Kịch lịch sử của nguyễn huy tưởng ( luận văn ths. văn học )

  • Số trang: 100 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 30 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 7932 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- NGUYỄN THỊ VÂN KỊCH LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học Hà Nội-2014 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- NGUYỄN THỊ VÂN KỊCH LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học Mã số: 60 22 01 20 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Phạm Quang Long Hà Nội-2014 2 LỜI CẢM ƠN Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết sơn sâu sắc đến thầy giáo, PGS.TS Phạm Quang Long, người đã hướng dẫn tôi tận tình, chu đáo trong quá trình thực hiện luận văn. Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, quý thầy giáo, cô giáo ở Phòng Đào tạo Sau đại học và thầy giáo, cô giáo khoa Văn học, trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy cô giáo bộ môn Lý luận văn học, khoa Văn học – những người đã dạy dỗ, truyền thụ kiến thức khoa học, giúp tôi từng bước trưởng thành. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, gia đình và bạn bè đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt và thực hiện thành công luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2012 Nguyễn Thị Vân 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn do tôi thực hiện. Những kết quả từ những tác giả trước mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể. Không có bất kỳ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu. Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm! Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2014 Học viên Nguyễn Thị Vân 4 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 7 1. Lý do chọn đề tài......................................................................................................... 7 2 . Lịch sử vấn đề. ........................................................................................................... 9 3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu. .............................................................................. 12 4. Phƣơng pháp nghiên cứu. ....................................................................................... 13 5. Cấu trúc luận văn ..................................................................................................... 13 CHƢƠNG 1: CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG KỊCH CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG. ................................................................................................. 15 1.1. Mối quan hệ lịch sử - văn học.............................................................................. 15 1.2. Kịch và kịch lịch sử trong tiến trình văn học Việt Nam.................................. 17 1.3. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tƣởng. .................................................... 21 1.3.1. Con người và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng................. 21 1.3.2. Nguyễn Huy Tưởng và lịch sử. ............................................................. 23 1.3.3. Các nhân tố tạo nên cảm hứng lịch sử trong các sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng.......................................................................................... 26 1.4. Lịch sử - nơi khơi nguồn cảm hứng sáng tạo trong sáng tác kịch Nguyễn Huy Tƣởng..................................................................................................................... 29 1.4.1.Đề tài. ....................................................................................................... 29 1.4.2. Sự kiện. ................................................................................................... 32 1.5. Cảm hứng đƣợc thể hiện trong tác phẩm kịch lịch sử Nguyễn Huy Tƣởng.34 1.5.1. Cảm hứng bi kịch. .................................................................................. 34 1.5.2. Cảm hứng phê phán............................................................................... 37 1.5.3. Cảm hứng sử thi. .................................................................................... 40 CHƢƠNG 2: CÁC MÂU THUẪN CƠ BẢN TRONG KỊCH LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG ...................................................................... 44 2.1. Mâu thuẫn dân tộc và vấn đề quốc gia. ............................................................. 44 5 2.2. Mâu thuẫn giữa cƣờng quyền – kẻ bị trị và vấn đề số phận ngƣời dân....... 54 2.3. Mâu thuẫn cá nhân và vấn đề số phận con ngƣời. .......................................... 60 CHƢƠNG 3: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG KỊCH LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG................................................................................ 71 3.1. Từ nhân vật lịch sử đến nhân vật văn học trong kịch lịch sử Nguyễn Huy Tƣởng. ............................................................................................................................ 73 3.2. Nhân vật quần chúng – một cái nhìn mới trong kịch lịch sử Việt Nam....... 86 KẾT LUẬN. ..................................................................................................... 95 6 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với một di sản văn học phong phú, trải rộng trên khá nhiều lĩnh vực, Nguyễn Huy Tưởng xứng đáng là một đại diện xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông viết sách lịch sử, sáng tác tiểu thuyết, kịch, truyện thiếu nhi... và ở lĩnh vực nào cũng đạt được những thành công. Với những đóng góp và tìm tòi của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã và đang ngày càng thu hút được sự chú ý, tìm hiểu, lý giải, đánh giá không chỉ của giới làm nghề, mà còn của nhiều công chúng. Đồng thời, nổi bật lên như là một dấu hiệu dễ nhận thấy về Nguyễn Huy Tưởng, đó chính là các tác phẩm của ông luôn hướng về đề tài lịch sử. Lịch sử hấp dẫn ông đến mức các tác phẩm của ông, dù ở thể loại nào cũng in đậm dấu ấn của lịch sử. Trong bài viết của mình, nhà nghiên cứu Vũ Nho đã từng nhận xét: “Có thể nói, Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn say mê với lịch sử và thành công chủ yếu ở mảng đề tài này”[27] Vì vậy, đến nay, có lẽ, với những gì mà chúng ta đã biết và đánh giá về cuộc đời, sự nghiệp và mảng đề tài lịch sử của ông vẫn cần được tìm hiểu, suy ngẫm và khám phá. Trước tình hình đó, việc tiếp tục có những bài viết, đặc biệt là những công trình nghiên cứu công phu về tác giả này là thực sự cần thiết. Nhắc đến sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tưởng, chúng ta không thể không nhắc đến một mảng quan trọng trong đời sáng tác của ông chính là kịch lịch sử. Tất cả các vở kịch của ông được viết trong gần 20 năm, nhưng thực chất, trừ Lũy hoa, tác phẩm Vũ Như Tô, Bắc Sơn và Những người ở lại chỉ được viết trong vỏn vẹn 3 năm. Trong đó, ngoài Vũ Như Tô trong cảm hứng về mâu thuẫn, xung đột giữa cường quyền với cái đẹp, giữa khát vọng nghệ thuật và thực tế cuộc sống, thì hầu hết các tác phẩm tiếp theo liền mạch trong cảm hứng về dân tộc, lịch sử, nhân dân và khát vọng tự do của cách mạng. 7 Tuy nhiên, xuyên suốt kịch lịch sử của mình, như một phong cách sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng trong tác phẩm của mình luôn thấm đẫm cảm hứng lãng mạn. So với nhiều kịch gia tên tuổi khác, số lượng tác phẩm như vậy không phải là nhiều nhưng bù lại, nó thể hiện rõ nét những nỗ lực tìm tòi, sự cách tân làm mới thể loại và khẳng định được phong cách nghệ thuật xuyên suốt hành trình sáng tạo của ông. Nghiên cứukịch lịch sử Nguyễn Huy Tưởng không chỉ để có cái nhìn toàn diện hơn về sự nghiệp sáng tác của một tác gia văn học tầm cỡ mà còn là sự khám phá cần thiết về một mảng sáng tác thực sự có giá trị về cả nội dung và nghệ thuật. Đồng thời, qua những tác phẩm cụ thể đó, bằng những trải nghiệm lịch sử của tác giả, chúng ta thấy rõ hơn cách tiếp cận vấn đề của ông, cách viết của ông. Từ đó, phần nào làm nổi bật lên tài năng và sự thành công của ông trong lĩnh vực kịch lịch sử. Tuy đã có một số công trình nghiên cứu về thể tài lịch sử - dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, cảm hứng lịch sử trong tiểu thuyết của ông, hoặc một số công trình nghiên cứu riêng lẻ về các tác phẩm kịch của Nguyễn Huy Tưởng, song cho đến nay, mặc dù đã có khá nhiều những ý kiến xác đáng và một vài công trình nghiên cứu có giá trị, nhưng không phải mọi vấn đề về kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng đã được giải quyết.Vấn đề bi kịch lịch sử về số phận cá nhân, dân tộc, vai trò của các lực lượng xã hội trong vòng xoáy của những xung đột, cách lý giải của riêng nhà văn... vẫn còn có thể nghiên cứu tiếp. Vì vậy, đây có lẽ là mảnh đất cần được khai phá thêm và hứa hẹn có một số những phát hiện thú vị. Trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ lựa chọn một số vấn đề nêu trên làm nội dung chính cho đề tài tốt nghiệp của mình. Nằm trong dòng chảy của kịch Việt Nam hiện đại, những tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng thường được tiếp cận theo các hướng khác nhau của vấn 8 đề lịch sử. Nghiên cứu những vấn đề lịch sử trong các sáng tác kịch của ông giúp cho chúng ta, qua đó, làm rõ hơn khái niệm về lịch sử và đề tài lịch sử, mối quan hệ giữa lịch sử và việc sáng tạo văn học nghệ thuật nói chung, thể loại kịch nói riêng về vấn đề lịch sử. 2 . Lịch sử vấn đề. Nguyễn Huy Tưởng là một tác giả có nhiều đột phá ở nhiều thể loại. Vì vậy, đã có khá nhiều nhà khoa học với những công trình nghiên cứu chất lượng tìm hiểu về con người và sự nghiệp của ông. Có thể kể đến một số tên tuổi như: Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, Phong Lê, Nguyễn Bích Thu... hay nhiều nhà văn nổi tiếng nhận xét về các tác phẩm của ông như: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Anh Đức, Nguyên Hồng, Vũ Tú Nam cũng có nhiều đánh giá về tác phẩm, hoặc những nội dung khá đặc sắc trong sáng tác của ông... Tuy nhiên, những công trình này quan tâm đến các khía cạnh thi pháp lịch sử, bi kịch cá nhân hay vai trò của các lực lượng trong xã hội.. Công trình đầu tiên nghiên cứu khá kỹ lưỡng những vấn đề lịch sử trong các sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng,mang tên Nguyễn Huy Tưởngcủa Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức xuất bản năm 1966. Chuyên luận nghiên cứu này đã chỉ ra rất rõ những vấn đề lịch sử trong tiểu thuyết và kịch của Nguyễn Huy Tưởng, nhận định xác đáng rằng: “Trong số các tác giả, Nguyễn Huy Tưởng là người có thế giới quan tiến bộ nhất và đã cố gắng khai thác đề tài lịch sử một cách nghiêm túc và sáng tạo”. [7; tr. 23]Ở chuyên luận này, các tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà văn, đặc biệt ở hai thể loại: tiểu thuyết và kịch. Đồng thời, hai tác giả nhấn mạnh “Nguyễn Huy Tưởng đã có công nghiên cứu lịch sử nhưng anh không nô lệ tài liệu lịch sử[7; tr. 27]”. Bên cạnh đó, hai tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, là tuy nhà văn có khích lệ tinh thần, lòng yêu nước và tự hào dân tộc, nhưng cũng chưa nhận thức được hết sức mạnh lớn lao của quần 9 chúng và sức mạnh ấy đã tác đông như thế nào đến vận mệnh của một dân tộc. Tuy nhiên, chuyên luận bao quát vấn đề lịch sử trong cả hai thể loại: tiểu thuyết và kịch, nên còn chung chung và chưa đi sâu được vào từng thể loại. Hơn nữa, gần như là chuyên luận đi sâu nghiên cứu về vấn đề xã hội của tác phẩm, chưa đi sâu vào các vấn đề khác, những khoảng trống, những khía cạnh khác trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng. Trong cuốn Văn học trên hành trình trình thế kỉ XX, khi nghiên cứu văn xuôi và kịch của Nguyễn Huy Tưởng, giáo sư Phong Lê đã khẳng định: “Lịch sử - đó là mối quan tâm sâu sắc và thường xuyên của Nguyễn Huy Tưởng... Đó cũng là khoảng lùi cho ông chiêm nghiệm chính gương mặt hiện tại”[19; tr. 97] Tô Hoài – một nhà văn lão làng của văn học Việt Nam cũng từng đánh giá: Nguyễn Huy Tưởng là một cây bút sử thi hùng tráng với “tiềm thức gắn bó và thôi thúc” tìm hiểu về “nghìn năm lịch sử dựng nước biến thành bộ truyện chói lọi hàng năm, hàng trăm nhân vật anh hùng...”. [15; tr. 345] Năm 1996, Nguyễn Huy Tưởng được nhận giải thưởng Hồ CHí Minh về văn học nghệ thuật, Giáo sư Hà Minh Đức trong cuốn sách Các nhà văn được giải thưởng Hồ Chí Minh, nhận xét: “Nguyễn Huy Tưởng đã khơi nguồn cho những tác phẩm của mình từ dòng lịch sử của dân tộc với bao trang hào hùng rực rỡ chiến công chống xâm lược. lịch sử cảm nhận sâu sắc trong những ngày đen tối của cuộc đời hiện tại...”.[11; tr. tr. 375] “đã làm sống dậy chân thực và hào hùng...” [11; tr. 375] một giai đoạn lịch sử của dân tộc. TrongGiáo trình văn học Việt Nam 1945 – 1975với bài viết Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Trác đã nghiên cứu một cách khá sâu sắc và hệ thống những sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng trong các thời kỳ cả trước và sau cách mạng ở từng thể loại. Điểm nổi bật trong chuyên luận này, chính là việc người viết đã nêu ra những đặc sắc về mặt nghệ thuật mà nhà văn đã đạt được. Qua đó, 10 ông đã dành hẳn một phần viết vềcảm hứng lịch sử xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng khá sâu sắc và kĩ lưỡng. Bên cạnh những tiểu luận chuyên sâu đó, các bài viết nghiên cứu về Nguyễn Huy Tưởng của những tác giả có tên tuổi, uy tín trong làng văn chương, gần đây đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên tổng hợp biên soạn, chọn lọc và đưa vào cuốnNguyễn Huy Tưởng – về tác gia và tác phẩm. Cuốn sách này khá công phu và là tư liệu tham khảo cơ bản cho những ai muốn tìm hiểu về Nguyễn Huy Tưởng. Là tổng hợp các tiểu luận có chất lượng nghiên cứu về nhiều mặt khác nhau trong các sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, cuốn sách cho chúng ta thấy được cái nhìn đa diện hơn về tác giả cũng như tác phẩm. Tiến sĩ Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên trong bài viết Nguyễn Huy Tưởng – khát vọng một đời văn đã nhận xét ông “là một trong số hiếm hoi những tiểu thuyết gia có sở trường về đề tài lịch sử”[44; tr. tr. 28] Ngiuyễn Huy Tưởng là một tác giả lớn, có ý nghĩa quan trong trong tiến trình phát triển của dòng văn học kịch. Vì thế, trên đầy là khảo sát một số công trình nghiên cứu vè Nguyễn Huy Tưởng, ngoài những công trình trên, còn rất nhiều những bài báo, những công trình nghiên cứu công phu khác viết về ông. Những tiểu luận, chuyên luận, công trình nghiên cứu, những nhận xét, đánh giá và cả những cuốn sách phê bình có chất lượng cao đó đã giúp cho chúng ta phần nào hiểu được sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau trong sáng tạo của Nguyễn Huy Tưởng. Tuy nhiên, tất cả những bài nghiên cứu xoay quanh đề tài lịch sử thường tập trung khai thác chi tiết ở một vài điểm nổi bật như: góc nhìn, cách tiếp cận lịch sử, tiểu thuyết lịch sử, hoặc khái quát cả tiểu thuyết và kịch lịch sử nói riêng. Trong đó, chưa có tác phẩm nào đi chuyên sâu vào riêng lĩnh vực kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng. Do vậy, 11 với vốn kiến thức ít ỏi của mình, chúng tôi hy vọng rằng luận văn có thể làm rõ hơn những giá trị lịch sử trong một số vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng. 3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu. Về các tác phẩm kịch lịch sử được khảo sát, vở Cột đồng Mã Viện- tác phẩm đầu tay, được Hà Minh Đức sưu tầm xuất bản sau khi Nguyễn Huy Tưởng mất, cũng có nhiều ý nghĩa cho thấy sự trăn trở và những tìm tòi buổi đầu của ông khi viết kịch lịch sử. Đó là tác phẩm mà nhà văn bỏ ra công sức và viết đi viết lại nhiều nhất, trong thời gian là 5 năm, được chỉnh sửa rất nhiều lần và chính thức viết lại với tên Cột đồng Mã Viện năm 1945. Theo như chúng tôi biết, tác phẩm chưa được nhà văn công bố, toàn bộ tập bản thảo được tìm thấy sau khi nhà văn qua đời chỉ gồm 30 trang viết tay, có khá nhiều chỗ gạch xóa và chỉnh sửa. vậy nhưng tác phẩm chưa có được dạng hoàn thiện như một bản thảo đã hoàn chỉnh, chưa kể vẫn còn chỗ thiếu. Hơn nữa, chúng tôi trong khuôn khổ 1 luận văn, chúng tôi khảo sát 3 tác phẩm chính, quan trọng đánh dấu mốc trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng và được xếp vào hàng những sự kiện có ý nghĩa mốc son trong quá trình phát triển của nền Kịch nói Việt Nam. Đó là tác phẩm: - Vũ Như Tô sáng tác năm 1943, một trong những tác phẩm lớn nhất trong văn nghiệp của tác giả và cũng là kịch bản tiêu biểu của kịch trường Việt thế kỷ XX. Tác phẩm được công diễn tại Nhà hát Tuổi trẻ Hà Nội vào năm 1995. - Bắc Sơn, được công diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội vào cuối năm 1946, mở đầu cho dòng kịch cách mạng Việt. - Những người ở lại, được trình diễn năm 1949 tại chiến khu Việt Bắc và năm 1957 diễn lại tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Tác phẩm được nhìn nhnạ là sự mở đầu cho công cuộc chuyên nghiệp hóa nền Kịch nói Việt Nam. 12 Các kịch này được viếttheo thời gian từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc sự nghiệp với tư cách là một kịch gia. Chúng tôi không đưa Lũy hoavào luận văn. Bởixét về thể loại nó là một kịch bản phim. Tất nhiên cảm hứng lãng mạn, cảm hứng lịch sử vẫn rất đậm nét ở tác phẩm này. Khi cần, chúng tôi vẫn đề cập đến dưới dạng so sánh hoặc nhấn mạnh một luận điểm nào đó. Trong khi nghiên cứu các tác phẩm kịch, chúng tôi có sự đối sánh với những tác phẩm của các nhà văn cùng thời khác. Qua đó, thấy được vai trò và vị trí của Nguyễn Huy Tưởng đối với sự phát triển của kịch lịch sử nói riêng và kịch nói chung trong văn học Việt Nam hiện đại. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu. Với đề tài này, chúng tôi sử dụng tích hợp các phương pháp khác nhau để nghiên cứu các tác phẩm kịch. Trong đó, có một số phương pháp cơ bản như: - Phương pháp thống kê. - Phương pháp văn học so sánh. - Phương pháp phân tích. - Phương pháp nghiên cứu tác giả….. 5. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm các chương: Chương 1: Cảm hứng lịch sử trong kịch của Nguyễn Huy Tưởng. Chương 2: Những mâu thuẫn cơ bản trong kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng. Chương 3: Thế giới nhân vật trong kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng. Trong giới hạn kiến thức của mình, luận văn cố gắng làm rõ một số vấn đề: 13 - Một là: luận văn làm rõ mối quan hệ giữa lịch sử và các sáng tác văn học, đặc biệt là kịch. Đồng thời, phần nào hiểu hơn về sự nghiệp văn học, đặc biệt là kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng – một tác giả khá thành công trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam. - Hai là: phân tích rõ các mâu thuẫn cơ bản được thể hiện trong các sáng tác kịch của Nguyễn Huy Tưởng. - Ba là: Làm rõ thế giới nhân vật trong kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng, từ lịch sử đi vào trong sáng tác văn chương. 14 CHƢƠNG 1 CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG KỊCH CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG. 1.1. Mối quan hệ lịch sử - văn học. Lịch sử và văn chương luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong truyền thống văn chương, quan điểm “văn - sử bất phân” hay “văn - sử - triết bất phân” đã trở nên vô cùng quen thuộc. Đặc biệt là văn học trung đại, khi mà văn chương thời đó không phải chỉ là nghệ thuật, mà còn là công cụ hành chính, phát biểu quan điểm chính trị, khái quát hiện thực lịch sử đương thời… nên bản thân văn chương, trong sự phát triển của mình, cũng là một vấn đề thuộc lịch sử. Theo quan niệm Mác xít, văn chương là phương tiện để phản ánh hiện thực cuộc sống của con người. Vì thế, Các Mác đã từngnói: Lịch sử chẳng phải là gì khác mà chính là cuộc sống của con người theo đuổi một mục đích của mình.Từ đó, phần nào chúng ta thấy được sự liên kết giữa lịch sử - xã hội và văn học. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Nếu lịch sử là một quá trình tiếp biến, thì xét về bản chất, văn chương tồn tại trong sự sống động của lịch sử, xã hội. Thật vậy, điều đó được chứng minh ngay trong đời sống nội tại của cả lịch sử và văn học. Nếu như lịch sử là những cái gì đã qua và đòi hỏi tính chính xác thì văn học lại từ lịch sử, trong sự vận động của lịch sử lại có khả năng nhìn nhận và đánh giá lại lịch sử. Văn học có khả năng kế thừa, có thể tiếp thu hay thậm chí đối thoại với quá khứ. Đó cũng chính là lý do mà các nhà văn, nhà thơ có thể tung hoành với những sự tiếp biến từ lịch sử, từ những gì của lịch sử mà thỏa sức mà sáng tạo với sự tái sinh của những mặc cảm Ơdip, Don Kihote, hay với thể loại cổ tích hiện đại, nhại lịch sử, nhại cổ tích… 15 Với mối quan hệ đó, các tác giả văn học đã khéo léo đưa lịch sử vào tác phẩm của mình để tạo sự hấp dẫn. Và vì thế, những truyền thống lịch sử của dân tộc, những nhân vật, sự kiện, bề dày phát triển mọi mặt xuyên suốt chiều dài lich sử của đất nước đã trở thành nguồn cội, là mảnh đất màu mỡ cho các tác giảsáng tạo nên các tác phẩm của mình. Họ quan tâm, tìm nghiên cứu lịch sử một cách nghiêm túc để có thể tạo ra tác phẩm thành công nhất. Theo đó, mối quan hệ giữa lịch sử và sự sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử sẽ được thể hiện qua hai khuynh hướng cơ bản: “Một là, tác phẩm văn học, nghệ thuật viết về đề tài lịch sử phải đảm bảo tính chất chân thật của lịch sử, tức là bám sát và tuyệt đối trung thành với các sự kiện có thật của lịch sử(tuy không bỏ qua cảm quan chính trị của tác giả)” [48; tr. 23]. Để minh chứng cho luận điểm này, Hồng Vinh đã lấy ví dụtiểu thuyết lịch sử lớn và nổi tiếng ở nước ta, đó là tác phẩm tiểu thuyết chương hồi lịch sử mang tên Hoàng Lê nhất thống chí của dòng họ Ngô Thì. Khuynh hướng thứ hai, và có lẽ là khuynh hướng mà hiện nay nhiều các tác giả văn học sử dụng để sáng tạo các tác phẩm của mình, “lấy lịch sử làm chất liệu, là cái cớ để sáng tạo tác phẩm, qua đó để mượn xưa nói nay, để gửi gắm những quan niệm về thời đại, khám phá con người lịch sử với tư cách là những nhân vật của tác phẩm văn học nghệ thuật.” [48; tr.23].Đó là khi họ lấy đề tài từ một sự kiện lịch sử, một nhân vật có trong lịch sử… sáng tạo trong các loại hình nghệ thuật như: điện ảnh (ví dụ: bộ phimTrần Thủ Độ); vở kịchDương Quý Phi, Kinh Khacủa Thế Lữ - Vi Huyền Đắc, Huy Thông, kịch thơHuyền Trân công chúa, Yêu Ly của Lưu Quang Thuận và kịchcủa Nguyễn Huy Tưởng thì thực sự “lịch sử chỉ là cái đinh” để họ treo các bức tranh của mình lên theo cách nói của A. Duyma. 16 1.2. Kịch và kịch lịch sử trong tiến trình văn học Việt Nam. Sự ra đời của một nền văn hoá mới trước ngưỡng cửa thế kỷ XX do những điều kiện lịch sử và xã hội cụ thể của một đất nước thuộc địa nửa phong kiến quyết định. Chế độ thực dân Pháp đã vô tình giúp nước ta thúc đẩy quá trình thâm nhập và phổ biến rộng rãi những kiến thức mới, những tư tưởng chính trị, triết học và nghệ thuật mới cũng như những thành tựu khoa học – kỹ thuật của phương Tây. Và vì thế, đời sống xã hội cũng như văn hóa có sự thay đổi đáng kể. Kéo theo đó, chúng ta không thể không kể tới sự thay đổi trong đời sống văn học, bắt đầu với quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc, bước đầu chuyển từ văn học trung đại sang văn học hiện đại. Quá trình hiện đại hóa ấy đã đạt được khá nhiều thành tựu và một trong những thành tựu đó chính là sự phát triển đa dạng của các thể loại văn học khác nhau, trong đó có kịch. Kịch cùng với hai phương thức cơ bản khác của văn học (tự sự, trữ tình) là những loại hình của văn học. Trong đó, kịch là thể loại đặc biệt, nó vừa diễn, vừa đọc, vừa thuộc loại hình sân khấu, lại vừa là một thể loại của văn chương. Trước thế kỷ XX, nghệ thuật sân khấu Việt Nam tồn tại được như hai thể loại sân khấu âm nhạc truyền thống là tuồng và chèo, mà vào thời kỳ đó đã bắt đầu quá trình cải cách để thích ứng với điều kiện của một xã hội nửa thuộc địa nửa phong kiến. Chính vào thời kỳ này ở Việt Nam đã xuất hiện những thể loại sân khấu mới là cải lương và kịch nói.Sự ra đời của sân khấu kịch nói xuất phát từ mong muốn giới thiệu sân khấu phương Tây với khán giả Việt Nam của các văn nghệ sĩ. Buổi diễn kịch đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của một thể loại dân khấu mới ở Việt Nam, đã được ra mắt công chúng ngày 25 tháng 4 năm 1920 tại Nhà hát thành phố Hà Nội. Đó là vở kịch Người bệnh tưởng của Molie do một nhóm sân khấu nghiệp dư dàn dựng. 17 Kịch là một bộ phận hợp thành của nghệ thuật sân khấu. Trước khi mang lên sân khấu diễn, nó là một tác phẩm văn học đích thực, trong đó, nó có xen những yếu tố miêu tả cụ thể về không gian, thời gian và khả năng biểu hiện nghệ thuật của các phương tiện sân khấu khác, đặc biệt là mô tả cả những biểu hiện của từng diễn viên. Đặc biệt hơn nữa, trong các thể loại văn học, kịch có ưu thế hơn cả trong mảng đề tài về lịch sử. Kịch theo Từ điển thuật ngữ văn học của các tác giả Lê Bá Hán – Trần Đình Sử, được “hình thành như một thể loại vào khoảng nửa sau thể kỉ XVIII qua các sáng tác của các nhà Khai sáng ở Pháp và Đức như Điđơrô, Bômacse, Létxinh...”. Đồng thời, “Ở Việt Nam, kịch ra đời vào cuối những năm 20 của thế kỉ XX với những sáng tác như Chén thuốc độc của Vũ Đình Long, vở Kim tiền của Vi Huyền Đắc...”[34; tr. 169]. Ra đời khá muộn so với các nước khác, nhưng văn học kịch Việt Nam đã tiếp thu tinh hoa thể loại từ các thế hệ trước, và vì vậy, chúng ta đã từng có những thành tựu rất sớm, đặc biệt kịch về đề tài lịch sử. Với tính xung đột và tính hành động, văn học kịch dường như có thể dễ dàng làm “sống” lại lịch sử, “dựng” lại lịch sử và vì thế, nó đem đến cho người đọc, người xem những hứng thú đặc biệt. Về khái niệm lịch sử, có nhiều cách diễn tả khác nhau, nhiều cách thể hiện khác nhau. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, lịch sử là những gì đã xảy ra bao gồm cả những việc ghi chép lại những hành động và sự kiện đã qua. Kịch lịch sử theo Từ điển Thuật ngữ văn học là một thể loại văn học lịch sử. Đó là thể loại sáng tác về các đề tài và nhân vật lịch sử. Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử này chứ đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sự liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục phong tục, tập quán 18 phù hợp với giai đoạn lịch sử đấy. Tác phẩm thường mượn chuyện xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa, phá vỡ tính chân thực của lịch sử. Tóm lại, theo quan điểm của chúng tôi, kịch lịch sử là một thể loại kịch viết về quá khứ, lấy lịch sử làm đề tài, sáng tạo về các sự kiện, đề tài, nhân vật có trong lịch sử hoặc những vấn đề lịch sử mang tính quốc gia dân tộc, thường mô tả những xung đột, mâu thuẫn mang tính lịch sử (ví dụ như mâu thuẫn đối kháng về giai cấp, dân tộc, về thời đại) thông qua đó mô tả những tư tưởng chủ đề mà nhà văn muốn hướng đến.Đề tài lịch sử là những sự việc đã thuộc về quá khứ, lịch sử. Vì vậy viết về những sự kiện và những con người ấy dễ được thừa nhận ngay là về lịch sử. Nhưng có những sự việc, con người mới xảy ra, nhà văn viết về họ từ những tư liệu vẫn còn nóng hổi nhưng vẫn được gọi là lịch sử. Ví dụ trận đánh Xtalingrad ở Liên Xô thời chiến tranh thế giới thứ hai, được các nhà văn Nga viết ngay trong những năm ấy vẫn được xếp vào tác phẩm lịch sử. Tác phẩm của dòng họ Ngô Thì là Hoàng Lê nhất thống chí được viết về những sự việc, con người ngay sau những sự việc ấy xảy ra một thời gian ngắn cũng được xếp vào thể loại Tiểu thuyết lịch sử. Như vậy, tiêu chí " để trở thành lịch sử" ở đây vừa có sự việc, con người đã lùi vào dĩ vãng ( xa hoặc gần) nhưng điều cơ bản là cảm hứng chung của tác phẩm, vấn đề nêu ra mang ý nghĩa lớn như bao quát vận mệnh cả dân tộc, tái hiện được sự thật lịch sử ấy như nó đã xảy ra...thì chúng tôi cũng tạm xếp nó vào đề tài lịch sử.Những vấn đề của lịch sử được tác giả viết dưới góc nhìn của ngày hôm nay khi lý giải nó và phục vụ cho mục đích của mình. Do đó, khi viết về những sự việc lùi xa vào quá khứ thì những dấu ấn hiện đại vẫn rất rõ. Ngược lại, với những sự việc còn nóng hổi mang tính thời sựở tác phẩm của mình, nhà văn vẫn tạo thêm cho nó những sắc thái của lịch 19 sử như cảm hứng, cách thể hiện, nhãn quan lịch sử...nên cả hai yếu tố này hoà vào nhau và cảm nhận của người đọc, người xem vẫn là lịch sử. Cái hồn cốt lịch sử ấy chính là sự thực, cảm hứng, nhân vật mà qua chúng, bóng dáng lịch sử hiện ra trước chúng ta rõ hơn. Đề tài lịch sử được các nhà nghiên cứu đánh giá: luôn là một khó khăn, thách thức với tất cả các nhà văn, nhà viết kịch không chỉ riêng ở nước ta. Thế nhưng, tiểu thuyết Việt Nam ngay từ khi mới ra đời đã được ghi nhận là những tiểu thuyết lịch sử với hình thức chương hồi, mà tiêu biểu nhất phải kể đến hai bộ tác phẩm đồ sộ và có giá trị: Hoàng Lê nhất thống chí và Việt Lãm xuân thu. Đến thể kỷ XX, tiểu thuyết lịch sử lại được xuất hiện trong dòng văn học yêu nước, đặc biệt là sau Cách mạng. Tuy rằng dòng tiểu thuyết lịch sử có sự phát triển lâu đời và phát triển mạnh hơn, song kịch lịch sử vẫn chảy không ngừng, âm ỉ và đến đầu thế kỷ XX bắt đầu phát triển khá mạnh. Các kịch gia bắt đầu chú ý hơn và khai thác sâu hơn đề tài lịch sử: từ nhân vật, sự kiện đến những biến cố trong lịch sử dân tộc. Hơn bao giờ hết, lịch sử trở thành nguồn đề tài phong phú và hấp dẫn đối với các tác giả. Số lượng các tác phẩm kịch lịch sử nhiều hơn, nhưng thật sự, theo các nhà nghiên cứu, số lượng các tác phẩm kịch lịch sử “có giá trị chỉ đếm trong đầu ngón tay”. Trong số đó, chúng ta không thể không kể đến Nguyễn Huy Tưởng với cú hích đầu đời tốn mất không biết bao nhiêu giấy bút của các nhà nghiên cứu phê bình với tác phẩm kịch lịch sử Vũ Như Tô. Từ đó, tiếp nối thành công của Nguyễn Huy Tưởng từ đề tài lịch sử với các tác phẩm như: Vũ Như Tô, Bắc Sơn, Những người ở lại, …là những tên tuổi nổi tiếng như nhà soạn kịch Trúc Đường, Tào Mạt, Nguyễn Đình Thi… cũng đi vào khai thác vấn đề kịch lịch sử. Trúc Đường với vở kịch nói Quang Trung, Tào Mạt (1930 – 1993) nổi tiếng với những tác phẩm chèo như: Bài 20
- Xem thêm -