Khủng hoảng tài chính và quản trị rủi ro

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 582 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

2013 TI ỂU LUẬN MÔN HỌC QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH Chuyên đề: Khủng hoảng tài chính và Quản trị rủi ro Giáo viên Hướng dẫn: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm Sinh viên thực hiện: 1. Nguyễn Thanh Tuấn – Nhóm trưởng 2. Nguyễn Xuân Sơn 3. Lê Thanh Tùng Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH I. Giới thiệu Cuộc khủng hoảng Tài chính toàn cầu hiện nay đã làm bộc lộ rất nhiều sai sót trong nhận thức, quản lý, điều hành của các tổ chức kinh tế, các quốc gia, đặc biệt là trong Quản trị rủi ro. Đã có rất nhiều bài nghiên cứu về thất bại trong quản trị rủi ro và khủng hoảng. Với 3 bài nghiên cứu Khủng hoảng tài chính - Đâu là sự thất bại của quản trị rủi ro của Gabriele Sabato; Quản trị rủi ro tối ưu trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-2009 của Michael McAleer, Juan-Angel Jimenez-Martin và Teodosio Pérez-Amaral; và Một khuôn khổ cho quản trị rủi ro của Kenneth A. Froot, David S. Scharfstein and Jeremy C. Stein nhóm thuyết trình mong muốn đưa ra một cái nhìn toàn diện về sự liên quan của thất bại Quản trị rủi ro và khủng hoảng tài chính, cũng như giải pháp khắc phục sai lầm theo quan điểm của các bài nghiên cứu này. Mục tiêu nhằm làm rõ các vấn đề: 1. Phải chăng thất bại trong QTRR dẫn đến Khủng hoảng tài chính? 2. Nguyên nhân thất bại của QTRR? 3. Phác thảo Một chương trình QTRR trong tương lai sẽ như thế nào và vai trò của Giám đốc quản lý rủi ro (CRO) sẽ thay đổi thế nào? Để tiện trình bày, nhóm chọn đề mục Quản trị rủi ro và Khủng hoảng tài chính nhằm khái quát, phác họa những thất bại của Quản trị rủi ro, chỉ ra cho người đọc một cái nhìn đúng đắn hơn về quá trình Quản trị rủi ro tài chính, nguyên nhân nào dẫn đến thất bại này. Từ đó giới thiệu cách xây dựng một mô hình Quản trị rủi ro hiệu quả hơn cũng như phác thảo Một chương trình Quản trị rủi ro (QTRR) trong tương lai sẽ như thế nào và và vai trò của các CROs sẽ thay đổi thế nào. Kết cấu bài thuyết trình gồm các phần: Phần I. Tổng quan về Rủi r o và Quản trị rủi ro 1. Một số khái niệm về rủi ro 1.1. Rủ i ro 1.2. Bất định 1.3. Thất bại của QTRR trong quan niệm Rủi ro và Bất định. 2. Quản trị rủi ro tài chính 2.1. Khái niệm: 2.2. Vì sao phải quản trị rủi ro 2.3. Các công cụ phái sinh Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 2 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Phần II. Quản trị rủi ro và Khủng hoảng tài chính 1. Tổng quan về tình hình thực hiện QTRR thời gian qua. Phải chăng thất bại trong QTRR dẫn đến Khủng hoảng tài chính. 2. Nguyên nhân thất bại của QTRR. 3. Một chương trình QTRR trong tương lai sẽ như thế nào và vai trò của CRO sẽ thay đổi thế nào. Phần III. Kết luận Tài liệu tham khảo Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 3 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Phần I. Tổng quan về Rủi ro và Quản trị rủi ro 1. Một số khái niệm về rủi ro 1.1. Rủi ro Khái niệm: Rủi ro nói chung là một khái niệm tổng quát trong bất kỳ một tổ chức, hay cá nhân nào mà mỗi khi chúng ta làm việc, sinh sống hay thực hiện hoạt động gì thì cũng phải gánh chịu rủi ro. Rủi ro được định nghĩa là một thuật ngữ chứa 2 thuộc tính: + Tính không chắc chắn: nghĩa là một biến cố nào đó xảy ra trong tương lai mà hôm nay chúng ta không có khả năng biết được nó sẽ xảy ra hay không xảy ra. Tính không chắc chắn được biểu hiện phần lớn dựa trên xác suất. Rủi ro càng cao thì xác suất xảy ra càng lớn và ngược lại. + Tính tổn thất: nghĩa là khi rủi ro xảy ra thì nó gây thiệt hại đo lường được bằng tiền. Rủi ro càng lớn thì tổn thất càng lớn, độ lớn của rủi ro phụ thuộc vào độ lớn của tổn thất. Rủi ro được đo lường bằng xác suất xảy ra và tổn thất khi nó xảy ra. Phân loại: + Rủ i ro kinh doanh: Rủi ro của một nghành nghề, xảy ra trong một chu kỳ kinh doanh của công ty. Rủi ro kinh doanh có tính đặc thù, khác nhau giữa các nghành nghề. + Rủi ro hệ thống: là những rủi ro chung mà mọi tổ chức cá nhân đều phải gánh chịu. + Rủi ro Tài chính: Là rủi ro kiệt giá tài chính, rủi ro do các yếu tố thị trường như lãi s uất, tỷ giá, lạm phát, cung tiền, dự trữ, thuế, giá nguyên vật liệu … các chính sách khác, giá hàng hóa khác thay đổi làm dòng tiền kỳ vọng của một danh mục, tài s ản, công ty, định chế tài chính … bị thiệt hại; và nhiều rủi ro khác Phòng chống: Dưới góc độ cổ đông: Rủi ro dưới góc độ nghành nghề có thể được phòng tránh bằng đa dạng hóa danh mục đầu tư. Dưới góc độ nhà quản lý: Rủi ro chu kỳ có thể được chuyển giao cho bên thứ ba là bảo hiểm. 1.2. Bất định: Khái niệm bất định ban đầu đưa ra để ám chỉ những cái nằm ngoài s ự hiểu biết của con người, bất định là những cái mà người ta chưa biết. Trong thế giới tài chính những điều chưa khám phá được là sự bất định. 1.3. Thất bại của QTRR trong quan niệm Rủi ro và Bất định. Từ trước đến nay người ta xem rủi ro và bất định là một và đây là thất bại lớn của thế giới chúng ta. Khi không làm rõ sự khác nhau giửa 2 khái niệm này. Khi xem chúng là một thì chúng ta dễ gặp thất bại bởi vì xét dưới góc độ đo lường thì rủi ro là những cái đo lường được trong khi bất định là Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 4 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo những cái mà người ta chưa biết nên không thể đo lường, hay nói đúng hơn chúng ta có thể biết được bất định là gì nhưng không thể tính toán được xác suất xảy ra bất định. Các nội dung về bất định và Thất bại của QTRR trong quan niệm rủ i ro và bất định sẽ được trình bày rõ hơn trong phần Tổng quan về tình hình thực hiện QTRR thời gian qua. 2. Quản trị rủi ro tài chính 2.1. Khái niệm: Quản trị rủi ro tài chính nói ngắn gọn là môn học về giao dịch phái s inh (Phòng ngừa và đầu cơ bằng các công cụ phái sinh). Quản trị rủi ro tài chính cung cấp những kiến thức về các chiến lược phòng ngừa rủi ro thông qua các công cụ phái sinh hiện đại trên thị trường chứng khoán, thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ và hàng hóa, cách thức tổ chức một chương trình quản trị rủi ro theo đúng những chuẩn mực quốc tế. 2.2. Vì sao phải quản trị rủi ro Quản trị rủi ro là để đảm bảo rằng các công ty có sẵn tiền mặt để thực hiện đầu tư tăng giá trị. Một khuôn khổ cho quản trị rủi ro, tác giả Kenneth A. Froot, Davi d S. Scharfstein and Jeremy C. Stein. Trong những năm gần đây, các nhà quản trị đã ngày càng nhận thức được tổ chức của họ có thể bị ảnh hưởng bởi những rủi ro ngoài tầm kiểm soát . Trong nhiều trường hợp, biến động của các biến số kinh tế và tài chính như tỷ giá hối đoái, lãi suất và giá hàng hóa có tác động bất ổn lên chiến lược và kết quả thực hiện của công ty. Về nguyên tắc, các công ty có thể cách ly bản thân họ khỏi rủi ro về giá và tỷ giá bằng cách sử dụng thị trường phái sinh. Trong thời Trung cổ, phòng ngừa rủi ro được thực hiện dễ dàng hơn bằng việc tạo ra các thị trường tương lai. Thay vì mua và lưu trữ các loại nông sản, người tiêu dùng có thể đảm bảo sự sẵn có và giá cả của nông sản bằng cách mua nó với điều kiện giao hàng ở một mức giá và ngày xác định trước. Và nông dân có thể phòng ngừa rủi ro mà nông sản của họ sẽ giảm giá bằng cách bán giao sau ở một mức giá xác định trước. Gần đây hơn, các công ty cổ phần đại chúng lớn đã nổi lên như là người dùng chính của các công cụ quản trị rủi ro và các sản phẩm tài chính mới nhất được thiết kế để cho phép các công ty phòng ngừa hiệu quả hơn. Tuy nhiên, vẫn không rõ ràng lý do tại sao một công ty muốn phòng ngừa. Các công ty nói chung thuộc sở hữu của nhiều nhà đầu tư nhỏ, mỗi người chỉ gánh vác một phần nhỏ của các rủi ro. Theo Adolf A. Berle, Jr, và Gardiner C. Mean , trong Công ty hiện đại và tài sản tư nhân thì hình thức công ty hiện đại của một tổ chức đã được phát triển một cách chính xác để cho phép các doanh nghiệp phân tán rủi ro giữa nhiều nhà đầu tư nhỏ. Nếu đó là sự thật, thật khó để thấy lý do tại sao chính bản thân các doanh nghiệp này cũng cần phải giảm thiểu rủi ro - nhà đầu tư có thể tự quản trị Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 5 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo rủi ro của riêng mình. Ví dụ, anh ta có thể bù đắp bất kỳ tổn thất nào trên cổ phiếu công ty dầu của anh ta mà có thể đến từ một sự suy giảm trong giá dầu bằng cách cũng nắm giữ cổ phiếu của các công ty nói chung được hưởng lợi từ giá dầu giảm, chẳng hạn như các công ty hóa dầu. Như vậy, không có lý do để công ty phòng ngừa thay mặt cho nhà đầu tư. Hoặc nói một cách hơi khác, giao dịch phái sinh ở mức độ công ty đôi k hi bị mất tiền và đôi khi làm ra tiền, nhưng trung bình là hòa vốn: các công ty không thể kiếm tiền một cách có hệ thống bằng giao dịch phái sinh. Không giống quản trị rủi ro của cá nhân, quản trị rủi ro doanh nghiệp không gây tổn thương, nhưng nó cũng không giúp ích. Theo Franco Modigliani và Merton Miller giá trị được tạo ra ở phía bên trái của bảng cân đối k ế toán khi công ty thực hiện đầu tư tốt, như là, nhà máy và thiết bị, R & D, hoặc thị phần - cuối cùng là tăng dòng tiền hoạt động. Các công ty tài trợ cho các khoản đầu tư ở phía bên phải của bảng cân đối kế toán bằng cách nào - dù thông qua nợ, vốn chủ sở hữu, hoặc lợi nhuận giữ lại phần lớn là không liên quan. Những quyết định này về chính sách tài chính có thể chỉ tác động đến việc giá trị được tạo ra bởi đầu tư của một công ty được chia giữa các nhà đầu tư của nó như thế nào. Tuy nhiên, trong một thị trường vốn hiệu quả và hoạt động tốt, chúng có thể không ảnh hưởng đến tổng giá trị các khoản đầu tư. Nếu ta chấp nhận quan điểm của Modigliani và Miller, nó dẫn đến gần như là một hệ quả tất yếu rằng chiến lược quản trị rủi ro cũng không có hậu quả. Chúng hoàn toàn là giao dịch tài chính không ảnh hưởng đến giá trị của tài sản hoạt động của một công ty. Mô hình "hậu hiện đại" cho phép một vai trò tích hợp cho quản trị rủi ro, chấp nhận tư tưởng then chốt của Modigliani và Miller – giá trị được tạo ra chỉ khi các công ty thực hiện đầu tư tốt cuối cùng là tăng dòng tiền hoạt động của họ. Nhưng nó xem chính sách tài chính là rất quan trọng trong việc cho phép các công ty thực hiện đầu tư có giá trị. Và nó nhận ra rằng các công ty phải đối mặt với sự đánh đổi thực tế trong việc các công ty tài trợ cho đầu tư của họ như thế nào. Điểm mấu chốt là thị trường tài chính không làm việc một cách trôi chảy như Modigliani và Miller hình dung. Các nguồn tài trợ bên ngoài dưới bất kỳ hình thức nào – nợ hoặc vốn chủ sở hữu - tốn kém hơn so với các quỹ tạo ra từ nội bộ, các công ty thích tài trợ cho các khoản đầu tư với lợi nhuận giữ lại nếu họ có thể. Trong thực tế, có một trật tự phân hạng tài chính mà trong đó các công ty dựa đầu tiên trên lợi nhuận giữ lại, sau đó vào nợ, và vốn chủ sở hữu bên ngoài. Thậm chí các công ty thấy tài trợ bên ngoài là rất tốn kém và họ thực sự cắt giảm chi tiêu đầu tư khi họ không có dòng tiền tạo ra trong nội bộ để tài trợ cho tất cả các dự án đầu tư. Một nghiên cứu tìm thấy rằng các công ty giảm chi phí vốn khoảng 35 cent cho mỗi giảm sút $ 1 trong dòng tiền mặt. Do đó, tiền mặt tạo ra trong nội bộ là một vũ khí cạnh tranh hiệu quả làm giảm chi phí vốn của công ty và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư. Đây là ý nghĩa quan trọng nhất của các mô hình hậu hiện đại, và nó tạo nền tảng lý thuyết của quan điểm đã nêu trước đó - rằng vai trò quản trị rủi ro là để đảm bảo rằng các công ty có sẵn tiền mặt để thực hiện đầu tư tăng giá trị. Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 6 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Ví dụ: Hãy bắt đầu với trường hợp của một công ty dược phẩm đa quốc gia giả định, Omega Drug. Trụ sở, cơ sở sản xuất và các phòng nghiên cứu thí nghiệm của Omega ở Hoa Kỳ, nhưng xấp xỉ một nửa doanh thu của nó đến từ nước ngoài, chủ yếu là Nhật Bản và Đức. Omega có một số sản phẩm mà vẫn còn bảo vệ bởi bằng sáng chế, và nó không mong đợi để giới thiệu bất kỳ sản phẩm mới n ào trong năm nay. Bất ổn chính của Omega là doanh thu sẽ nhận được từ bán hàng ở nước ngoài. Công ty có thể dự báo khối lượng bán hàng ở nước ngoài của mình rất chính xác, nhưng giá trị đồng đô la của doanh số bán hàng này là khó xác định vì những bất ổn vốn có trong tỷ giá hối đoái. Nếu tỷ giá hối đoái ổn định, Omega dự kiến giá trị đồng đô la của dòng tiền từ các hoạt động trong và ngoài nước là $ 200 triệu. Tuy nhiên, nếu đồng đô la tăng giá đáng kể so với đồng yên Nhật và đồng mác Đức, khi đó dòng tiền của Omega sẽ giảm đến $ 100 triệu USD, do đồng yên và đồng mác yếu hơn có nghĩa là dòng tiền nước ngoài có giá trị ít hơn bằng đô la. Ngược lại, một đồng đôla mất giá đáng kể sẽ làm tăng dòng tiền của Omega đến $ 300 triệu USD. Các kịch bản này đều có khả năng như nhau. Điểm khởi đầu cho phân tích của chúng tôi là sự hiểu biết mối liên hệ giữa dòng tiền của Omega và chiến lược đầu tư của nó, chủ yếu là chương trình R & D. R & D là chìa khóa thành công trong kinh doanh dược phẩm, và tầm quan trọng của nó đã phát triển đáng kể trong hai thập kỷ qua. Hai mươi năm trước, Omega đã chi tiêu 8% doanh thu vào R &D; bây giờ nó đang chi tiêu 12% doanh thu vào R & D. Năm ngoái, ngân sách R & D Omega là $ 180 triệu. Trong năm tới, công ty sẽ muốn chi tiêu $ 200 triệu. Omega đạt con số này bằng cách lần đầu tiên dự báo sự gia tăng trong các sản phẩm cấp bằng sáng chế mà có thể là kết quả của một mức độ cụ thể của R & D. Như là một bước thứ hai, các nhà quản trị đánh giá dòng tiền gia tăng thông qua một phân tích dòng tiền chiết khấu. Một cách tiếp cận như vậy chỉ có thể tạo ra các ước tính thô giá trị của R & D v ì sự bất định vốn có trong quá trình R & D, nhưng nó là những gì tốt nhất Omega có thể làm. Cụ thể, các tính toán của công ty chỉ ra rằng một ngân sách R & D $ 200 triệu sẽ tạo ra một giá trị hiện tại ròng $ 90 triệu USD, so với $ 60 triệu cho ngân sách R & D $ 100 triệu USD và 300 triệu. (Xem bảng "Kết quả từ đầu tư R & D công ty dược phẩm Omega.") Công ty cảm thấy an tâm với hiểu biết rằng ngân sách $ 200 triệu USD là tốt nhất, trên cơ sở tương đối, trong khoảng phù hợp với ngân sách của các đối thủ cạnh tranh chính của nó. Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 7 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Với đòn bẩy cao tương đối và tài sản thế chấp bị giới hạn, Omega không ở trong một vị thế có thể vay bất kỳ khoản tiền nào để tài trợ cho chương trình R & D. Nó cũng do dự phát hành cổ phiếu. Điều này khiến tiền mặt tạo ra từ nội bộ là nguồn tài trợ duy nhất mà các nhà quản trị của Omega được chuẩn bị để khai thác cho chương trình R & D. Do đó, biến động trong tỷ giá của đồng đô la có thể là rất quan trọng. Nếu đồng đô la tăng giá, Omega sẽ có một dòng tiền chỉ có $ 100 triệu để phân bổ cho chương trình R & D - thấp hơn so với ngân sách $ 200 triệu mong muốn. Một đồng đô la ổn định sẽ tạo ra đủ dòng tiền mặt cho chương trình, trong khi một đồng đô la mất giá sẽ tạo ra một khoản vượt quá $ 100 triệu USD. (Xem bảng "Tác động của phòng ngừa rủi ro lên Đầu tư R & D và giá trị Omega Drug. ") Liệu Omega sẽ tốt hơn nếu nó giao dịch phái sinh? Giả sử Omega để cho các ngân hàng của nó giao dịch vì lợi ích của công ty để dòng tiền của công ty được hoàn toàn cách ly khỏi rủi ro tỷ giá. Nếu đồng đô la tăng giá, các giao dịch sẽ tạo ra 100 triệu USD tiền lời; nếu đồng đô la mất giá, họ sẽ thông báo một khoản lỗ $ 100 triệu. Giao dịch sẽ không tạo ra lời hay lỗ nếu USD vẫn ở mức hiện tại của nó. Một cách hiệu quả, chương trình giao dịch phái sinh khóa dòng tiền mặt ròng $ 200 triệu Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 8 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo cho Omega - dòng tiền mà công ty sẽ nhận được theo tỷ giá hiện hành. Dù tỷ giá hối đoái trở thành bao nhiêu đi nữa, Omega sẽ có $ 200 triệu cho R & D – vừa đúng số tiền cần thiết. Nếu Omega không giao dịch phái sinh, nó sẽ có thể đầu tư chỉ có $ 100 triệu USD trong R & D nếu đồng USD lên giá. Nhờ giao dịch phái s inh, Omega có thể tăng thêm $ 100 triệu R & D trong kịch bản này, tăng dòng tiền tương lai chiết khấu $ 130 triệu USD (từ $ 160 triệu đến $ 290 triệu USD). Mặt khác, nếu đô la mất giá, Omega sẽ mất $ 100 triệu từ giao dịch tỷ giá của nó. Tuy nhiên, $ 130 triệu tiền lời rõ ràng có giá trị hơn 100 triệu USD lỗ. Nh ìn chung, Omega sẽ tốt hơn nếu nó giao dịch phái sinh. Ví dụ này minh họa một nguyên tắc cơ bản. Nói chung, việc cung cấp nguồn tiền được tạo ra từ nội bộ không cân bằng với nhu cầu về vốn đầu tư. Đôi khi có một sự dư nguồn cung, đôi khi có sự thiếu hụt. Bởi vì tài trợ bên ngoài là tốn kém, sự mất cân bằng này dịch chuyển đầu tư khỏi mức tối ưu. Quản trị rủi ro có thể làm giảm sự mất cân bằng này và sự bóp méo đầu tư do điều này gây ra. Nó cho phép các công ty sắp xếp tốt hơn nhu cầu của họ đối với các quỹ và nguồn cung cấp nội bộ của các quỹ. Đó là, quản trị rủi ro cho phép các công ty chuyển tiền từ những tình huống trong đó họ có một nguồn cung cấp dư thừa đến các tình huống trong đó họ có một thiếu hụt. Về bản chất, nó cho phép công ty vay từ chính họ. Đây là một cách nhìn khác để xem xét những gì xảy ra. Khi đồng USD mất giá, nguồn cung cấp nội bộ của các quỹ - dòng tiền của Omega tăng. Nhu cầu đối với các quỹ - mức độ mong muốn về đầu tư - là cố định và độc lập với tỷ giá hối đoái. Khi công ty không phòng ngừa, cung và cầu cân bằng chỉ nếu đồng USD vẫn ổn định. Nếu đồng đôla giảm giá, cung vượt quá cầu, nếu nó tăng giá, cung giảm không đáp ứng đủ cầu. Nhờ giao dịch phái sinh, công ty làm giảm cung khi dư cung và tăng cung khi có một sự thiếu hụt. Điều này gắn nguồn cung cấp nội bộ của các quỹ với nhu cầu về vốn. Tất nhiên, nguồn cung trung bình của các quỹ không thay đổi với giao dịch phái s inh, bởi vì giao dịch phái s inh là một đầu tư có giá trị hiện tại thuần bằng 0: nó không tạo ra giá trị của chính nó. Nhưng nó đảm bảo rằng công ty có các quỹ vừa đủ khi công ty cần vốn. Bởi vì giá trị cuối cùng được tạo ra bằng cách đảm bảo công ty thực hiện các khoản đầu tư đúng đắn, quản trị rủi ro thêm vào giá trị thực. (Xem đồ thị "Omega Drug: Phòng ngừa với đầu tư R & D cố định"). Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 9 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo 2.3. Các công cụ phái sinh Tất cả những sản phẩm phái s inh đều chỉ có nguồn gốc từ hai công cụ phái sinh cơ bản: kỳ hạn và quyền chọn. Hiểu được hai công cụ này hoạt động như thế nào là đạt được bước tiến lớn trong việc hướng tới làm sáng tỏ các công cụ phái sinh. Các Hợp đồng có cơ sở là hợp đồng kỳ hạn: Kỳ hạn, hoán đổi và tương lai: Có lẽ loại cơ bản nhất của sản phẩm phái s inh là hợp đồng kỳ hạn. Với một hợp đồng kỳ hạn, người sử dụng hứa hẹn mua hoặc bán tài sản như dầu, trái phiếu kho bạc, hoặc đồng yên ở một mức giá cụ thể tại một ngày cụ thể. Ví dụ, một vị thế mua kỳ hạn của 1.000 thùng dầu ở một mức giá $ 20 mỗi thùng, với kỳ đáo hạn một năm, buộc người sử dụng mua 1.000 thùng dầu một năm sau đó với tổng giá trị $ 20.000. Một vị thế bán kỳ hạn buộc người sử dụng cung cấp 1.000 thùng dầu (hoặc tương đương tiền mặt) với tổng giá trị $ 20.000. Vị thế mua cho phép người mua tự bảo vệ mình chống lại việc tăng giá tài sản cơ sở; vị thế bán bảo vệ người bán chống lại giảm giá. Hợp đồng kỳ hạn có bốn đặc tính quan trọng: Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 10 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo - Tuyến tính. Hợp đồng kỳ hạn là tuyến tính: Khoản tiền lời khi giá trị của tài s ản cơ sở di chuyển trong một hướng là bằng với số lỗ khi giá trị của tài sản di chuyển cùng một số tiền theo hướng ngược lại. Trong vị thế bán kỳ hạn mô tả ở trên, người sử dụng kiếm được $ 1.000 tiền lời khi giá dầu tăng $ 1 và mất $ 1.000 khi nó giảm xuống $ 1. - Không thanh toán ngay. Khi một hợp đồng kỳ hạn được ký kết, không có tiền sang tay. - Thanh toán tại thời điểm đáo hạn. Hợp đồng kỳ hạn không phải thanh toán cho đến khi đến kỳ đáo hạn của nó. Trong trường hợp hợp đồng kỳ hạn dầu, không có tiền trao tay trong một năm. Trong khi đặc tính này có thể thuận tiện đối với người mua, nó cũng có một cái giá: có một rủi ro được gọi là rủi ro "đối tác" tức là đối tác sẽ không thể thực hiện nghĩa vụ của mình vào ngày đáo hạn. - Tuỳ biến. Vì hợp đồng kỳ hạn được giàn xếp giửa các cá nhân (Giao dịch không chính thức) và không giao dịch tại một Sở giao dịch, các điều khoản của hợp đồng kỳ hạn- ví dụ, ngày đáo hạn và các đặc điểm tài sản cơ sở có thể được tùy chỉnh cho người sử dụng. Giao dịch hoán đổi là các gói của hợp đồng kỳ hạn và chia sẻ tất cả các đặc tính cơ bản giống nhau. Chúng có thể được sử dụng để phòng ngừa mở rộng qua nhiều giai đoạn. Một công ty phát hành nợ lãi s uất thả nổi mười năm yêu cầu thanh toán lãi hàng năm có thể sử dụng một hợp đồng hoán đổi để chuyển đổi trách nhiệm lãi s uất thả nổi thành một nghĩa vụ lãi suất cố định, nhờ đó phòng ngừa rủi ro đối với trường hợp lãi suất tăng lên. Một hợp đồng hoán đổi như vậy chỉ là một tập hợp của hợp đồng kỳ hạn lãi suất: một hợp đồng với kỳ hạn một năm, một hợp đồng với kỳ hạn hai năm, và như vậy, đến mười nă m. Hợp đồng tương lai cũng liên quan chặt chẽ với hợp đồng kỳ hạn. Tuy nhiên, chúng được xác định giá theo giá thị trường hiện hành trên cơ sở hàng ngày. Nói cách khác, tiền mặt được trả thêm vào bởi người sử dụng để trang trải bất cứ khỏan lỗ nào về giao dịch, và nó được thanh toán cho người sử dụng để phản ánh bất kỳ lợi nhuận nào. Lợi thế của việc xác định giá theo giá thị trường hiện hành là nó làm giảm đáng kể rủi ro đối tác. Tính năng này cho phép hợp đồng tương lai được giao dịch ẩn danh với lượng giao dịch lớn, do đó tạo ra cả tính thanh khoản lẫn sự cạnh tranh hơn về giá. Các hợp đồng có cơ sở là hợp đồng Hợp đồng quyền chọn: Quyền chọn, quyền chọn theo giá trần (Cap), và quyền chọn theo giá sàn (Floor). Công cụ tài chính cơ sở còn lại là hợp đồng quyền chọn. Nó khác với một hợp đồng kỳ hạn ở chổ người giử quyền chọn có thể lựa chọn để mua hoặc bán tài sản cơ sở ở một mức giá nhất định vào một ngày xác định nhưng không bắt buộc phải làm như vậy. Ví dụ, một quyền chọn call về dầu có thể cấp cho người sử dụng quyền để mua 1.000 thùng dầu ở mức giá $ 20 một thùng bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian từ bây giờ và sau đó một năm. Ngược lại, với một quyền chọn put, người sử dụng sẽ có quyền bán dầu tại mức giá đã thỏa thuận trước. Giống như vị thế kỳ hạn mua, quyền Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 11 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo chọn call bảo vệ người sử dụng chống lại s ự gia tăng trong giá của tài s ản cơ sở; giống như vị thế kỳ hạn bán, quyền chọn put bảo vệ người sử dụng chống lại sự giảm giá. Các hợp đồng có cơ sở là hợp đồng quyền chọn có thể được phân tích một cách tương tự theo bốn đặc tính của hợp đồng có cơ sở là hợp đồng kỳ hạn: - Phi tuyến. Người sử dụng không bắt buộc phải thực hiện quyền chọn có nghĩa là sự thưởng phạt của nó là phi tuyến, hoặc không đối xứng, được và mất. Chủ sở hữu của một quyền chọn mua vào dầu mỏ có thể thu lợi rất nhiều nếu giá dầu tăng lên, tuy nhiên nếu giá dầu giảm, quyền chọn này chỉ đơn giản là không thực hiện và người đó có thể bỏ quyền mà không phải chịu bất kỳ khỏan lỗ nào. - Thanh tóan ngay. Không giống như các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn yêu cầu đầu tư ban đầu khi vị thế được thiết lập. Người sử dụng trả phí quyền chọn trước để đổi lấy quyền không thực hiện sau này. - Thanh tóan khi sử dụng. Trong khi hợp đồng kỳ hạn được thanh tóan khi đáo hạn, hợp đồng quyền chọn được thanh tóan khi chúng đang được sử dụng, có thể xảy ra trước ngày đáo hạn. Chúng thường không được định giá theo giá thị trường, vì vậy ngoài phí ban đầu không phải thêm tiền trao tay cho đến khi chúng được thực hiện. - Tuỳ biến. Hợp đồng quyền chọn có s ẵn trên cả Sở giao dịch lẫn thị trường phi chính thức. Thị trường OTC cung cấp cơ hội lớn hơn cho các tuỳ biến. Hợp đồng quyền chọn theo giá trần và quyền chọn theo giá sàn là hợp đồng quyền chọn hoán đổi thành hợp đồng kỳ hạn: một hợp đồng quyền chọn theo giá trần chỉ đơn giản là một gói quyền chọn call, và một hợp đồng quyền chọn theo giá sàn là một gói quyền chọn put. Ví dụ, nếu một công ty phát hành trái phiếu lãi suất thả nổi 10 năm có yêu cầu thanh toán lãi hàng năm, nó có thể đồng thời mua một hợp đồng quyền chọn lãi s uất theo giá trần để đảm bảo rằng tổng chi phí lãi s uất không vượt quá một mức độ mục tiêu. Như vậy một hợp đồng quyền chọn theo giá trần chỉ đơn giản là một loạt các hợp đồng quyền chọn call trên lãi suất cơ bản. Phần II. Quản trị rủi ro và Khủng hoảng tài chính 1. Tổng quan về tình hình thực hiện QTRR thời gian qua. Phải chăng thất bại trong QTRR dẫn đến Khủng hoảng tài chính. Có thể thấy được rằng trước và trong cuộc khủng hoảng tài chính các nhà quản trị rủi ro đã quá lạc quan và đánh giá thấp rủi ro. Với nhận thức sai lầm xem rủi ro và bất định là một và đây là thất bại lớn nhất của thế giới tài chính trong thời gian qua. Quản trị rủi ro quá thiên về các mô hình định lượng trong các kỹ thuật định lượng là không hoàn hảo thậm chí được cường điệu, thổi phồng và lạm dụng quá mức. Nassim Taleb trong “Thiên nga đen” cho rằng con người có xu hướng bỏ qua các biến cố lớn với xác suất thấp bởi các chuyên gia thường đưa ra dự báo dựa vào các mối liên hệ đã được quan sát trong quá khứ. Vì vậy tất cả chúng ta đều nhắm mắt làm ngơ trước các biến cố hiếm hoi và cứ ảo tưởng mình có thể tiên đoán mọi rủi ro, mọ i cơ hội. Thực tế là nhiều hoạt động Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 12 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo tài chính được thực hiện trong một bối cảnh thay đổi nhanh chóng và quyết định quan trọng đã được thực hiện trong tình huống không tính đến sự bất định và mang tính rủi ro cao. Các vấn đề nảy sinh như việc kinh doanh phức tạp hơn, sản phẩm kinh doanh mạo hiểm hơn làm cho việc kiểm soát các rủi ro khó khăn hơn nhiều. Cơ chế quản lý yếu kém, thiếu sự giám sát và thất bại của các các cơ quan quản lý đã tạo lỗ hổng cho biến cố “Thiên nga đen” xuất hiện và phản ứng dây chuyền kéo theo sự sụp đổ của các định chế tài chính gây nên khủng khoảng. 1 Uncertainty and risk management after the Great Moderation The role of risk (mis) management by financial institutions của tác giả H.J. Blommestein (OECD and Tilburg University), L.H. Hoogduin (DNB and University of Amsterdam) và Dr. J.J.W. Peeters (DNB), September 2009, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu vào mùa hè năm 2007 cho thấy thất bại quan trọng trong việc quản lý rủi ro của các tổ chức tài chính. Sự lạc quan quá chiếm ưu thế và rủi ro bị đánh giá thấp, được gây ra bởi các vấn đề về bản chất cả khái niệm và kỹ thuật. Quản lý rủi ro biến thành một khoa học định lượng "giả tạo". Điều này đã đưa ra một cảm giác sai cho các tổ chức tài chính và giám sát viên của họ. Trước cuộc khủng hoảng, các nhà giám sát và quản lý cho rằng, lĩnh vực tài chính cũng như quản lý rủi ro, đã được cải thiện và, kết quả là, sự ổn định tài chính đã được tăng cường. Thực tế là nhiều hoạt động tài chính được thực hiện trong một bối cảnh thay đổi nhanh chóng và quyết định quan trọng đã được thực hiện trong tình huống không tính đến sự bất định. Ở một mức độ rất cơ bản, nó đã nhầm lẫn giả định rằng bất định có thể được đo lường một cách đáng tin cậy bằng cách sử dụng một phân bố xác suất - tức là bất định có thể được coi là "rủi ro". Cách nhìn này đã gây hậu quả xấu cho cách quản lý rủi ro và ra quyết định đã được thiết lập trong các tổ chức tài chính. Có quá nhiều sự tập trung vào các mô hình định lượng và đo lường và quá ít vào các khía cạnh định lượng của quản lý rủi ro, liên quan đến các vấn đề như dòng chảy thông tin, con người và động cơ của họ và sự khuyến khích. Ngoài ra, thậm chí trong phạm vi hẹp, các kỹ thuật quản lý rủi ro tương lai được chứng minh là không đủ tinh vi. Davi d M.Rowe (2010) “Risk Management after crisis” Tác giả cho rằng thất bại chủ yếu của QTRR tài chính trong khủng hoảng 2007 – 2009 (đã được đưa ra từ 25 năm trước) là đã không chú ý đến sự khác biệt rất quan trọng giữa “rủi ro – risk” và “tính không chắc chắn – uncertainty” mà Frank Knight đã phát biểu trong cuốn sách của mình năm 1921 mang tựa đề Risk, Uncertainty and Profit. Trong đó, Knight định nghĩa rủi ro là một sự ngẫu nhiên có thể được phân tích bằng cách sử dụng phân phối xác suất, còn tính không chắc chắn là một sự ngẫu nhiên không theo bất kỳ một phân phối nào cả. Giai đoạn này, những tranh cãi về Value at Risk (VAR) đã trở nên cân bằng hơn. Trên thực tế, các giám đốc rủi ro giàu kinh nghiệm từ đầu những năm 1990 nhận thức rõ rằng VAR là phương pháp hiệu quả và hợp lý nhất trong việc thông trị những ngụ ý rủi ro. Tuy nhiên, VAR đã trở nên bị cường điệu, thổi phồng và lạm dụng quá mức. Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 13 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Cải thiện hiệu quả của QTRR tài chính trong thời gian tới không hề là dễ dàng. Đây là việc làm quan trọng nhất bởi nó cần đến nhiều hơn một vài những điều chỉnh về mặt kỹ thuật mang tính chất hạn hẹp. Quan trọng nhất, cải tiến thành công sẽ cần đến những điều chỉnh khó khăn về văn hóa doanh nghiệp. Cuối cùng, tác giả đưa ra một vài ý kiến để các giám đốc quản lý rủi ro có thể điều hành một cách tốt hơn trong tương lai:  Luôn duy trì một thái độ hoài nghi hợp lý về các kết quả thống kê và luôn nhớ rằng chúng chỉ để tham khảo hơn là để kết luận.  Hãy sử dụng khả năng sáng tạo để luôn đưa ra các câu hỏi khó.  Coi trọng thông tin phản hồi. Cuộc khủng hoảng được tạo bởi nhiều lỗ hổng tồn tại trước mà không rõ ràng cho đến khi mọi thứ bắt đầu đi s ai. Một khi một cuộc khủng hoảng bắt đầu, một sự mất mát ở một nơi có thể tạo ra lỗ hổng ở những nơi khác trong một trình tự liên quan đến nguyên nhân gây ra lỏng lẻo và hiệu quả.  Sự phức tạp quá mức làm nảy sinh những mờ mịt. Ở mức độ cao nhất, nó là cản trở hoạt động tự hiệu chỉnh của thị trường và cho phép tích tụ một cách vững chắc những điểm yếu. The Amaranth Debacle: A Failure of Risk Measures or a failure of Risk Management? (Sự tan rã Amaranth: Thất bại của đo lường rủi ro hay thất bại của quản trị rủi ro?). Tác giả: Ludwig B. Chincarini: First Version: December 5, 2006. Tháng 9 năm 2006 hoạt động của Amaranth Advisors (một quỹ phòng hộ có qui mô lớn ở tiểu bang Connecticute, Mỹ) đã thua lỗ 5,85 tỉ đô la tương đương với 2/3 s ố tài s ản trong những hoạt động hợp đồng tương lai và quyền chọn của quỹ. Ba tháng sau đó, quỹ Amaranth đã bị thanh lý. Bài viết này trình bài một cuộc điều tra chi tiết về những nguyên nhân có thể có đằng sau vụ thất bại của quỹ đầu cơ này và rút ra những bài học bằng việc đánh giá những hoạt động kinh doanh của Amaranth trong khuôn khổ quản trị rủi ro tiêu chuẩn. Amaranth có dính líu trong những vụ làm ăn mang tính rủi ro cao mà nó liên quan đến vấn đề tài chính nghiêm trọng đối với rủi ro thanh khoảnmột yếu tố rủi ro cực kỳ khó khăn để quản lý. Bài nghiên cứu cũng điều tra việc quản trị rủi ro của Amaranth là không đủ. Blundell-Wignall, Adrian, Paul Atkinson and Se Hoon Lee, 2008 “The Current Financial Crisis: Causes and Policy Issues”, đăng trên Financial Market Trends, đã chỉ ra các nguyên nhân của khủng hoảng tài chính vừa qua. Tác giả giải thích khủng hoảng gây ra bởi 2 cấp độ: chính sách vĩ mô ảnh hưởng tới thanh khoản và một khung pháp lý nghèo nàn không đủ để trở thành tuyến phòng thủ thứ hai cho nền kinh tế. Tính thanh khoản của thị trường được ví như đập nước chứa đầy nước lũ. Các công bố về lãi suất một phần trăm ở Hoa Kỳ và 0 phần trăm ở Nhật Bản, tỷ giá hối đoái cố định của Trung Quốc, việc tích lũy dự trữ trong quỹ Sovereign Wealth, tất cả đã giúp đổ đầy hồ chứa thanh khoản dẫn đến làm tràn đập. Việc tràn ngập những bong bóng tài sản và đòn bẩy quá mức đang diễn ra làm cho áp lực trở nên lớn đến nỗi cuối cùng Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 14 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo là vỡ đập và những thiệt hại là không tính nổi. Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong khủng hoảng. Các vấn đề nảy sinh trong khủng hoảng như việc kinh doanh phức tạp hơn, sản phẩm kinh doanh mạo hiểm hơn làm ch o việ c kiểm soát các rủi ro khó khăn hơn nhiều. Việc chuyển đổi sang Basel II, dẫn đến các nhà quản trị tạm dừng mua các khoản thế chấp và sử dụng các khoản thế chấp chất lượng thấp hơn, đặt sự sống còn của các Ngân hàng vào vòng rủi ro. Georges Dionne (2009): “ Structured Finance, Risk Management, and the Recent Financial Crisis” cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua lan rộng trên Thế Giới là do quản trị rủi ro tồi, như là những vấn đề của thị trường chứng khoán hóa, tiêu chuẩn đánh giá và xếp loại tồi cho những sản phẩm tài chính phức tạp, động cơ của các công ty định mức tín nhiệm, thiếu tính minh bạch của thị trường, nghiên cứu đánh giá lợi nhuận cao hơn của những nhà lãnh đạo hàng đầu và sự thất bại của Ngân hàng trung ương do hiểu sai những ám chỉ về môi trường thay đổi. Kết quả là nhiều Ngân hàng lớn phá sản, chính phủ và Ngân hàng trung ương phải cầu cứu nhiều định chế tài chính khác. Mục đích bài nghiên cứu này là nhấn mạnh đến vai trò của quản trị rủi ro trong việc hồi phục lại thị t rườn g. “Khủng hoảng tài chính: Sai lầm trong quản trị rủi ro là ở đâu? 1 ” Tác giả Gabriele Sabato của Royal Bank of Scotland Khi kiểm tra những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính, hầu hết mọi người đều bắt đầu trực tiếp từ t hị trường bất động sản tập trung, các khoản thế chấp dưới chuẩn và những người cho vay vi phạm nguyên tắc đạo đức tạo thành bong bóng bất động sản không bền vững, nó bắt đầu sụp đổ vào năm 2006. Đìều này đúng, nhưng nó không phải là toàn bộ câu chuyện. Một hình thức quản lý kém chất lượng tin rằng Ngân hàng có thể tự điều tiết được, đó là một trong số những nguyên nhân chính khơi mào cho cuộc khủng hoảng. Rõ ràng rằng trên toàn thế giới không giám sát hiệu quả chức năng quản trị rủi ro của hầu hết các Ngân hàng. Đồng thời, quản trị rủi ro ở các Ngân hàng đã thất bại trong việc thực thi nguyên tắc cơ bản cho sự an toàn của một doanh nghiệp: ví dụ, tránh những sự cố lớn và tối thiểu hóa những biến động của lợi nhuận. Một số lý do đã được trình bày để che giấu sự thất bại này (ví dụ vai trò hạn chế của quản trị rủi ro, không có khả năng ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh, không đủ năng lực dự báo cho một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng…). Mặc dù một số trong những lý do này có thể đúng một phần đối với một số các tổ chức, tuy nhiên tôi tin chắc rằng chức năng quản trị rủi ro đã thể hiện điểm yếu kém của mình và thất bại. 2. Nguyên nhân thất bại của Quản trị rủi ro. Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào, René M. Stulz (2008): Quản trị rủi ro có thể thất bại như thế nào? Cách tác giả mô tả vai trò của quản trị rủi ro để gợi ý những cách quan trọng mà quản trị rủi ro có thể thất bại. Tác giả bắt đầu bằng cách nói rằng bước đầu tiên trong quản trị rủi ro là đo lường rủi ro. Bây giờ, giả sử rằng đo lường rủi ro đúng được sử Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 15 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo dụng cho tình hình của công ty. Đo lường này có thể là VAR hoặc có thể là một vài cách đo khác. Có hai dạng sai lầm có thể xảy ra trong quá trình đo lường rủi ro: rủi ro đã biết có thể được đo lường sai và một số rủi ro có thể được bỏ qua, hoặc vì nó chưa được biết hoặc được xem như là không trọng yếu. Một khi rủi ro được đo lường, chúng phải được thông báo cho lãnh đạo của công ty. Một thất bại trong truyền đạt về rủi ro để quản trị cũng là một sự thất bại trong quản trị rủi ro. Sau khi hội đồng quản trị quyết định loại rủi ro phải chịu, quản trị rủi ro phải đảm bảo rằng công ty gánh rủi ro này. Nói cách khác, quản trị rủi ro sau đó phải quản trị rủi ro của công ty, một nhiệm vụ mà có thể liên quan đến việc xác định các hành động giảm thiểu rủi ro thích hợp, dự phòng một số rủi ro, và từ chối một số giao dịch, dự án. Cuối cùng, các nhà quản trị rủi ro của một công ty có thể thất bại trong việc sử dụng các thước đo rủi ro thích hợp. Có sáu loại thất bại quản trị rủi ro: 1) Đo lường sai các rủi ro đã biết 2) Thất bại trong việc đưa rủi ro vào sổ sách. 3) Thất bại trong thông báo các rủi ro cho quản trị cấp cao. 4) Thất bại trong giám sát rủi ro 5) Thất bại trong quản trị rủi ro. 6) Thất bại trong việc sử dụng các thước đo rủi ro thích hợp. “Khủng hoảng tài chính: Sai lầm trong quản trị rủi ro là ở đâu? 2 ” Tác giả Gabriele Sabato của Royal Bank of Scotland Mục đích của bài nghiên cứu này là xác định những nguyên nhân đằng sau sự thất bại của việc quản trị rủi ro và đề nghị một ý kiến để làm thế nào giải quyết hay cải thiện hệ thống tài chính trong tương lai nếu chúng ta muốn đảm bảo rằng hệ thống tài chính tốt hơn hiện tại. Do đó, tác giả nghiên cứu các vấn đề sau: Thiếu chiến lược phân bổ nguồn vốn đã được xác định; Không có cái nhìn tổng thể về rủi ro; Cơ cấu quản trị rủi ro không phù hợp. Chiến lược phân bổ nguồn vốn - Vì sao ngân hàng là một trong những nhà đầu tư chính của thị trường tài chính phải nghiên cứu làm thế nào để áp dụng các Chiến lược lựa chọn danh mục đầu tư. Trước hết, vốn được coi là rẻ và dễ tăng trong các ngân hàng. Điều này tạo ra niềm tin rằng mọi giao dịch tìm kiếm lợi nhuận thực hiện theo nhu cầu thị trường dẫn đến tăng trưởng tài sản. Thứ hai, ngân hàng có chức năng xã hội là cung cấp vốn cho các công ty trong giai đoạn mới bắt đầu hay tăng trưởng và cung cấp vốn cho người tiêu dùng để mua nhà hay hàng hóa. Tuy nhiên, các cổ đông đã chỉ ra quan điểm của họ về ngân hàng như là một tổ chức lợi nhuận. Để làm hài lòng các 2 FINANCIAL CRISIS: WHERE DID RISK MANAGEMENT FAIL? Gabriele Sabato - Royal Bank of Scotland. Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 16 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo cổ đông và làm tốt hơn các tổ chức khác, các CEO của ngân hàng đã tích cực đầu tư vào các tài sản phức tạp, trộn lẫn các sản phẩm cho vay truyền thống với một chiến lược mang tính đầu cơ nhiều hơn. Mô hình kinh doanh cho các tổ chức ngân hàng chuyển sang tập trung vào các cổ phiếu tăng trưởng và mở rộng các khoản thu nhập từ những năm 1990. Các mô hình trước đây dựa trên bảng tổng kết tài sản và mở rộng các khoản vay kiểu cũ đã không có lợi cho ngân hàng. Vì vậy chiến lược chuyển sang các hoạt động với mục tiêu là thu nhập và phí thông qua chứng khoán hóa. Nhờ đó, ngân hàng đã tăng thu nhập cùng với tiết kiệm vốn theo hệ thống Basel. - Hầu hết các ngân hàng thường phát triển danh mục đầu tư cho vay của họ theo nhu cầu thị trường mà không có một chiến lược phân bổ vốn rõ ràng, tập trung chủ yếu vào mặt lợi nhuận mong đợi của việc đầu tư mà bỏ qua khía cạnh rủi ro. Gia tăng đầu tư vào các tài s ản có tương quan cao mà không xem xét sự biến động của các khoản lỗ. Bỏ qua đa dạng hóa danh mục đầu tư. Giá cả thiết lập chủ yếu để cạnh tranh trên thị trường và không bảo đảm lợi nhuận phù hợp. - Lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư Markowitz: Không có tài liệu nào mô tả làm thế nào để xác định rủi ro cho ngân hàng và vì lý do này mà tác giả đề cập đến lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư Markowitz (1952) áp dụng cho các danh mục đầu tư của ngân hàng. Trong nghiên cứu này, Markowitz giải thích làm thế nào để xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả nhất trong việc tìm kiếm sự cân bằng giữa lợi nhuận kỳ vọng và biến động các khoản lỗ. Ông chứng minh rằng đa dạng hóa là công cụ tốt nhất để giảm rủi ro cho toàn bộ danh mục đầu tư Rõ ràng bộ phận quản lý rủi ro của các định chế tài chính không thể tự xác định khung khẩu vị rủi ro, nhưng xác định rủi ro sẽ cần thiết trong việc giúp cho bộ phận kinh doanh xây dựng mô hình lợi nhuận dự kiến. Chỉ khi rủi ro và doanh nghiệp kết hợp với nhau, doanh nghiệp mới có được khung khẩu vị rủi ro hiệu quả và bền vững. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần sử dụng phương pháp tiếp cận từ trên xuống dưới. Cuối cùng, Ban điều hành, đại diện cho cổ đông, s ẽ tìm cách hướng đến việc chấp nhận rủi ro và đạt lợi nhuận đòi hỏi. Theo những hướng dẫn trên, rủi ra và chức năng kinh doanh sẽ xác định khẩu vị rủi ro ở các cấp độ khác nhau (ví dụ như nhóm, bộ phận và danh mục đầu tư). Một khung khẩu vị rủi ro tốt sẽ bao gồm hai phần: phần đầu nên trình bày về hình ảnh của tình hình hiện tại và phần sau là đưa ra những tình huống lựa chọn. Ở phần này, dòng tiền sẽ được phân chia giữa các danh mục đầu tư, và phân biệt rõ đâu là mảng cần tập trung chính và những danh mục đầu tư nào có lợi nhuận nhỏ hơn mong đợi. Để vẽ được một bức tranh đó, đầu tiên chúng ta cần phải định nghĩa về những số liệu được sử dụng. Theo Markowitz (1952), tác giả sử dụng độ lệch chuẩn của tổn thất ( ) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho mỗi danh mục đầu tư. nếu chúng ta tưởng tượng một ngân hàng có ba sản phẩm (vay thế chấp (P1), thẻ tín dụng (P2) và các khoản vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ (P3)), chúng ta có thể sử dụng các bong bóng với các kích cỡ khác nhau để trình bày nguồn vốn được phân bổ bao Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 17 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo nhiêu cho mỗi danh mục (xem hình 1). Cuối cùng, ngân hàng cần sử dụng ít nhất là ba biểu đồ (theo nhóm, theo bộ phận và theo danh mục đầu tư) để có được một cái nhìn đầy đủ. Hình vẽ này cho thấy sự phân bổ vốn trong ba danh mục đầu tư (vay thế chấp, thẻ tín dụng và các khoản vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ) trong bức tranh rủi ro của ngân hàng. Trên hai trục là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dự kiến (ROE) và biến động của các tổn thất dự kiến. Kích thước của các bong bóng cho thấy số lượng vốn được phân bổ cho các danh mục đầu tư cụ thể. Khi vẽ xong biểu đồ, chúng ta có thể tập trung vào xây dựng mô hình. Dựa trên mục tiêu của Ban điều hành về lợi nhuận mong đợi và biến động của các tổn thất, chúng ta sẽ vẽ bốn đường thẳng để phân chia khu vực trong hình. Hai đường thẳng thể hiện lợi nhuận mong đợi tối thiểu và rủi ro tối đa có thể chấp nhận được để xác định khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng. Hai đường thẳng còn lại thể hiện lợi nhuận mong đợi dự kiến và rủi ro chấp nhận được theo mong đợi để xác định khẩu vị rủi ro của ngân hàng. Phân biệt khả năng chịu đựng rủi ro và khẩu vị rủi ro là rất quan trọng. Trước hết, hai khái niệm này rất khác nhau và rất khó hiểu, chúng tạo ra sự không chắc chắn về cái có thể và cái mong đợi. Thứ hai, khả năng chịu đựng rủi ro được xét trong dài hạn, còn khẩu vị rủi ro thay đổi thường xuyên theo tình hình thị trường và nền kinh tế. Cuối cùng, những đường thẳng trong biểu đồ cho phép chúng ta sử dụng phương pháp đỏ/vàng/xanh (RAG) để phân loại danh mục đầu tư của ngân hàng trong các khu vực khác nhau và dựa vào đó xác định chiến lược cụ thể (ví dụ: tăng, giảm hay giữ vững). (xem hình 2). Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 18 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Như tác giả đã đề cập trước đó, kích cỡ của bong bóng đại diện cho sự tập trung trong từng sản phẩm, danh mục đầu tư, ngành hay quốc gia cụ thể phụ thuộc vào mức độ khẩu vị rủ i ro và trên các loại tài sản xem xét (bán sỉ hay bán lẻ). Một vài số liệu có thể được dùng để xác định kích thước bong bóng: sự cân bằng, tài sản phân theo cấp độ rủi ro (RWA), vốn kinh tế (EC). Sự lựa chọn phụ thuộc vào mức độ phức tạp mà ngân hàng có được để đo lường sự phân bổ nguồn vốn. Biểu đồ này cho thấy làm thế nào để xác định khung khẩu vị rủi ro. Danh mục đầu tư có thể được phân loại thành vàng/đỏ/xanh. Bước kế tiếp sẽ bao gồm việc chuyển danh mục đầu tư về mức lợi nhuận mong đợi và biến động của các tổn thất. Khung khẩu vị rủi ro sẽ mô tả chiến lược phân bổ nguồn vốn nên thay đổi khi danh mục đầu tư nằm trong khu vực màu đỏ hay vàng, nhưng không nên thiết lập các giới hạn riêng cho mỗi sản phẩm, danh mục đầu tư, quốc gia hay lĩnh vực. Chúng ta nên sử dụng phương pháp tiếp cận từ trên xuống dưới để thiết lập khung giới hạn tập trung vốn đầu tư. Trong trường hợp này, Ban điều hành nên cung cấp các báo cáo chuyên sâu để giải thích sự phân chia và mức độ danh danh mục đầu tư giữa rủi ro và chức năng kinh doanh. Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 19 Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Khi khung khẩu vị rủi ro hoàn tất, nó đảm bảo rằng rủi ro đã được làm rõ. Để thay đổi hành vi liên quan đến rủi ro, sự can thiệp thông qua huấn luyện bổ sung hay thay đổi nhân sự có thể là cần thiết. Nhưng trong hầu hết các doanh nghiệp, định hướng của các nhà quản lý cấp cao có tác động lớn. Khẩu vị rủi ro không chỉ là một mô hình mà nó còn thay đổi sâu sắc văn hóa để đảm bảo các ngân hàng phát triển bền vững trong tương lai. Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp Trong mười năm qua, các tổ chức tài chính và các giáo sư đại học trên thế giới đã thảo luận nhiều về Quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM). Rất nhiều bài nghiên cứu và sách đã viết về chủ đề này để cung cấp các hướng dẫn rõ ràng và nền tảng lý thuyết để hỗ trợ cho những thay đổi cơ bản trong quản trị rủi ro. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít ngân hàng cố gắng thực hiện ERM và thậm chí ít thành công trong việc hội nhập văn hóa quản trị rủi ro của ngân hàng. Khái niệm ERM khá đơn giản. Rủi ro - ảnh hưởng đến giá trị của tổ chức – có tính chất khác nhau và cộng tất cả rủi ro không có được tổng rủi ro. Một vài tương quan và một số biến được xem xét khi tổng hợp các rủi ro. ERM là một phương pháp nghiêm ngặt được dùng để đánh giá và giải quyết rủi ro từ tất cả các nguồn đe dọa việc đạt được mục tiêu chiến lược của tổ chức. Một phương pháp ERM được thực hiện tốt sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện và chặt chẽ về rủi ro mà tổ chức đang đối mặt. Theo các tài liệu có liên quan, chúng ta có thể chia rủi ro thành rủi ro thuần túy và rủi ro đầu cơ. Quản trị rủi ro truyền thống đã từng tập trung vào rủi ro thuần túy cho đến khi quản trị rủi ro tài chính chiếm ưu thế trong nhưng năm 80 về việc phát triển các công cụ, kỹ thuật và các quy định chuyên biệt. Trong môi trường hiện nay, sự kết hợp của hai loại rủ i ro khác nhau chắc chắn là thách thức chính mà các tổ chức tài chính sẵn lòng thực hiện phương pháp ERM. Tuy nhiên, ERM chỉ tập trung vào rủi ro tài chính. Do đó, nó sẽ bỏ qua một số nguồn gây ra tổn thất hay hủy hoại giá trị. Bước đầu tiên trong thực hiện ERM là xác định rủi ro đã xuất hiện trong công ty. Một cách tiếp cận phổ biến là xác định loại rủi ro sẽ được đo lường. Ban đầu, tổ chức tài chính tập trung vào rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng. Cuối cùng mới thêm vào rủi ro hoạt động. Đối với phương pháp tiếp cận để nắm bắt tất cả rủi ro của công ty, rủi ro hoạt động bao gồm tất cả những rủi ro không phải là rủi ro thị trưởng và rủi ro tín dụng. Về phía ngân hàng, theo Hiệp ước Basel, định nghĩa rủi ro hoạt động bỏ qua các rủi ro danh tiếng. Do đó, có sự khác nhau giữa đo lường rủi ro hoạt động cho mục đích quản lý và đo lường rủi ro hoạt động theo quan điểm ERM. Nhiều công ty đã vượt xa trong việc đo lường rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động. Đặc biệt, trong những năm gần đây, các công ty đã thử đo lường rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng, rủi ro thuế, rủi ro trợ cấp và rủi ro chiến lược. Nếu một doanh nghiệp phân loại rủi ro thành rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động hay sử dụng một phương pháp khác thích hợp hơn cho doanh nghiệp thì sau đó họ xác định và đo lường những rủi ro này như thế nào. Các công ty sử dụng các phương pháp phổ biến nhất để xác định và Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 20
- Xem thêm -