sự phân cấp quản lí của Sở Thương mại để thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của Công ty. Chăm lo đời sống, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động làm việc, thực hiện phân phối công bằng. - Bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh chính trị và an toàn xã hội trong phạm vi quản lí của Công ty theo quy định của pháp luật. 3. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty. Công ty Xuất nhập khẩu Đồng Nai gồm có 69 cán bộ công nhân viên được biên chế thành 04 phòng ban và 02 chi nhánh. CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY. GIÁM ĐỐC Kế toán trưởng P.KD P. TC-HC P.Giám Đốc P.KẾ TOÁN CH DONIMEX Trạm KD Hàng XK TT VI TÍNH 4. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty. Công ty Xuất nhập khẩu Đồng Nai là một Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp bao gồm hàng tiêu dùng, nguyên vật liệu, thiết bị máy móc đáp ứng nhu cầu khác nhau của sản xuất và đời sống. Bên cạnh đó, Công ty còn thực hiện các dịch vụ gia công sản xuất, tái sản xuất hàng hóa, nhận ủy thác xuất nhập khẩu, chuyển khẩu. Trang 22 Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, mặt hàng chủ yếu của Công ty bao gồm: - Về xuất khẩu: Đối với xuất khẩu, Công ty sau khi thực hiện giao dịch và ký kết hợp đồng thành công thì tiến hành thu gom hàng hóa trong nước, chuẩn bị hàng hóa để thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Công ty trực tiếp sản xuất các mặt hàng sau: + Cà phê. + Cao su. + Tiêu đen. + Phụ tùng máy nông nghiệp. + Trang thiết bị thể thao. + Hàng thủ công mỹ nghệ. + Đệm bố thắng. - Về nhập khẩu: Đối với hàng nhập khẩu, căn cứ vào nhu cầu tiêu dùng cụ thể của từng đơn vị sản xuất trong nước và hợp đồng đã ký mà Công ty lên đơn hàng nhập khẩu. Công ty trực tiếp nhập khẩu các mặt hàng sau: + Hàng tiêu dùng: hàng điện tử, điện lạnh, các linh kiện điện, xe gắn máy, xe hơi, vải, thực phẩn ... + Hàng vật tư thiết bị phục vụ sản xuất: phân bón, xăng dầu, hóa chất, hạt nhựa, phụ tùng ô tô, máy nông ngư nghiệp ... II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRONG NHỮNG NĂM QUA 1. Vài nét về tình hình xuất khẩu ở nước ta. 1.1. Kim ngạch xuất khẩu Từ năm 1986 đến nay, dưới sự khởi xướng của Đảng và Nhà nước, con đường đổi mới của Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu đáng kể, nền kinh tế đã đi vào thế ổn định và đang phát triển đi lên, quan hệ quốc tế mở rộng.Trong giai đoạn này, Kim ngạch xuất khẩu cũng không ngừng gia tăng, đónh góp một phần đáng kể cho GDP. Với chính sách hướng về xuất khẩu, xuất khẩu đã và đang trở Trang 23 thành một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước. Trong những năm qua, thành tựu của xuất khẩu hàng hóa ở nước ta không chỉ thể hiện ở tổng kim ngạch mà còn ở sự chuyển đổi cơ cấu hàng hóa, cơ cấu ngành. Điều đó nói lên sự phát triển của sản xuất hàng hóa xuất khẩu theo xu hướng tiến bộ hơn. Bảng 3 : Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam giai đoạn (1990-1999). Đơn vị: Triệu USD Năm 199 Tổng kim 0 181 ngạch % Tăng 1991 199 199 199 199 199 199 199 1999 2081.7 2 247 3 300 4 360 5 550 6 710 7 870 8 936 1153 5 14.7 5 0 0 0 0 0 1 5 18.9 21.2 20.0 52.8 29.0 22.5 7.6 12.3 Nguồn : Niên giám Thống kê năm 1999. 1. 2. Cơ cấu hàng xuất khẩu. Thời kỳ từ năm 1986 đến năm 1990, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có nhiều thay đổi, nhiều mặt hàng giá trị đã được nâng cao thông qua chế biến.Chúng ta đã xây dựng được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như:Dầu thô, than , thuỷ sản , lâm sản. cơ cấu hàng xuất khẩu thời kỳ này như sau: - Hàng nông , lâm, thuỷ sản , nguyên liệu và chế biến chiếm 56, 6% - Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 30, 7% - Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 12, 7% Như vậy, hàng nông , lâm , thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong Kim ngạch xuất khẩu. Điều đó phản ánh tính chất và trình độ nền kinh tế nước ta còn lạc hậu.Tuy kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng cao (20%-25% năm) nhưng do điểm xuất phát của chúng ta thấp nên giá trị xuất khẩu thu về mỗi năm còn rất khiêm tốn. 1.3. Thị trường hàng xuất khẩu của Việt Nam. Nhờ thực hiện chính sách đối ngoại , đa dạng hoá, đa phương hoá, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, hợp tác bình đẳng , các bên cùng có lợi nên đến cuối năm 1997, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 152 Trang 24 nước và tổ chức quốc tế, trong đó đã ký hiệp định thương maị với 60 nước. Thị trường xuất khẩu thời kỳ 1991-1997 được mở rộng hơn. Bảng 6: Thị trường xuất khẩu theo Châu lục Châu Lục Châu Á TBD Châu Âu Châu Phi- Tây Châu Mỹ Nam Á % trong tổng Kim 80 15 3 2 ngạch Xét theo châu lục-thị trường hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu diễn ra trên Châu á Thái Bình Dương (chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam). Trong đó , xuất khẩu sang các nước Đông Nam á là 34% (chủ yếu là Singapoor), sang các nước Đông Bắc Á là 31.5%( gồm Nhật Bản, Đài Loan, Hong Kong và Hàn Quốc), xuất sang Trung Quốc chiếm 3.9%. Sau thị trường Châu Á là thị trường Châu Âu, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này chiếm 15%, trong đó xuất sang EU là 13.8%. Các thị trường Châu Mỹ và Châu Phi đang có nhiều hứa hẹn tuy vậy hàng hoá của ta xuất sang các thị trường này còn ở mức khiêm tốn. Xét riêng từng nước, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang 10 nước lớn nhất cho ở bảng sau: Bảng 7 : Kim ngạch xuất khẩu sang một số nước Nước % Tổng Kim ngạch XK Nhật Singapore T.Quốc 28,5 14,6 7,4 5,4 Đài Hồng Loan kông 4,9 4,6 Đức Pháp 2,2 2,9 Thái Lan 2,2 Nga 2,2 Nguồn: tạp chí Thương mại số 3-4/1998 Trong các nước trên, Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Tài chính Nhật Bản, kim ngạch xuất khẩu mậu dịch giữa hai nước năm 1996 đạt 3,4 tỷ USD, tăng 40% so với năm 1997, trong đó Việt Nam xuất sang Nhật Bản 2,2 tỷ USD. Thị trường thứ hai sau Nhật Bản là Singapore. Năm 1998, kim ngạch buôn bán hai chiều đạt 2,2 tỷ USD, năm 1997 là 33,44 tỷ USD. Điều đáng mừng là ngoài các sản phẩm truyền thống như dầu thô, may mặc, hàng nông sản chế biến, năm 1997 ta đã xuất sang Singapore được hàng điệnt ử (tivi), dù giá trị mới ở mức Trang 25 Hàn Quốc khiêm tốn 5,2 triệu USD. Tuy nhiên, đây sẽ là bước khởi đầu đầy tốt đẹp để hàng công nghiệp cao cấp của ta xâm nhập thị trường này. Sau Nhật Bản và Singapore có thể kể đến các thị trường như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, Thái Lan, Đức, Pháp, Nga. Qua phân tích trên ta thấy, thị trường xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu là các nước Châu Á - Thái Bình Dương (chiếm 80%). Mặc dù đã có hàng dệt sang EU từ năm 1992 nhưng tháng 7/1995 Việt Nam mới ký kết Hiệp định Thương mại và tháng 7/1996 mới ký Hiệp định xuất khẩu hàng dệt sang EU. Tuy đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, nhưng Việt Nam chưa được hưởng quy chế tối huệ quốc (MFN) và chưa ký Hiệp định Thương mại với họ nên thị trường Châu Mỹ mới trong quá trình thử nghiệm. Thị trường Châu Phi và Trung Đông do cách biệt về địa lý, nhu cầu nhập khẩu hàng ta chưa lớn nên kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang các nước này còn nhỏ bé. 1. 4.Những hạn chế khó khăn trong xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Hiệu quả thấp trong hoạt động xuất khẩu của ta thể hiện rõ trên nhiều mặt, đáng chú ý là những mặt sau: Thứ nhất: Hoạt động xuất khẩu của ta diễn ra không đều, chủ yếu tập trung ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng. Các địa phương chỉ chiếm 40% giá trị xuất khẩu cả nước và đang có nguy cơ giảm dần. Một số tỉnh phải thông qua các thành phố lớn mới xuất khẩu được, bởi họ chưa định hình nổi các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, sản lượng thấp, thất thường, vì thế hiệu quả đạt được rất thấp. Thứ hai: Chất lượng của hàng hoá Việt Nam chưa cao, chủ yếu là hàng thô hoăc sơ chế làm cho nguồn hàng giảm 50% giá trị. Đây được coi là hạn chế lớn nhất của hàng xuất khẩu Việt Nam.Do hạn hẹp về vốn, thấp kém về trình độ công nghệ, chúng ta đã bán rẻ tài nguyên thiên nhiên, các loại nông lâm hải sản, không tận dụng hết nguồn lao động rẻ, dồi dào. Thứ ba: Trong hoạt động xuất khẩu , chưa giải quyết mối quan hệ thoả đáng giữa các mặt hàng chủ đạo với các nhóm hàng khác, quá chú trọng và ưu tiên cho một số mặt hàng mà lại không biết tận dụng và bỏ qua nhiều loại hàng hoá khác rất có triển vọng, tiềm năng như: các loại máy động lực, mật ong, và nhiều sản phẩm Trang 26
- Xem thêm -