Khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ quốc tế rủi ro tiềm ẩn của việt nam

  • Số trang: 26 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH KHOA SAU ĐẠI HỌC TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ Đề tài: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ QUỐC TẾ RỦI RO TIỀM ẨN CỦA VIỆT NAM GVHD: TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA HVTH: NHÓM 1 Lớp: K16 – NH Đêm 2 TPHCM, năm 2008 1 CHƯƠNG 1 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ QUỐC TẾ 1. Lý thuyết về khủng hoảng tài chính a) Khủng hoảng tài chình là gì? Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Dấu hiệu của Khủng hoảng tài chính là:  Các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền.  Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.  Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định. b) Nguyên nhân Nguyên nhân chính của khủng hoảng tài chính là do Chính phủ gặp phải vấn đề thanh khoản kém, mất cân đối tài chính quốc gia.Tình trạng mất khả năng thanh toán bắt nguồn từ các vụ phá sản, kinh doanh thua lỗ và các vấn đề về chi tiêu của Chính phủ. Dự trữ quốc gia không đủ bù đắp cho những thâm hụt mà Chính phủ nước đó đã đưa ra. Dẫn đến việc thâm hụt tiền tệ. Khủng hoảng tài chính thường gắn kèm với tự do hóa thị trường tài chính. Tại một số quốc gia trên thế giới tự do hóa tài chính luôn đi sau tự do hóa thương mại, tuy nhiên do một số quốc gia thì ngược lại. Thực tế đã chứng minh rằng khi một quốc gia tự do hóa quá vội vàng các tài khoản vốn và tài chính trong nước đã khuếch đại them sự méo mó. Các nhà nghiên cứu cho rằng, có một sự tương quan giữa nỗ lực nhằm tự do hoá các thị trường tài chính và số lượng các cuộc khủng hoảng tài chính. Thái Lan, Indonesia trog những năm 1994,1995 là một ví dụ điển hình cho việc đia sai lộ trình này. Tuy nhiên tự do hoá tài chính có nhất thiết dẫn đến khủng hoảng tài chính và việc xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính có thể là một lý do phản đối việc bãi bỏ các quy định về tự do hoá tài khoản vốn Bên cạnh đó nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính còn do tồn tại tình trạng thông tin không đối xứng trên thị trường. Thông tin không đối xứng có vai trò chính yếu trong các giao dịch tài chính. Nó đưa người vay tới những hành vi cơ hội nguy hiểm và là mầm mống cho những kỳ vọng xấu của người cho vay về người đi vay. Thông tin không cân xứng khiến cho người đi vay và người gửi tiền do họ khó khăn trong việc phân biệt giữa vấn đề thanh khoản và tình trạng mất khả năng thanh toán, qua đó dẫn đến việc người sở hữu bán đi những tài sản bằng ngoại tệ của nước gặp khó khăn. Thông tin không đối xứng trên TTCK có thể dẫn đến tình trạng đầu tư không công bằng, dẫn đến tình trạng kém cạnh tranh trên thị trường, có thể gây mất long tin của nhà đầu tư-> rút khỏi TTCK-> sụp đổ TTCK-> khủng hoảng tài chính. 2 2. Các\ giải pháp cho khủng hoảng tài chính Trước hết, phải giải toả tâm lý về thanh khoản bằng chiến lược là cung cấp thanh khoản cho thị trường và thuyết phục các thành viên thị trường rằng họ không cần phải ngay lập tức bán đi các tài s ản của mình. Để thị trường yên tâm thì cần có một cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoạt động tốt. Người đóng vai trò là cho vay cuối cùng là Ngân hàng trung ương sẽ cung cấp thanh khoản cho thị trường và để thị trường tự phân bổ, điều tiết lượng thanh khoản đó. Khi đó, công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp hữu hiệu giúp NHTW cho vay là nghiệp vụ thị trường mở với các giao dịch mua bán lại tín phiếu Kho bạc do Chính phủ phát hành. Ngoài công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp là cho vay trên nghiệp vụ thị trường mở, cho vay trực tiếp với lãi suất phạt. NHTW ở tình thế rất khó khăn do phải bảo vệ tỷ giá trong khi thị trường cho rằng cuối cùng thì việc bảo vệ tỷ giá không quan trọng bằng các mục tiêu vĩ mô và đến một lúc nào đó thì đồng tiền sẽ giảm giá. 3 Giải quyết khủng hoảng thanh toán để hạn chế thiệt hại bằng cách: loại bỏ những không chắc chắn của nhà đầu tư về tính trong sạch của các thể chế cá nhân. Thêm vào đó, buộc các thể chế này phải xử lý những vấn đề về tài sản của mình như định giá thấp… và bán cho cơ quan cơ cấu lại nợ của Chính phủ. Điều này làm tăng tính lỏng và giảm bớt khó khăn cho người cho vay – ngân hàng. Tuy nhiên, để giải quyết khủng hoảng tài chính triệt để thì cần phải ngăn chặn nó bằng cơ chế giám sát, thanh tra và các công cụ, kỹ thuật thích hợp. 3. Mối liên hệ giữa khủng hoảng ngân hàng, tiền tệ và hậu quả của các cuộc khủng hoảng. Vào những năm 90, các cuộc khủng hoảng tài chính ở những nước đang phát triển được mô tả với nét tiêu biểu là sự sụp đổ của các cơ chế tỷ giá hối đoái cố định và các trung gian tài chính như các ngân hàng. Có lập luận cho rằng các cuộc khủng hoảng này thực chất là khủng hoảng tiền tệ. Lập luận khác lại cho rằng đây là khủng hoảng ngân hàng vì cơ chế tỷ giá cố định không có vai trò nguyên nhân chính. Nhưng suy cho cùng thì khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng tiền tệ có mối quan hệ rất chặt chẽ vì cả 2 liên quan đến việc giữ ổn định giá tài s ản và cùng xuất hiện khi cam kết hỗ trợ ổn định giá trị đồng tiền, lạm phát trong nước không còn đáng tin cậy. Một khi sự hỗ trợ của chính phủ mất đi hoặc tạm ngừng thì kế hoạch ổn định tỷ giá sụp đổ, các ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán. Tìm hiểu nguyên nhân của khủng hoảng tiền tệ thì những nghiên cứu đầu tiên chỉ ra rằng chính sự mâu thuẫn trong chính sách của Chính phủ đã từng bước tấn công vào tỷ giá cố định bởi Chính phủ phát hành tiền để trang trải cho thâm hụt ngân sách. Người dân không tin vào bản tệ nên đã chuyển sang tích trữ tài sản ngoại tệ. Dự trữ ngoại hối của Chính phủ cạn dần. Chính phủ buộc phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định và tỷ giá sẽ tăng. Các nhà đầu cơ sẽ tranh nhau mua lượng dự trữ cuối cùng của Chính phủ. Cuộc chuyển giao khổng lồ này được xem là hình phạt cho những chính sách mâu thuẫn, trái ngược của Chính phủ. Mặc dù nguyên nhân trên đúng với nhiều cuộc khủng hoảng trong quá khứ nhưng không đúng với cuộc khủng hoảng gần đây ở Châu Á. Chính phủ các nước này đã giữ được cân bằng chi tiêu ngân sách và không theo đuổi quá mức tăng trưởng tín dụng. Thế hệ thứ hai của mô hình khủng hoảng tiền tệ đã nhận được sự quan tâm đáng kể sau cuộc tấn công vào đồng tiền chung châu Âu và đồng Pêso của Mêhicô ở đầu thập kỷ 1990. Mô hình này xuất phát từ cơ sở không có sự mâu thuẫn cơ bản nào về chính sách trước các cuộc khủng hoảng. Cơ sở của mô hình là sự tương tác giữa hành vi của Chính phủ và hành vi của khu vực tư nhân dẫn đến một vài kết quả có thể xảy ra. Về nguyên tắc, nền kinh tế có thể chuyển từ trạng thái cân bằng không chịu sự công kích sang trạng thái chịu sự công kích khi có sự chuyển dịch bất ngờ về kỳ vọng của thị trường. 4 Thường thì nguồn gốc vấn đề là mâu thuẫn cơ bản giữa nhiều mục tiêu của Chính phủ. Ví dụ, Chính phủ muốn giữ ổn định giá cả hoặc ra hiệu cho thị trường về dự định theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt trong tương lai. Chính phủ có thể đạt các mục tiêu này với mức giá cố định. Mặt khác, nó cũng có thể hạn chế các nghĩa vụ trả nợ, giảm tỷ lệ thất nghiệp hay bơm vốn cho hệ thống ngân hàng nếu nó từ bỏ tỷ giá cố định để theo đuổi chính sách tiền tệ mở rộng. Nguyên nhân của khủng hoảng ngân hàng là gì? Gần 20 năm trước, Flôd và Garber đã điều chỉnh mô hình dự báo trước được cuộc tấn công vào tỷ giá hối đoái với trường hợp phá sản ngân hàng ở các nước có nền kinh tế đóng. Hai nhà khoa học đã mô tả tình trạng các ngân hàng chuyển đổi các tài sản nợ danh nghĩa cố định. Các ngân hàng nhất trí trả lãi không kỳ hạn đối với một đơn vị tiền dự trữ tương ứng với một đơn vị đồng bản tệ gửi tại NHTW. Khi không có bảo hiểm tiền gửi, các ngân hàng có thể duy trì kế hoạch ổn định lãi s uất chừng nào tài sản của họ đủ trang trải các khoản tiền gửi. Flood và Garber cũng chỉ ra rằng phá sản ngân hàng cũng có thể là kết quả nhìn thấy trước của các chính sách không nhất quán. Chính sách theo đuổi giảm phát của NHTW sẽ phá huỷ các cam kết hoàn trả các khoản tiền gửi của các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại phải mua tài s ản mới để bù đắp cho những tổn thất gây ra chi phí nắm giữ các tài sản hiện tại vượt quá thu nhập mà nó đem lại. Như vậy, giảm phát làm giảm thu nhập và cuối cùng các NHTM không thể có lãi từ việc duy trì tài sản đảm bảo đầy đủ khả năng thanh khoản thì khủng hoảng ngân hàng xảy ra. Khi khủng hoảng ngân hàng xảy ra ở những nước có nền kinh tế đóng mà không có sự hỗ trợ của NHTW thì khủng hoảng sẽ không làm giảm tài s ản quốc tế và trong nước của NHTW mà chỉ tạo ra sự chuyển đổi nguồn lực từ các ngân hàng sang các thành phần tư nhân. Như vậy, khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng tiền tệ giống nhau ở khía cạnh sau cùng cả hai đều làm giảm giá trị đồng tiền và xuất phát từ những chính sách không nhất quán. Tuy nhiên, khủng hoảng ngân hàng xuất phát từ chính sách của NHTW còn khủng hoảng tiền tệ bắt nguồn từ yếu tố chi tiêu Chính phủ. 2. Khủng hoảng nợ quốc tế. Nợ quốc tế (International Dept) là tiền mà các nước đi vay của cộng đồng quốc tế. Các nước mắc nợ bao gồm chủ yếu là những nước đang phát triển, những nước này đi vay ngoại tệ từ các nước phát triển và các ngân hàng tư nhân để tài trợ cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội của mình Khủng hoảng nợ quốc tế (International Dept Crisis) là tình trạng đại đa số các nước đi vay các khoản tín dụng quốc tế, chủ yếu là các nước đang phát triển , không có khả năng trả được các khoản lãi vay hay cả gốc lẫn lãi khi đến hạn và kéo dài trở thành không còn có điều kiện, khả năng để trả các khoản đó nữa, buộc các nước chủ nợ phải tìm biện pháp giải quyết như hoãn nợ, xóa nợ, mua lại nợ… 5  Nguyên nhân và khủng hoảng Cho đến nay vẫn tồn tại những bất đồng ý kiến về việc cái gì là nguyên nhân cơ bản dẫn đến khủng hoảng nợ nần. Một số người, trong đó có nhiều quan chức chính giới tại các nước kém phát triển cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do các chủ ngân hàng quốc tế. Các ngân hàng này đôi khi cho chính phủ của các nước chậm phát triển vay những khoản rất lớn sau khi chỉ xem xét qua quýt về triển vọng trả nợ của họ. Nguyên nhân quan trọng làm cho các chủ ngân hàng không quá lo ngại về khả năng trả nợ nhà nước do chính phủ của các nước chậm phát triển đứng ra vay. Khác với những khoản nợ thông thường giữa các cá nhân là những khoản nợ có thể thu hồi dựa trên cơ sở luật pháp, nợ của các chính phủ đứng ngoài luật pháp của một nước. Nó hoàn toàn dựa vào lòng tin và sự tín nhiệm đối với chính phủ đi vay. Trừ những trường hợp giữa 2 nước xảy ra những bất đồng lớn về chính trị, còn lại thì loại cho vay này là một sự mạo hiểm lớn đối với người cho vay. Vì vậy trong trường hợp làm ăn không thành đạt, các chính phủ con nợ có thể bị cự tuyệt trong một thời gian dài, không thể vay tiếp được nữa. Nợ nhà nước là phần trách nhiệm của toàn thể đất nước, không phụ thuộc vào thành công hay thất bại của một hoạt động riêng lẻ nào được tài trợ bằng khoản tiền cho vay. Triển vọng khả năng hoàn trả nợ của loại nợ không phải của nhà nước thì phụ thuộc vào cả sự tin cậy tín nhiệm của các đối tượng vay lẫn vào thành công hoặc thất bại trong hoạt động làm ăn của đối tượng này. Do vậy mức rủi ro bị vỡ nợ còn lớn hơn khá nhiều kiểu cho vay nợ tư nhân ngay cả khi những khoản nợ này có thể thu hồi nhờ sức ép của luật pháp. Nguyên nhân thứ hai là do những biến động mạnh của nền kinh tế toàn cầu theo hướng gây bất lợi cho các nước đang phát triển, khiến cho nền kinh tế của nước này bị suy thoái, thâm hụt ngân sách nhà nước gia tăng dẫn đến mất khả năng trả nợ. Chẳng hạn như tác động của giá dầu lửa thế giới năm 1979 -1980 làm cho hàng loạt các quốc gia vay nợ ở khu vực châu Phi và châu Mỹ lâm vào tình trạng suy thoái, và không còn cách lựa chọn nào khác họ phải trì hoãn việc trả nợ. Nguyên nhân thứ ba là do sự quản lý kinh tế kém cỏi ở nhiều nước mắc nợ đã làm trầm trọng các vấn đề nợ của những nước này. Hoạt động đầu tư công không hiệu quả, thất thoát lớn, tình trạng tham nhũng làm cho các khoản vốn vay không đem lại hiệu quả mong muốn; quan trọng hơn là không có nguồn để trả nợ.  Các giải pháp cho khủng hoảng nợ - Kiểm soát cho vay đối với các nước kém phát triển Trước khi tiến hành cho vay, các quốc gia cần tiến hành phân tích rủi ro quốc gia vay nợ bao gồm các rủi ro về chính trị: việc từ chối nợ do mối quan hệ chính trị, các chính sách thuế vụ, khả năng chuyển đổi ngoại tệ của quốc gia; rủi ro về mặt tài chính: thâm hụt ngân sách như thế nào, các nước kém phát triển thâm hụt ngân sách 6 là điều không thể tránh khỏi, chỉ tiêu về tăng trường kinh tề… từ đó đi đền quyết định cho vay hay không các quốc gia này, vì việc cho vay các quốc gia kém phát triển là một rủi ro cao ma không phải bất cứ quốc gia nào cũng có thể tiến hành - Áp đặt hàng rào nhập khẩu hoặc can thiệp vào thị trường ngoại hối để làm giảm giá đồng nội tệ: Khả năng trả nợ của các quốc gia tùy thuộc chủ yếu vào khả năng xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư của các quốc gia này. Để đạt được các cân mậu dịch thuận lợi, chính phủ các nước mắc nợ có thể xem xét áp đặt hàng rào đối với nhập khẩu hoặc can thiệp vào thị trường ngoại hối để làm giảm giá trị đồng nội tệ. Nếu áp dụng giải pháp thứ nhất có thể gây nên sự mất hiệu năng trong sản xuất địa phương cũng như sự trả đũa của các nước khác. Còn nếu áp dụng giải pháp thứ hai có thể tạo nên một cán cân mậu dịch thuận lợi hơn nhưng lại làm cho các khoản nợ phải thanh toán trở nên đắt đỏ hơn khi phần lớn các khoản vay nợ được tính bằng ngoại tệ. - Gia tăng dự trữ tổn thất cho vay: Ngân hàng lập dự trữ cho vay phòng ngừa các biến cố xảy ra, phương pháp này tốt hơn việc chờ đợi đến khi gặp tổn thất thật sự - Nâng cao các biện pháp chống tham nhũng: Một trong những nguyên nhân gây ra việc khủng hoảng nợ quốc gia là việc sử dụng vốn vay không hiệu quả khi mà hiện tượng tham nhũng xảy ra một cách mạnh mẽ tại các quốc gia này. Vì vậy, chống thất thoát vốn vay, chống tham nhũng là vấn đề mà các quốc gia cần phải quan tâm, kiểm soát vốn vay hiệu quả cũng là giải pháp hữu hiệu cho khủng hoảng nợ. 7 CHƯƠNG II KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á. Khủng hoảng tài chính Châu Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là "những con Hổ Đông Á". Cuộc khủng hoảng này còn thường được gọi là Khủng hoảng tiền tệ Châu Á. Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này. Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình. Còn Đại lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng. Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài hạn của chính bản thân mình. Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ. Nguyên nhân Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời. Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn). Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ. Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát. Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế. Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ từ sau năm 1987. Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng. Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro.[1] 8 Các dòng vốn nước ngoài kéo vào Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức. Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các nước phát triển. Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á.[3] Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bắt chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro. Những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới Nhật Bản, một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các nước châu Á bị trì trệ từ đầu thập niên 1990. Nhân dân tệ được định giá thấp so với Dollar Mỹ từ năm 1994 cùng nhiều nhân tố khác làm cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc rẻ hơn so với hàng xuất khẩu cùng loại của Đông Nam Á. Trong khi đó, nền kinh tế của Mỹ đang được khôi phục lại s au tình trạng suy thoái đầu những năm 1990, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Alan Greenspan bắt đầu nâng lãi suất của Mỹ lên để ngăn chặn lạm phát. Việc này làm cho Mỹ trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tư hơn so với các nước ở Đông Á, và do đó hấp dẫn những luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông qua lãi suất ngắn hạn cao và làm tăng giá đồng Đô La Mỹ. Và do đồng tiền của các nước Đông Nam Á được neo vào Dollar Mỹ, nên xuất khẩu của các nước này trở nên kém cạnh tranh. Từ mùa Xuân năm 1996, tăng trưởng trong xuất khẩu của Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng, làm suy yếu tài khoản vãng lai của họ. Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á. Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ. Thị trường bất động sản của Thái Lan đã vỡ. Một số thể chế tài chính bị phá sản. Người ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định. Khi phát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á.[4] Các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra.[5] Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lục xử lý khủng hoảng yếu kém. Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ các nước châu Á phải lập 9 tức thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ tỷ giá để đến nối cạn kiệt cả dự trữ ngoại hối nhà nước mà lại càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài. Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF được áp dụng ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng.[7] Diễn biến Thái Lan Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 9%. Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu. Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh. Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi. Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn. Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi baht vào ngày 2 tháng 7. Baht ngay lập tức mất giá gần 50%. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản. Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan. Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar. Philippines Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng trung ương Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi s uất ngắn hạn (lãi s uất cho vay qua đêm) từ 15% lên 24%. Đồng pes o vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng. Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới các vụ bê bối của tổng thống Jos eph Estrada. Do khủng hoảng chính trị, vào năm 2001, Chỉ số Tổng hợp PSE của thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng 3000 điểm hồi năm 1997. Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá. Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm tổng thống. 10 Hong Kong Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ. Đồng tiền này vốn được neo vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ. Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công. Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đó tương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quan Tiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình. Các thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ. Từ ngày 20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ số Hang Seng đã giảm 23%. Ngày 15 tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi s uất cho vay qua đêm từ 8% lên thành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500%. Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong bắt đầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để giảm áp lực giảm giá cổ phiếu. Cơ quan này và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ trưởng Tài chính và sau này làm Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong, đã công khai tuyên chiến với giới đầu cơ. Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷ Dollar Hong Kong (tương đương 15 tỷ Dollar Mỹ) các loại chứng khoán. Sau này, vào năm 2001, chính quyền đã bán ra số chứng khoáng này và thu lời khoảng 30 tỷ Dollar Hong Kong (khoảng 4 tỷ Dollar Mỹ). Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứng khoán của nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhà đầu cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chính phủ Malaysia và bởi sự sụp đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga. Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở mức 7,8 : 1. Hàn Quốc Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ. Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài. Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra. Khi thị trường châu Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở quy mô lớn. Ngày 28 tháng 11 năm 1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống B2. Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá. Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4%. Ngày 24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ. Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD. 11 Malaysia Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng Ringgit của Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm giá mạnh. Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar. Phần lớn sức ép giảm giá đối với Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở nước ngoài. Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sử giảm giá của đồng Ringgit trong tương lai. Kết quả là lãi s uất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy ra nước ngoài. Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997.[8] Indonesia Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của Indonesia đã nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar Mỹ từ 8% lên 12%. Tháng 8, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14 thì chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn toàn. Đồng Rupiah liên tục mất giá. IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài chính khẩn cấp cho Indonesia lên tới 23 tỷ Dollar, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá do đồng Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượng cầu Dollar Mỹ ở Indonesia tăng vọt. Tháng 9, cả giá Rupiah lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử. Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên. Trước tình hình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán Rupiah ra) khiến cho nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt. Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMF khiến chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng này tăng lên. Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát. Riêng ở Jakarta đã có tới 500 người bị chết do bạo động. Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội đã dẫn tới khủng hoảng chính trị. Giữa năm 1998, Suharto buộc phải từ chức tổng thống. Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar vào khoảng 2000 : 1. Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000 : 1. Do thay đổi tỷ giá hối đoái và do nhiều nhân tố khác, GDP theo Dollar Mỹ của Indonesia đã giảm đi. 12 Hậu quả Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài s ản ở một số nước châu Á. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998. Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan. Khủng hoảng kinh tế còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto ở Indonesia và Chavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan. Tâm lý chống phương Tây gia tăng cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào George Soros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Các phòng trào Hồi giáo và ly khai phát triển mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của nước này suy yếu. Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng, đó là GDP và GNP bình quân đầu người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi. Nội tệ mất giá là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này. Cuốn CIA World Fact Book cho biết thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan đã giảm từ mức 8.800 USD năm 1997 xuống còn 8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ 4.600 USD xuống 3.700 USD, của Malaysia giảm từ 11.100 USD xuống 10.400 USD. Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp phần dẫn tới khủng hoảng tài chính Nga và khủng hoảng tài chính Brasil. Một số nước không bị khủng hoảng, nhưng kinh tế cũng chịu ảnh hưởng xấu do xuất khẩu giảm và do FDI vào giảm. Ý nghĩa Khủng hoảng tài chính Đông Á làm người ta nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải có một hệ thống tài chính - ngân hàng vững mạnh, minh bạch. Điều này thôi thúc Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế đổi mới các quy chế về ngân hàng và các tổ chức tín dụng nói chung. Chính phủ nhiều nước đang phát triển cho rằng các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và vốn vay ngân hàng nước ngoài có thể đem lại những tác động bất lợi với nền kinh tế của họ. Do đó, nhiều chính phủ đã ban hành những quy chế nhằm điều tiết các dòng vốn này.[9] Bên cạnh đó,những thỏa thuận ở cấp khu vực nhằm phát triển một hệ thống phòng ngừa khủng hoảng tái diễn đã được thúc đẩy ở châu Á, ví dụ như Sáng kiến Chiang Mai, Tiến trình Đánh giá và Đối thoại Kinh tế ASEAN+3, Sáng kiến Thị trường Trái phiếu Châu Á, ... 13 Về mặt học thuật, các nhà nghiên cứu kinh tế đã nhận thấy sự hạn chế của các mô hình lý luận về khủng hoảng tiền tệ trước đây trong việc giải thích nguồn gốc và sự lây lan của khủng hoảng tài chính Đông Á. Đã có nhiều nỗ lực nhằm đưa ra một mô hình mới về khủng hoảng tiền tệ, chẳng hạn như mô hình phương pháp tiếp cận bảng cân đối tài sản, lý thuyết bong bóng, lý thuyết về nguồn gốc khủng hoảng từ chính sách tài chính và chính sách tiền tệ[1][2],... Các biện pháp khôi phục kinh tế sau khủng hoảng Để khôi phục nền kinh tế và ngăn ngừa khủng hoảng tái diễn, các nền kinh tế Đông Á bị ảnh hưởng nặng đều tiến hành các cải cách cơ cấu mạnh mẽ, gồm: cải tổ cách thức quản lý trong khu vực doanh nghiệp, cải cách tài chính, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đổi mới phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô, và đổi mới cả phương thức tăng trưởng kinh tế. Đổi mới phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã và đang thực thi một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt và cơ chế ổn định giá cả. Cụ thể, các nước từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái neo và hướng tới chế độ mục tiêu lạm phát. Đồng thời, các nước nỗ lực gia tăng lượng dữ trự ngoại hối nhà nước của mình. Từ 1997 đến 2005, năm nước bị ảnh hưởng nặng nhất của khủng hoảng đã tăng lượng dự trữ ngoại hối của mình lên bốn lần, đạt 378 tỷ USD. Cải cách khu vực tài chính Các nước Đông Á đã thực thi các biện pháp, chính sách sau để cải cách khu vực tài chính: (1) Xóa và giảm nợ xấu, tái vốn hóa các thể chế tài chính; (2) Đóng cửa các thể chế tài chính đổ vỡ, (3) Tăng cường giám sát và áp dụng các tiêu chuẩn quản trị, kế toán mới đối với các tổ chức tín dụng và tài chính khác; (4) Đẩy mạnh chuyên môn hóa các thể chế tài chính; (5) Tăng cường giám sát và điều tiết các tổ chức tín dụng đồng thời với nâng cao kỷ luật thị trường. Yellen (2007) cho thấy các ngân hàng của Hàn Quốc đã áp dụng phương thức quản trị hiện đại của phương Tây và đã giảm được tỷ lệ sở hữu gia đình tại các ngân hàng, tăng cường lợi ích cho các giám đốc bằng cách cho họ quyền chọn mua cổ phiếu, v.v... Còn các ngân hàng Malaysia đã thay đổi tập quán cho vay của mình. Giờ đây, họ cho các xí nghiệp nhỏ và vừa vay nhiều hơn. Cải tổ cách thức quản lý của khu vực xí nghiệp Các nước Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia đã hoàn thiện các thủ tục về phá sản, nỗ lực tái cơ cấu nợ của các xí nghiệp, củng cố các quy định và tiêu chuẩn về cáo bạch, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ cũng như nâng cao quyền lực và trách nhiệm của ban giám đốc, áp dụng các tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán theo thông lệ quốc tế, tăng cường mức vốn tự có của doanh nghiệp và tạo thuận lợi cho các hoạt động mua lại và sáp nhập kể cả với doanh nghiệp trong nước cũng như với doanh nghiệp nước ngoài. 14 Cải cách các thị trường Các nước Đông Á đã và đang phát triển thị trường trái phiếu định danh bằng nội tệ của mình. Đồng thời, cải cách thị trường lao động đã cho phép các xí nghiệp tuyển dụng và sa thải lao động dễ dàng hơn, giúp xí nghiệp của các nước Đông Á trở nên linh hoạt hơn. 15 CHƯƠNG III RỦI RO TIỀM ẨN ĐỐI VỚI VIỆT NAM 1. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam- Thành tựu Việt Nam đã có nhiều thay đổi qua 20 năm với thành tích tăng trưởng cao và rất nhiều người dân Việt Nam đã thoát nghèo. Với tư cách một quốc gia, Việt Nam ngày càng nhận được sự nể trọng và có ảnh hưởng ngày càng lớn trong cộng đồng quốc tế. Trong khi khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra hơn 90% việc làm trong khu vực công nghiệp và gần 70% sản lượng công nghiệp thì phần lớn tín dụng và đầu tư của Nhà nước lại được dành cho khu vực kinh tế quốc doanh. Bên cạnh những thành quả đó, Việt Nam cần hành động một cách quả quyết nhằm ngăn chặn những nguy cơ làm suy giảm tốc độ tăng trưởng. Một trong những nơi có thể xảy ra là hoạt động của hệ thống tài chính. Bên cạnh yếu tố lạm phát thì vấn đề trung tâm được các chuyên gia đề cập đến chính là hiệu quả đầu tư. Trong khi các chuyên gia đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng một hệ thống tài chính hiện đại vào một thời điểm tương đối thuận lợi khi thị trường vốn quốc tế, đặc biệt ở châu Á đang có tính thanh khoản rất cao, thì cũng có không ít những góp ý được nêu ra. Chênh lệch lãi s uất của trái phiếu quốc tế đầu tiên của Việt Nam được phát hành cuối năm 2005 (được kỳ vọng sẽ là cơ sở để các tập đoàn nhà nước vay vốn trên thị trường quốc tế) luôn thấp hơn mức EMBI trung bình (chỉ số EMBI của JP Morgan đo lường khoảng chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu của Chính phủ Mỹ và của các nền kinh tế mới nổi). Điều này có nghĩa là các nước đang phát triển như Việt Nam có thể vay vốn từ thị trường quốc tế với mức lãi suất thấp, và đây thực sự là một cơ hội cho Việt Nam nếu việc tài trợ bằng vốn vay nước ngoài được thực hiện một cách cẩn trọng. Tuy nhiên, sẽ có một nguy cơ là Chính phủ và các công ty trong nước trở nên phụ thuộc quá nhiều vào các khoản vay nước ngoài. Quy mô thị trường vốn nợ Việt Nam hiện chỉ chiếm 10% GDP được các nhà đầu tư tài chính quốc tế cho rằng tương đối nhỏ, nhất là khi so với mức bình quân 80% ở các thị trường phát triển. Thực tế này cho thấy, tiềm năng phát triển thị trường vốn nợ ở Việt Nam là rất lớn và cơ hội có quá nhiều, nhất là khi Việt Nam đạt được nhiều tiến bộ sau một năm ra nhập WTO. Bên cạnh đó, cải cách khu vực ngân hàng ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ. Chính phủ, thông qua ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng một lúc đã thực hiện các biện pháp để tác động vào nền kinh tế qua hệ thống ngân hàng thương mại: (i) tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10,5% lên 11,5%, (ii) tăng lãi s uất cơ bản từ 8,25%/năm lên 8,75%/năm, (iii) tăng lãi s uất 16 tái cấp vốn từ 6,5%/năm lên 7,5%/năm, (iv) tăng lãi s uất chiết khấu từ 4,5%/năm lên 6,0%/năm, điều chỉnh cho vay chứng khoán thay vì 3% tổng tài sản thành 20% vốn tự có của ngân hàng. Thành tựu lớn nhất năm 2007 của nền kinh tế nước ta là các dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của các dự án (kể cả các dự án bổ sung vốn) đạt 20.3 tỷ USD, là mức cao nhất từ trước đến nay. Dẫu rằng có nhiều khó khăn về thiên tai lớn, dịch bệnh diễn biến phức tạp và sự biến động thị trường bất lợi về giá cả tăng song nền kinh tế nước ta vẫn tăng cao về GDP, đứng thứ 3 Châu Á (sau Trung Quốc và Ấn Độ). Vấn đề đặt ra trong năm 2008 là phải kiềm chế tốc độ tăng giá. Biểu đồ tăng trưởng GDP Tốc độ tăng t rưởng GDP 10.00% 9.00% 8.00% 7.00% 6.00% 5.00% 4.00% 3.00% 2.00% 1.00% 0.00% 8.15% 7.08% 6.79% 6.89% 7 .34% 7.79% 8.44% 8 .17% 8.44% 5.76% Tốc độ tăng trưởng GDP 4.77% 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Nguồn: Tổng cục thống kê 2. Những dấu hiệu của việc xảy ra “cuộc khủng hoảng tài chính”: Mục tiêu phát triển kinh tế hàng đầu của mỗi quốc gia trên thế giới chính là đạt tốc độ tăng trửơng cao và ổn định, lạm phát một chỉ số. Tuy nhiên làm thế nào để đạt được mức tăng trưởng này thông qua các chính sách phát triển kinh tế mà không gây bất cứ phản ứng phụ nào cho nền kinh tế là vấn đề hết sức khó khăn. Trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là: 8.44%, đứng thứ 3 Châu Á sau Trung Quốc: 11.3%, Ấn Độ: 9%. Nhưng tỷ lệ lạm phát lên đến: 12.63% vượt quá tốc độ tăng trưởng GDP trong năm, vượt quá mức kiểm soát của Chính phủ. Và trong hai tháng đầu năm 2008 ước tính tỷ lệ lạm phát là 6,2%. Song song đó, sự sụt giá đồng USD công thêm chính sách cố định tỷ giá hối đoái vừa qua của Chính phủ Việt Nam đã làm cho tỷ lệ lạm phát tăng lên và đồng thời gây khó khăn cho các nhà xuất khẩu. Trong một 17 tương lai xa, nếu không được cải thiện điều này có thể dẫn đến sự thâm hụt tài khoản cán cân thương mại trầm trọng hơn. Từ những dấu hiệu của sự khủng hoảng Châu Á năm 1997, đưa ra những nhận định những nguy cơ tiềm ẩn sự khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ một lần nữa có xảy ra ở Việt Nam hay không, chúng ta cần xem xét các dấu hiệu sau: - Nợ xấu Ngân hang tăng do Ngân hang nhà nước đã không kiểm soát lượng nợ xấu từ các NHTM một cách hiệu quả. - Lượng vốn đầu tư vào Việt Nam tăng nhưng hiệu quả sử dụng vốn không cao. - Bong bong tài sản hình thành rên TTCK và TTBDS - Biến động tỷ giá - Sự lúng trong điều hành chính sách tiền tệ của Chính Phủ. Nợ xấu Ngân hàng tăng do hàng loạt NHTM mở ra cạnh tranh nhau, trong khi Ngân hàng Nhà nước đã không kiểm soát lượng nợ xấu từ các NHTM một cách hiệu quả. Theo định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).” Nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố: (I) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ Thực tế hiện nay hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam chỉ mới hạch toán nợ xấu theo thời gian quá hạn trên 90 ngày (yếu tố 1); việc xác định khả năng trả nợ của khách hàng (yếu tố 2) đang gặp nhiều khó khăn. Phần lớn ngân hàng thương mại chưa hoặc đang thí điểm áp dụng phương pháp này. Theo Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu tại các NHTM giảm từ năm 2002-2004, nếu nợ xấu năm 2002 vượt quá 20.000 tỉ đồng (chiếm 7,2% tổng dư nợ), thì sang năm 2004 chỉ còn khoảng 13.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, từ năm 2005 trở lại đây, số lượng nợ xấu tuyệt đối lại tăng, năm 2005 khoảng 17.500 tỉ đồng, nhưng tỷ lệ giảm xuống, chỉ còn 3,18% (trên 7% đối với ngân hàng quốc doanh) do tổng dư nợ tăng cao, năm 2006 đặc biệt đối với ngân hàng thương mại quốc doanh, tỷ lệ nợ xấu lên tới 10-20%, hoặc thậm chí cao hơn thế, trong tổng dư nợ của 4 ngân hàng thương mại quốc doanh, mặc dù con số công bố chính thức chỉ ở mức vài ba phần trăm. Trong năm 2007, với sự xuất hiện hàng loạt NHTMCP cạnh tranh gay gắt, nhiều NHTM CP mới ra đời đã tiền hành hoạt động tín dụng của mình rộng lớn nhưng thẩm định các hồ sơ cho vay một cách sơ sài, làm cho số nợ xấu tại các ngân hang này càng trở nên trầm trọng hơn. Theo Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DN, các DNNN mới xử lý dãn nợ, khoanh nợ, xóa nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước với tổng số tiền là 314,91 tỉ đồng; 18 xử lý nợ đọng hơn 19 nghìn tỉ đồng, chủ yếu bằng biện pháp thu hồi nợ, bán tài sản đảm bảo, sử dụng dự phòng rủi ro của ngân hàng. Trong số DN đó CPH, có khoảng 2.000 DN có nợ và tài sản loại trừ không tính vào giá trị DN. Tuy nhiên, theo Cục Tài chính Doanh nghiệp (Bộ Tài chính) thì số nợ phải trả của DNNN thường gấp 1,2 -1,5 lần vốn nhà nước tại DN, thậm chí có nhiều DN nợ gấp vài lần đến hàng chục lần vốn chủ sở hữu. Số nợ phải thu cũng chiếm từ 50-60% vốn chủ sở hữu, đặc biệt nợ khó đòi chiếm đến 15-20% lợi nhuận hàng năm, nhưng lại không được ghi đầy đủ trong sổ sách kế toán DN. Đến thời điểm này, việc xử lý các khoản nợ tồn đọng của khối DNNN mà Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước đưa ra biện pháp vẫn chủ yếu là dãn nợ, khoanh nợ. Theo Bộ Tài chính, hiện nợ phải trả của doanh nghiệp nhà nước khoảng 350.000 tỉ đồng, trong đó chủ yếu nợ ngân hàng. Cổ phần hóa vẫn đang tiếp tục, nhưng trong số doanh nghiệp nhà nước còn lại, 229 đơn vị kinh doanh không có lãi, 316 công ty thua lỗ. Với những khách hàng mà khả năng trả nợ khó khăn như thế công thêm chất lượng tín dụng của các ngân hàng không thể nào hoàn hảo. Và từ chất lượng tín dụng đến sự an toàn của hệ thống là những bước không xa. Trong các cuộc trả lời phỏng vấn của báo giới gần đây, các ngân hàng quốc doanh cho biết họ đã trích dự phòng rủi ro, đủ sức để xử lý nợ xấu. Nhưng thực tế có những ngân hàng nếu trích dự phòng đầy đủ như quy định thì kết quả kinh doanh sẽ là âm, thậm chí âm hàng ngàn tỉ đồng. Lượng vốn đầu tư vào Việt Nam tăng nhưng hiệu quả sử dụng vốn không cao Lượng đầu tư vào Việt Nam chiếm 40% GDP trong đó đầu tư ODA chiếm tỷ trọng khá nhỏ, chủ yếu là đầu tư dưới hình thức FDI và FPI. Năm 2007 thu hút 20 tỷ USD vốn FDI, tăng 70% so với năm ngoái. Có đến 1500 dự án đầu tư được cấp phép mới chủ yếu tập trung vào lỉnh vực xây dựng, điện tử, viễn thông… Nhưng hầu tư các dự án đầu tư dưới dạng ODA vào khu vực công kém hiệu quả và dự án đầu tư FDI vẫn còn danh mục ưu tiên cân đối ngoại tệ, tốc độ giải ngân chậmTỷ trọng đầu tư FPI đã tăng nhanh vào năm 2007, chiếm 30% trong tổng lượng vốn đầu tư vào Việt Nam, chủ yếu tập trung vào TTCK nhưng việc đầu tư này kém bền vững vì nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt rút vốn ra khỏi thị trường bất cứ thời điểm nào, gây ra hiện tượng sụt giảm thị trường có thể dẫn đến tình trạng sụp đổ TTCK vì các đặc điểm TTCK Việt Nam( nhỏ lẻ, phản ứng theo hành động của các nhà đầu tư nước ngoài). Chỉ số ICOR của Việt Nam 4.4 trong khi ở các nước trong khu vực là 3. Bong bóng tài sản hình thành trên TTCK và TTBĐS Sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán từ năm 2006 kéo dài đến giữa năm 2007 đã thu hút lượng đầu tư khá lớn vào thị trường này nhưng đấn nửa năm cuối 2007, do tâm lý 19 không ổn định của nhà đầu tư cũng như đặc điểm của TTCK Việt Nam: nhỏ lẻ, với tác động của sự điều chỉnh Chính sách tiền tệ của Chính phủ đối với TTCK đã khiến sức hấp dẫn của TTCK Việt Nam suy giảm, nhiều nhà đầu tư đã rút vốn tháo chạy, gây ra sự sụt giảm trầm trọng chỉ số VN INDEX. Ngược lai, thị trường BĐS năm 2007 tăng trưởng quá nóng do nhiều nhà đầu tư đã rút vốn từ thị trường chứng khóanvì mất niềm tin vào thị trường này đã chuyển sang đầu tư thị trường BĐS. Sự tăng trưởng từ đầu năm 2007 đi cùng sự sụt giảm của TTCK làm kích thích việc đầu tư vào thị trường này mỗi lúc một tăng cao và đi vào đỉnh điểm vào cuối 2007. Nhưng từ đó cũng xuất hiện hiện tượng đầu cơ BĐS trên thị trường này, hình thành bong bóng BĐS mỗi lúc một phình to, giá trị thị trường vượt quá giá trị thực. Daily Q.VNI 10/ 5/2006 - 5/20/2 008 (BKK) Price VND Cn dl, Q.V NI, L ast Trade 2/2 8/2008, 687 .75, 688.70, 677.80, 678.12 SMA , Q.VNI, Last Trade(Last), 14 2/2 8/2008, 759 .47 1,120 1,080 1,040 1,000 960 920 880 840 800 760 720 680 640 600 560 .12 16 Oct 06 01 16 Nov 06 01 18 Dec 06 02 16 Jan 07 01 26 16 Mar 07 02 16 02 16 Apr 07 May 07 01 18 Jun 07 02 16 Jul 07 01 16 04 17 Aug 07 Sep 07 01 16 Oct 07 01 16 Nov 07 03 17 Dec 07 02 16 01 18 03 17 Jan 08 Feb 08 Mar 08 01 16 01 Apr 08 Nguồn: Reuters 20 16
- Xem thêm -