Không gian nghệ thuật trong tây du ký

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 67 |
  • Lượt tải: 1
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH …..o0o….. NGUYỄN HOÀNG LONG KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TÂY DU KÝ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI (VĂN HỌC TRUNG QUỐC) Thành phố Hồ Chí Minh - 2000 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH …..o0o….. NGUYỄN HOÀNG LONG KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TÂY DU KÝ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI (VĂN HỌC TRUNG QUỐC) Mã số : 5.04.02 Người hướng dẫn: GS. Lương Duy Thứ Thành phố Hồ Chí Minh - 2000 LỜI CẢM TẠ Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, phòng Đào Tạo, phòng Khoa Học Công Nghệ - Sau Đại Học, tập thể thầy, cô khoa Ngữ Văn, cùng tất cả các bạn đồng học, đồng sự đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn tất luận văn. Tôi xin đặc biệt tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với giáo sư Lương Duy Thứ - một người thầy đã tận tụy, không ngại nhọc nhằn hướng dẫn cho tôi trong quá trình nghiên cứu – học tập và hoàn thành luận văn. Tôi cũng xin trân trọng đoán nhận và biết ơn sự khích lệ, động viên của gia đình, cha mẹ và các em trong quá trình học tập, nghiên cứu. Một lần nữa xin chân thành cảm ta. Tháng 03/2000. Nguyễn Hoàng Long. MỤC LỤC LỜI CẢM TẠ.............................................................................................. 3 MỤC LỤC ................................................................................................... 4 MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 6 1. Lý do và mục đích nghiên cứu. .............................................................................. 6 2. Phương pháp nghiên cứu. ....................................................................................... 6 3. Lịch sử vấn đề. ......................................................................................................... 7 4. Đóng góp mới của luận văn. ................................................................................... 8 5. Kết cấu luận văn. ..................................................................................................... 8 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI PHÁP VÀ NỘI DUNG TÂY DU KÝ ......................................................................................................... 9 1.1. KHÁI QUÁT VỀ THI PHÁP VÀ THI PHÁP KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT ......................................................................................................................... 9 1.1.1. Khái quát về thi pháp. .............................................................................................9 1.1.2. Thi pháp không gian nghệ thuật. .........................................................................10 1.2. KHÁI QUÁT TÂY DU KÝ VÀ VAI TRÒ CỦA KHÔNG GIAN NGHỆ THUÂT. ...................................................................................................................... 12 1.2.1. Nội dung Tây Du Ký. .............................................................................................12 1.2.2. Vai trò của không gian nghệ thuật trong Tây Du Ký. ........................................18 Chương 2: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TÂY DU KÝ .. 21 2.1. Không gian Trần thế. ......................................................................................... 21 2.1.1. Không gian núi Hoa quả - Đá tiên. .......................................................................21 2.1.2. Không gian mặt đất. ..............................................................................................25 2.2. Không gian thần kỳ. ........................................................................................... 43 2.2.1. Không gian Long Cung – Âm Ty. ........................................................................43 2.2.2. Không gian thượng giới. ........................................................................................47 Chương 3: MỐI QUAN HỆ GIỮA HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VỚI KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ VẤN ĐỀ THƯỞNG THỨC, TIẾP NHẬN ........................................................................................................ 62 3.1. Mối quan hệ giữa hình tượng nhân vật với không gian nghệ thuật. ............. 62 3.2. Đôi nét về vấn đề thưởng thức tiếp nhận theo hướng Thi pháp. ................... 74 KẾT LUẬN ............................................................................................... 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 83 MỞ ĐẦU 1. Lý do và mục đích nghiên cứu. 1.1. Tây Du Ký là một trong những tiểu thuyết xuất sắc nhất của nền văn học cổ điển Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu rộng đối với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Vì thế, việc tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm này trên nhiều bình diện là một vấn đề đến nay vẫn còn ý nghĩa thời sự. 1.2. Gần mười năm trở lại đây, những nghiên cứu văn học theo hướng Thi pháp đã đem lại nhiều kết quả rất đáng ghi nhận. Chọn Thi pháp học để nghiên cứu tác phẩm, chúng tôi có điều kiện tham khảo, kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trước. Tuy Tây Du Ký đã được nghiên cứu nhiều, nhưng cho đến nay, nghiên cứu không gian nghệ thuật như một công trình chuyên biệt, vẫn chưa có nhiều tác giả quan tâm. Chọn nghiên cứu không gian nghệ thuật với tư cách là một vấn đề của hình thức nghệ thuật theo quan niệm của Thi pháp học, Luận văn nhằm hướng đến khẳng định vai trò và ý nghĩa của nó trong việc biểu hiện các hình tượng văn học cũng như khám phá các giá tri tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm. 1.3. Thực hiện đề tài là một cơ hội tốt để người nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn các giá trị của một nền văn học lớn. Kết quả nghiên cứu sẽ góp thêm một cách hiểu mới, cách thưởng thức mới về tác phẩm Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. 2. Phương pháp nghiên cứu. Xuất phát từ mục đích và đối tượng nghiên cứu, luận văn chúng tôi sẽ vận dụng các phương pháp nghiên cứu như sau: 2.1. Phương pháp cấu trúc - hê thống : Xem tác phẩm Tây Du Ký là một hệ thống, một chỉnh thể nghệ thuật gồm nhiều thành tố có mối quan hệ gắn nối, xuyên thấm lẫn nhau, Luận văn sẽ chú ý các mối quan hệ trong việc cấu trúc - hệ thống tác phẩm. Việc chú ý các mối quan hộ này đương nhiên được xuất phát từ hình thức không gian - như một yếu tố - có quan hệ với các yếu tố hình thức và nội dung khác trong tác phẩm. Như vậy, phương pháp này hoàn toàn có khả năng từ một hướng nghiên cứu cụ thể, vẫn tiếp cận được nội dung tác phẩm. 2.2. Phương pháp phân loai - so sánh : Xuất phát từ đối tượng không gian nghệ thuật, Luận văn sẽ phân loại cụ thể các loại không gian, tức là những hình thức nghệ thuật loại này với tính chất riêng của từng loại. Mỗi một loại như vậy gắn với từng đoạn đời, từng hành trình vận động của các nhân vật. Sự phân loại này cũng là điều kiện giúp cho việc so sánh, nhận xét mối quan hệ giữa các hình tượng nhân vật với các không gian nghệ thuật. 2.3. Phương pháp phân tích - tường thuât: Luận văn dùng phương pháp này để phân tích cụ thể về vai trò, ý nghĩa của các không gian nghệ thuật, về quá trình thành hình và phát triển của các tính cách nhân vật. Đồng thời với phương pháp này, luận văn cũng sử dụng phương pháp tường thuật nhằm dựng lại cơ bản hành trình vận động của các nhân vật, quá trình mở ra của các không gian khác nhau trong tác phẩm. 3. Lịch sử vấn đề. Như đã nói, Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân đã được nghiên cứu từ lâu với khá nhiều thành tựu có giá trị. Chỉ nói trong giới nghiên cứu ở Việt Nam, các tác giả như Lương Duy Thứ, Trần Xuân Đề, Phan Ngọc, Hồ Sĩ Hiệp, các nhà nghiên cứu có tên tuổi như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Huy Khánh, Nguyễn Quân, Ngô Nguyên Phi, Lê Anh Dũng... và nhiều người khác đã có những thành tựu rất đáng được ghi nhận và kế thừa. Tuy nhiên, do mục đích khác nhau trong nhiều công tành của các tác giả này, vấn đề không gian nghệ thuật trong Tây Du Ký như một hướng tiếp cận chuyên biệt thì vẫn chưa được đặt ra. Đọc nhiều tài liệu khác nhau, chúng tôi nhận thấy các phần viết của tập thể tác giả thuộc Sở nghiên cứu Văn học thuộc Viện khoa học Xã hội Trung Quốc, phần viết của các giáo sư Lương Duy Thứ, Trần Xuân Đề đã có những gợi ý quan trọng cho định hướng nghiên cứu của Luận văn. Chẳng hạn, ở phần viết về "Đặc điểm nghệ thuật của Tây Du Ký", các tác giả thuộc Sở nghiên cứu Văn học thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc có ý tưởng gợi ra màu sắc không gian: "Tây Du Ký có nhiều chỗ tưởng tượng diệu kỳ, đẹp đẽ, như mở ra trước mắt người đọc một tập tranh về thế giới huyền ảo muôn màu muôn vẻ, làm cho câu chuyện trở nên phong phu đậm đà" [46/336]. Trong công trình "Bài giảng Văn học Trung Quốc", giáo sư Lương Duy Thứ cũng có đoạn viết: "Diện phản kháng của tác phẩm rất rộng. Đó là tất cả những gì bất công ngang trái, hư bại và tàn bạo ở trên trời, dưới đất và giữa trần gian" [51/211]... Các ý kiến trên đây, nhất là ý kiến của Giáo sư Lương Duy Thứ chính là sự hé lộ vấn đề không gian trong tác phẩm. về phương diện lịch sử vấn đề mà nói, Luận văn chúng tôi chủ yếu chỉ được những gợi ý quan trọng về không gian trong tác phẩm. Công việc của Luận văn đang hướng đến, do đó, là những thử nghiệm đầu tiên. 4. Đóng góp mới của luận văn. 4.1. Luận văn là công trình chuyên biệt nghiên cứu về không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Trên cơ sở tìm hiểu, phân loại và phân tích các không gian nghệ thuật trong tác phẩm, luận văn đem lại những nhận xét về vai trò, ý nghĩa của không gian nghệ thuật trong quan hệ với các hình tượng nhân vật của tác phẩm. 4.2. Xét trên bình diện thưởng thức và tiếp nhận, kết quả của hướng nghiên cứu không gian nghệ thuật sẽ góp thêm một cách hiểu về tác phẩm Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Nó cũng sẽ gợi mở ra một trường cảm nhận - liên tưởng theo hướng các hình thức nghệ thuật mang ý nghĩa nội dung như thi pháp không gian, thi pháp kết cấu, thi pháp từ ngữ... của tác phẩm. 4.3. Qua đóng góp thêm một cách hiểu mới về tác phẩm Tây Du Ký, Luận văn khẳng định chắc chắn rằng quá trình sáng tạo, tư duy nghệ thuật của nhà văn thực sự đã được chuẩn bị một cách chu đáo từ hình thức đến nội dung tác phẩm. 5. Kết cấu luận văn. Ngoài phần mở đầu (4 trang) và phần kết ỉuận (6 trang), nội dung của Luận văn được tổ chức thành ba chương như sau : - Chương một: Thi pháp và nội dung Tây Du Ký (17 trang). - Chương hai : Không gian nghệ thuật trong Tây Du Ký (56 trang). - Chương ba : Mối quan hệ giữa hình tượng nhân vật với không gian nghệ thuật và vấn đề tiếp nhận, thưởng thức tác phẩm(21 trang). _ Tài liệu tham khảo : 5 trang. Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI PHÁP VÀ NỘI DUNG TÂY DU KÝ 1.1. KHÁI QUÁT VỀ THI PHÁP VÀ THI PHÁP KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 1.1.1. Khái quát về thi pháp. Thi pháp học là bộ môn nghiên cứu văn học có từ lâu đời. Người khai sinh ra Thi pháp học là nhà mỹ học vĩ đại Hy Lạp Aristote với công trình Poetica cách đây hơn 2.300 năm. Trong tiếng Nga, Anh, Pháp, các thuật ngữ Poêtika, poétique xưa nay được dịch là "Nghệ thuật Thi ca". Khi các từ này được dịch là "Thi học", tức là muốn nghiêng vê tính chất lý luận văn học, về học thuyết của văn học. Thực ra, nên dịch là nghệ thuật thi ca thì bộ môn nghiên cứu văn học này mới đi vào định hướng chính là bản thể văn học với những yếu tố của nó và các nguyên tắc mã hóa mang tính quan niệm của nhà văn. Thi pháp học được đề cập từ đời Tống với các học giả như Nghiêm Vũ, Chu Bật, Khương Quỳ... Quan niệm Thi pháp học của các học giả này không phải thu hẹp trong phép làm thơ, vần luật thơ, mà bao hàm những nguyên tắc rộng rãi như tạo hình, cấu tứ, cốt cách:.. Nhưng ngay ở Trung Quốc hiện nay, phần lớn đều dùng từ Thi học và hiểu là lý luận văn chương nói chung. Tình hình này cũng diễn ra trong khoa nghiên cứu văn học ở nhiều nước đặc biệt là trong giới nghiên cứu văn học Nga như M.B.Khrapchenko, A.Bushmin, G.Pospelov, P.Nicolaev, M.Poljakov... Quan niệm của các tác giả Nga cũng khác biệt với các tác giả ở Pháp và Mỹ hiện nay. Tình hình càng phức tạp hơn, khi trong khuynh hướng, hệ hình của Thi pháp học trên thế giới có nhiều vấn đề như thi pháp truyền thống và hiện đại, trường phái Hình thức (ở Nga), Phê bình mới (ở Anh, Mỹ), Thi pháp học cấu trúc, Hiện tượng học... Từ nhiều cách hiểu khác nhau về Thi pháp và Thi pháp học, . . Trần Đình Sử đã quy thành 4 cách hiểu chính như sau: 1. Thi pháp học lý thuyết 2. Thi pháp học miêu tả 3. Thi pháp học lịch sử 4. Thi pháp học ngôn ngữ học.[44/55,58,59] Để tự tạo điều kiện thống nhất về mặt lý thuyết trước khi đi vào nghiên cứu vấn đề đặt ra trong luận văn, chúng tôi tạm xác định rằng: Thi pháp là hệ thông nghệ thuật của hiện tượng văn học, còn Thi pháp học là bộ môn nghiên cứu hệ thống nghệ thuật ấy. Ở đây, việc nghiên cứu hệ thông nghệ thuật của một hiện tượng văn học không phải chỉ hoàn toàn chú ý đến những kiến tạo hình thức, mà hướng tới những hình thức mang tính nội dung, tính quan niệm, tức là coi trọng việc khám phá nội dung trong các hình thức nghệ thuật, các phương thức biểu hiện nghệ thuật. 1.1.2. Thi pháp không gian nghệ thuật. Trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, thường bao giờ nhà văn cũng có những quan niệm nhất định về đối tượng mình định miêu tả, biểu hiện. Trung tâm hơn cả của thế giới đối tượng ấy là con người, quan hệ giữa con người và cuộc sống đa dạng, đa chiều của họ. Nếu văn học có cội nguồn từ đời sống hiện thực thì đối tượng quan tâm của nó phải tồn tại trong một không gian - thời gian nhất định. Cũng như thời gian, không gian là một hình thức hiện hữu của con người và cuộc sống của họ. Nhưng đây là nói không gian tựa theo hiện thực, cái không gian tồn tại khách quan. Trong sáng tác, nhà văn hoàn toàn sử dụng các kiểu không gian và các phương thức biểu đạt không gian khác nhau. Khi nó được sử dụng, bước vào tác phẩm, thì nhờ vào năng lực chọn lựa, tổ chức của nhà văn nó sẽ được tái sinh bằng một quan niệm thẩm mỹ. Đó chính là không gian nghệ thuật. Vì là không gian nghệ thuật, nên nó đem lại một chất lượng hoàn toàn mới, một ý nghĩa thẩm mỹ mới. Đối với lý thuyết Thi pháp học, thời gian - không gian là một cặp phạm trù cơ bản. Nó không những là hình thức hiện hữu của đối tượng được miếu tả, biểu hiện, mà còn là phương thức để nhà văn bộc lộ tư tưởng nghệ thuật của mình. Nó không chỉ là đề tài, ký hiệu nghệ thuật mà còn là cảm thức thẩm mỹ, là nỗi niềm của nhà văn. Cho nên, có thể nói, "Trong văn học nghệ thuật, không gian nghệ thuật chính là hình thức tồn tại của hình tượng".[42/240,242] Hình tượng là hình thức khám phá đời sống, nên nó là thành tựu cụ thể trong từng tác phẩm văn học. Ở tất cả các thể loại, dù muốn hay không, hình tượng văn học luôn luôn gắn chặt với một môi trường, một không gian mà nó sinh thành và hiện hữu. Chính môi trường, không gian này với hình tượng được nhà văn sáng tạo là có quan hệ tạo sinh ý nghĩa thẩm mỹ, chịu tác động, chi phối và ứng hợp với nơi chốn tồn tại của mình. Hình tượng văn học luôn tạo ra những tưởng tượng, rung động qua lại với không gian sinh tồn của nó. Nhà nghiên cứu Trấn Đình Sử nhắc đến câu tục ngữ trong văn học dân gian: "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài..."[43/31] cũng là một gợi ý dễ hình dung về quan hệ này. Từ những điều trên đây, ta thấy rằng, nếu hiểu được không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học, ta sẽ hiểu được một phần quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người và thế giới. Cũng từ đó, ta sẽ lý giải được vì sao các hình tượng văn học nên là như thế đó,.. Điều đáng ghi nhận là không gian nghệ thuật bao giờ cũng mang tính quan niệm, luôn gắn với cảm xúc và ý nghĩa nhân sinh. Không gian nghệ thuật có mặt trong tất cả các sáng tác văn học nói chung. Tùy theo từng thể loại, tùy vào khả năng bao quát của từng loại hình, mà không gian nghệ thuật cũng khác nhau về phân lượng, tính chất và khả năng khái quát. Nhưng nếu phải so sánh, chẳng hạn, giữa thơ ca và văn xuôi, thì không gian nghệ thuật trong văn xuôi thực sự ưu trội hơn. Điều này do đặc trưng thể loại quy định. Theo Trần Đình Sử, không gian nghệ thuật ngoài ba chiều thông thường, còn có chiều thứ tư: đó là chiều tâm tưởng - không gian của cảm xúc và ước vọng [13/31]. Phùng Quý Nhâm, trong chuyên đề Thi pháp giảng cho hệ sau Đại học cũng góp phần chỉ ra không gian nghệ thuật có thể được chia làm nhiều lớp như: Không gian sinh hoạt (lễ hội, đình đám, sinh hoạt bình thường), không gian xã hội, không gian vũ trụ (bầu trời, mặt đất), không gian thiên nhiên (dòng sông, cánh rừng, lũy tre), không gian ảo (âm phủ, niết bàn, thiên đường), không gian huyền thoại... Những lớp không gian này ở từng thể loại, từng phạm trù văn học cụ thể cũng đậm nhạt khác nhau. Chẳng hạn, không gian xã hội trong thơ Thiền đời Lý nhạt, nhưng trong văn học hiện thực phê phán lại đậm, hoặc không gian thiên nhiên, địa lý, vũ trụ rất rõ trong văn học dân gian, còn trong thơ trữ tình thì không gian xã hội không rõ lắm. Như đã nói ở trên, không gian - thời gian là một cặp phạm trù cơ bản của Thi pháp học. Nhà lý luận Bakhtin từng xem cặp phạm trù này luôn đi liền nhau. Giữa chúng luôn có liên hệ hòa lẫn. Chẳng hạn, Uxpenxki nói: "Không gian là thời gian trường tồn. Thời gian là không gian đang lấn bước" (theo bài giảng của Phùng Quý Nhâm), hoặc thi sĩ Tản Đà trong bài thơ "Tiễn Thu - Cảm Thu", đã cho thấy chính việc cảm nhận được mùa thu (thời gian) lại bằng vào những dấu hiệu chuyển động của không gian: Từ vào thu đến nay Gió thu hiu hắt Sương thu lạnh Trăng thu bạch Khói thu xây thành Lá thu rơi rụng đầu ghềnh Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly. Một vấn đề khác cũng cần được lưu ý đối với không gian nghệ thuật, đó là tính dân tộc. Nếu nhà văn bao giờ cũng là con đẻ của một dân tộc, một đất nước cụ thể, thì trong sáng tác văn học của ông ta, màu sắc dân tộc với những tính chất, tâm lý, dấu ấn nhất định phải được thể hiện. Địa bàn cư trú đầu tiên, đặc trứng nơi chốn sinh thành, không gian cuộc đời cụ thể của mỗi dân tộc... đều gắn với quan niệm về không gian của con người. Do vậy, nghiên cứu không gian nghệ thuật phải chú ý đến tính dân tộc. 1.2. KHÁI QUÁT TÂY DU KÝ VÀ VAI TRÒ CỦA KHÔNG GIAN NGHỆ THUÂT. 1.2.1. Nội dung Tây Du Ký. 1.2.1.1. Tóm tắt tác phẩm. Tây Du Ký vốn bắt nguồn từ một câu chuyện có thật về nhà sư trẻ Trần Huyền Trang đời vua Đường Thái Tông đã một mình đi sang Ấn Độ để tìm thầy học đạo, thỉnh kinh. Tất cả thời gian, công sức và kết quả cuộc hành trình của nhà sư này có nhiều tài liệu nói đến. Do vậy, cho phép chúng tôi miễn giải trình thêm. Từ câu chuyện có thật về Trần Huyền Trang đời Đường đến trước khi nhà văn Ngô Thừa Ân sáng tạo lại, câu chuyện ây đã ngày càng được truyền tụng, thần thoại hóa và thay đổi, bổ sung do nhiều tác giả và các tập thể nhân dân khác nhau. Đến lượt mình, Ngô Thừa Ân đã vượt trội hơn tất cả, “Vì dưới ngòi bút sáng tạo của ông, không những tác phẩm có một dung lượng đồ sộ 100 hồi trước kia chưa hề có, mà tính tư tưởng cũng được nâng cao, hình lượng nhân vật trở nên sinh động, đa năng, có tính cách rõ nét. Văn phong uyển chuyển, khúc chiết và trước sau nhất quán" .[519] Để thấy rõ hơn sự vĩ đại của tác giả bộ Tây Du Ký, Luận văn chúng tôi xin phép sử dụng nguyên vẹn vài trang tóm tắt súc tích của tác giả Lương Duy Thứ từ hơn hai ngàn trang ngôn ngữ văn chương dịch như sau: "Từ hồi 1 đến hồi 7, tác giả giới thiệu lai lịch Tôn Ngộ Không. Đó là một con khỉ do một hòn đá tiên hóa thành. Từ nhỏ y đã thông minh, lanh lợi, dũng cảm, được đàn khỉ tôn làm vua (Mỹ hầu vương). Sau đó, y đi tìm thầy học đạo, học được 72 phép biến hóa thần thông. Y náo động long cung, bắt Long Vương nộp gậy thần (thiết bổng) để làm vũ khí, rồi náo động âm ti, xóa tên họ loài khỉ trong sổ tử để hưởng trường sinh. Long Vương và Diêm Vương kiện lên Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng nổi giận sai thiên binh, thiên tướng đánh bắt nhưng không được, bèn theo kế chiêu an phong cho Tổn Ngộ Không chức quan giữ ngựa (Bật mã ôn) trên thiên đình để giữ chân y. Chẳng bao lâu, biết bị lừa, y lại náo loạn thiên cung đòi cho được chức Tề Thiên Đại Thánh (Thánh bằng Trời). Ngọc Hoàng Thượng Đế phải nghe theo. Nhưng rồi tính khí vẫn ngang ngạnh như xưa. Các thần mở tiệc đào tiên mà không mời y, y phá tiệc rồi trốn về động khỉ. Thượng đế phải sai cháu mình là Nhị Lang thần mang "kính chiếu yêu" đuổi bắt mới được, đem xử trảm, nhưng dao chém không đứt, phải bỏ vào lò bát quái nung 49 ngày đêm cũng không chảy, cuối cùng y phá ra được. Y lại loạn đả thiên cung, đánh cho thiên binh, thiên tướng tả tơi. Thượng đế phải vời Phật Tổ Như Lai dùng pháp thuật mới bắt được, đem giam dưới núi Ngũ Hành 500 năm. Từ hồi 8 đến hồi 12: giải thích nguyên do việc đi thỉnh kinh, giới thiệu lai lịch Huyền Trang và các đệ tử: Quan Âm Bồ Tát vâng mệnh Phật Tổ đi tìm người sang Ân Độ để lấy kinh Phật truyền bá về phương Đông. Trên đường đến Trường An, Quan âm gặp Sa Ngộ Tĩnh, nguyên là đại tướng lo việc cuốn rèm cho Thượng đế (Quyển Liêm tướng quân), vì làm vỡ đèn lưu li trong hội bàn đào mà bị đày làm quỷ trên sông Lưu Sa. Quan Âm thu nạp, cho làm đồ đệ đi thỉnh kinh để đổi kiếp. Lại gặp Trư Bát Giới, nguyên là Thiên Bồng nguyên soái vì chọc ghẹo nàng Hằng Nga mà bị đày xuống trần gian làm quái đầu lợn. Chấp nhận lời thỉnh cầu của y, Quân Âm cho làm đồ đệ giúp việc thỉnh kinh để chuộc tội. Lại gặp con rồng trắng bị treo ngược giữa trời, đó là con trai Long Vương phạm tội chờ ngày xử trảm. Quan Âm xin cho rồi hóa phép thành con ngựa vàng đỡ gót người đi thỉnh kinh. Lại gặp Tôn Ngộ Không đang bị đè dưới núi Ngũ Hành, Quan Âm cho phép đi theo hộ vệ người thỉnh kinh để cải tà quy chính. Đến Trường An, Quan Âm tìm được Trần Huyền Trang, một hòa thượng chân tu, có thể phó thác sứ mệnh sang phương Tây thỉnh kinh. Vốn là đứa trẻ trôi sông được nhà chùa cứu vớt, Huyền Trang chuyên tâm học đạo, tinh thông Phật pháp, dần dần trở thành nhà sư tiếng tăm lừng lẫy. Quan Âm bèn giao trọng trách "Tây du thỉnh kinh" cho Huyền Trang. Từ hồi 13 đến hết hồi 98: thuật lại quá trình đi thỉnh kinh. Ban đầu có 2 người đưa đường Huyền Trang. Nhưng vừa ra khỏi biên giới thị bị hổ và gấu ăn thịt mất. Huyền Trang hết đường lui tới, chỉ biết ngồi khóc. May gặp Tôn Ngộ Không nằm bẹp dưới núi Ngũ Hành đang chờ người thỉnh kinh để được giải thoát. Huyền Trang bèn dùng phép giải phóng cho y và thu nhận làm đệ tử. Từ đó đường đi mới thuận lợi. Với cây gậy thần trong tay, dùng 72 phép biến hóa thần thông, Tôn Ngộ Không đã tiêu diệt hết mọi yêu ma quỷ quái cản đường. Nhưng Huyền Trang lại rầy la y làm việc sát sinh, vi phạm giới luật nhà Phật. Y bực bội bỏ đi. Quan Âm phải cho Huyền Trang chiếc mũ Kim cô để kiềm chế. Khi cần, Huyền Trang chỉ niệm chú là chiếc vành vàng sẽ siết chặt lấy đầu Tôn Ngộ Không làm y đau đớn không chịu được, phải theo lệnh Huyền Trang. Đường đi yêu quái ngày một nhiều, Quan Âm bèn ban cho Tôn Ngộ Không ba cái lông hộ mạng mọc sau gáy, khi cần; nhổ một cái rồi lâm râm niệm chú là lập tức biến thành vô số Tôn Ngộ Không. Kế đó, Huyền Trang lại thu nhận ngựa rồng ở suối Ưng Sầu, thu nhận Trư Bát Giới ở động Vân Sơn, thu nhận Sa hòa thượng ở sông Lưu Sa. Đoàn thỉnh kinh đã có cả thảy năm thầy trò, thêm nhiều thuận lợi. Có điều Trư Bát Giới là kẻ hiếu sắc, lười biếng, suýt mắc lừa bốn nữ yêu quái, làm cho đoàn thỉnh kinh một phen lận đận. Y lại hay xúc xiểm, làm cho nội bộ đoàn trở nên lục đục. Một lần Tôn Ngộ Không đánh chết con Bạch Cốt Tinh ba lần đổi lốt để đánh lừa Tam Tạng, giữa lúc Tam Tạng đang bất bình thì y lại nhỏ to khích bác làm nhà sư nổi giận đuổi Tôn Ngộ Không. Tôn Ngộ Không buồn rầu trở về động khỉ, nhưng vẫn không cởi được chiếc mũ kim cô. Vắng y, bốn thầy trò Đường Tăng bị yêu quái hãm hại suýt mất mạng. Bất đắc dĩ, Huyền Trang phải sai Trư Bát Giới đi tìm y trở về. Năm thầy trò lại tiếp tục Tây du. Tôn Ngộ Không lại lần lượt đánh thắng các yêu quái, đấu phép thắng các đạo sĩ. Nhưng gặp con quái một vòi (Độc giác tỉ) dùng bùa phép cướp được cây gậy thần thì y chịu thua; Y phải cầu viện Phật tổ mới lấy lại được "thiết bổng". Y lại phò Đường Tăng vượt qua "nước con gái", phá được mưu kế cưỡng hôn của bà vua nước này. Rồi đánh thắng "Thiết Phiến công chúa", lấy được cái quạt thần để quạt tắt núi lửa ngăn trở đường đi. Cuối cùng, năm thầy trò vượt qua tất cả 81 nạn, đến xứ sở Phật tổ tìm thầy học đạo. Hồi 99 và 100: kể lại quá trình thắng lợi trở về. Năm thầy trò xin được rất nhiều kinh Phật, được bệ kiến Phật tổ, Phật tổ ban thưởng rất hậu, rồi dùng phép đưa họ "cưỡi mây" trở về Trung quốc. Đường Thái Tông cùng tăng ni phật tử và dân chúng đã đón tiếp rất trọng thể. Họ bàn giao kinh Phật rồi theo lệnh Phật tổ "cưỡi mây" trở lại xứ Phật. Tùy theo công trạng, Đường Tăng được ban tước Hằng công đức Phật, Tôn Ngộ Không được cởi mũ kim cô, được ban tước Đấu chiến thắng Phật, các đề độ khác đều được ban thưởng. Họ ở lại xứ Phật hưởng phúc muôn đời".[44/9-12] 1.2.1.2. Sự ảnh hưởng của tôn giáo. Trước hết, có thể nói rằng Phật giáo đã ảnh hưởng trên nhiều bình diện của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Cố nhiên, văn học Trung Quốc trước khi Phật giáo Ấn Độ truyền nhập vào cũng đã có những truyền thống và thành tựu riêng. Ngay ở những thành tựu và truyền thống ấy cũng đã từng được biến đổi, nhất là khi có những tư tưởng, quan niệm mới có khả năng tác động mạnh vào ý thức của các nhà văn. Rõ ràng, sau khi sách Phật truyền vào Trung quốc thì nền văn học này "lại thêm một lần biến đổi nữa"[61/54]. Ông Vương Quốc Duy còn nói rõ hơn về sự tiếp nhận Phật giáo của giới trí thức: “Phật giáo truyền sang phương Đông, đúng vào lúc tư tưởng nước ta tàn tạ, lức bấy giờ các học giả gặp được Phật giáo, khác nào kẻ đói được ăn, người khát được uống"[61/54]. Tuy nhiên, ảnh hưởng Phật giáo trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc là một vấn đề lớn, phong phú và khác nhau ở các tác phẩm cụ thể. Riêng trường hợp Tây Du Ký thì có thể nói rằng, tác phẩm sẽ không có được nếu không có sự truyền nhập của Phật giáo. Sở dĩ nói thế, vì xuất phát của câu chuyện Tây Du Ký là bắt nguồn từ việc Huyền Trang đi thỉnh kinh. Khi câu chuyện này vào ngòi bút sáng tạo của Ngô Thừa Ân thì - đúng như G.s Lương Duy Thứ nói là trọng điểm về nhân vật đã thay đổi, nhưng vẫn là câu chuyện đi thỉnh kinh và, việc đề cao Phật giáo của tác giả cũng được thể hiện rất rõ. Chúng ta cũng biết Phật giáo vốn có nhiều tông phái và mỗi tông phái lại phát triển không đều nhau ở các thời kỳ lịch sử trong xã hội Trung Quốc. Và ngay trong nội dung tác phẩm, ở một số chi tiết, biểu hiện nhất định, chúng ta dễ thấy điều này mang màu sắc Thiền tông, điều kia là biểu hiện của Tịnh độ tông hoặc Mật tông... Đây quả là một vấn đề phức tạp. Để có thể xác định khái quát về Phật giáo trong Tây Du Ký, có lẽ, chúng ta nên dựa vào những bộc lộ chính thức, rõ ràng, có tính chất mấu chốt trong chính tác phẩm. Đọc Tây Du Ký, ở hồi thứ 12, Vua Đường Thái Tôn có lòng thành mở đại hội. Bấy giờ Huyền Trang là pháp sư lên đàn giảng kinh. Phật Quan Âm hiện thành một bồ tát ghẻ lở cùng Mộc Xoa đi tìm người thỉnh kinh thì gặp vua Đường và biết có pháp sư xứng đáng nên tặng áo cà sa và tích trượng. Vua Đường Thái Tôn bèn đem về cho Huyền Trang mặc và mặc áo vào, Huyền Trang đẹp như con Phật, Huyền Trang pháp sư tiếp tục giảng kinh Tiểu thừa, Quan Âm nói giảng kinh Tiểu thừa thì không siêu thoát. Vua Đường biết chuyện, bèn hỏi Quan Âm và Quan Âm bảo rằng giảng kinh Đại thừa mới siêu thoát. Quan Âm cũng đã chỉ xứ sở có kinh Đại thừa là nước Tây thiên. Sau đó, Huyền Trang vâng mệnh Vua đi thỉnh kinh ở Tây thiên. Như vậy, Phật giáo trong Tây Du Ký là Phật giáo Đại thừa. Cùng với Phật giáo, còn phải nói đến Nho giáo và Đạo giáo, tức tính chất "Tam giáo đồng nguyên". Một đất nước đã từng chấp nhận những quy tắc, quy ước về tôn ti trật tự, kỷ cương của Nho giáo; từng hiểu biết thế nào là sống phải không được trái với tự nhiên để giữ thân tâm thanh tĩnh của học thuyết "vô vi" của Lão tử... thì ảnh hưởng của những quan niệm này vào văn học là điều dễ hiểu. Như thế, có thể nói, trong Tây Du Ký có sự ảnh hưởng của các học thuyết triết học. Ảnh hưởng này, thực ra, khá phức tạp. Phức tạp vì mỗi học thuyết, mỗi đạo như vậy đều có quá trình phát triển khác nhau. Điều đáng lưu ý hơn là giữa chúng có sự đan xen, hòa trộn vào nhau một cách không giống nhau trong từng thời kỳ văn học, từng loại tác phẩm cụ thể. Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân cũng không thoát ra ngoài vòng quan hệ đó. Chẳng hạn, theo sử sách, từ đời Chiến quốc về sau, đạo học của Lão giáo bị biến đổi rất nhiều. Có người đem thuật "tu hành" của Hoàng Đế với việc "tu thân" của Lão Tử, thành ra một học thuyết, gọi là đạo Hoàng Lão, đây là mảnh đất của đám vu đồng bóng, từ đó có việc cầu thuật "Trường sinh bất tử", qua cửa ngõ luyện đan. Giáo sư Phan Ngọc cũng cho rằng ý nghĩa của Ngũ hành trong thiên "Hồng Phạm" trong Kinh thư cũng đã góp phần "tạo nên quan niệm lịch sử theo tuần hoàn, làm cơ sở cho lý thuyết trời và người có quan hệ với nhau và nhập vào Nho giáo đời Hán"[35/331, 332]. Việc nguyên lý ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) nhập vào với Nho giáo, càng về sau càng phức tạp, nhất là khi có các chi nhánh dùng bùa chữa bệnh (chẳng hạn phái "Khăn vàng” (Hoàng Cân)), lôi cuốn nhân dân chống lại chính quyền hủ bại nhà Hán. Giáo sư Phan Ngọc viết: "Các kinh chủ yếu của nó là "Đạo đức kinh", "Thái bình kinh", "Lão Tử Tưởng Nhĩ chú", dùng thuyết âm dương ngũ hành giải thích nguồn gốc vũ trụ, dạy cách tập thở, các bí quyết giao hợp để được trường sinh, lấy trung, hiếu, thành, tín làm nguyên lý trí nước để cho thiên hạ thái bình"[35/333]. Chỉ nói ở đời Hán như trên, cũng đã thấy vấn đề phức tạp. Còn Phật giáo Ấn Độ truyền nhập vào Trung Quốc từ năm 67 sau công nguyên thì ngay từ đầu cũng hầu như không còn tính chất siêu hình như ở Ấn Độ, mà dần dần, nó lại hướng về thực tiễn, tìm đường đi phù hợp với xã hội Trung Quốc. Giáo sư Phan Ngọc cho rằng, từ đời Đường trở đi, về nhu cầu thỏa mãn tâm linh trong xã hội Trung quốc, Phật giáo đã lấn dần Đạo giáo và trở thành trào lưu chủ yếu của Trung Quốc [34/339]. Phật giáo ở Trung quốc là Phật giáo Đại thừa (tiếng Phạn: Mahayana), nghĩa là chiếc xe lớn, nghĩa bóng là chở nhiều và đi xa được. Đó là nói đến những kinh điển cao siêu của nhà Phật, dạy cách tu hành để đạt đạo cho mình và tất cả chúng sanh. Nhiều nhà nghiên cứu cũng xác định rằng giáo lý Đại thừa là giáo lý được truyền theo đường vòng phía Bắc, gọi là Bắc tông. Tình hình đan xen, xâm nhập lẫn nhau trong quá trình phát triển của các học thuyết như vừa nói trên, tuy khó miêu thuật đầy đủ, nhưng rõ ràng, chúng là một hiện tượng có thực. Do định hướng nghiên cứu của Luận văn, chúng tôi không đi sâu vào việc ảnh hưởng của các học thuyết, các đạo - đối với tiểu thuyết. Với tinh thần ghi nhận sự có mặt của tam giáo trong Tây Du Ký, chúng tôi xác định lại vấn đề với những quan niệm và đánh giá sau đây. Trước hết, Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân mang rõ màu sắc tôn giáo và tín ngưỡng. Đối với Phật giáo, đó là Phật giáo Đại thừa, có thỉnh kinh, tụng niệm, tu hành để giải thoát cho bản thân và có thể phổ độ cho nhiều người khác, vì ai cũng có "Phật tính". Do vậy, nó có tinh thần tích cực trong việc thâm nhập nhân gian, xã hội. Đối với Đạo giáo, đặc điểm khu biệt của nó là thuyết tu tiên vốn mượn từ "Đạo đức kinh". Từ tu tiên, dần về sau, các cá nhân đề cao một cách say sưa huyền bí để đưa ra hai biện pháp: một là, tu tiên để thành bất tử; hai là, lên đồng để tiếp xúc với thần linh (G.S. Phan Ngọc - Sđd. Trang 337). Đối với Nho giáo, " ý thức chủ đạo của tâm thức Trung Quốc là hình ảnh của triều đình Hoàng đế cực kỳ đồ sộ, quy mô chặt chẽ, quy tắt gắt gao. Cái gì ở Trung Quốc cũng có tôn ty chặt chẽ". (Phan Ngọc - Sđd, trang 339). Cả ba học thuyết này, trong quá trình phát triển, biến sinh, dưỡng như đều hòa quyện với các tín ngưỡng dân gian. Hiện tượng này không chỉ xảy ra ở Trung Quốc, còn xảy ra ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á. Cái tài của nhà văn là bằng cảm quan nghệ thuật riêng, tác giả đã phản ánh một tinh thần dung hợp mang màu sắc phương Đông mà nhiều người gọi là "Tam giáo đồng nguyên". Trong tinh thần dung hợp này, theo chúng tôi, Phật giáo đã chiếm một vị trí ưu trội hơn. Cũng cần nói thêm rằng, cái tinh thần "giác nhi giác tha" của Phật giáo có một sức hấp dẫn lớn đối với quần chúng, nhất là quần chúng lao khổ: nó giải đáp những vân nạn của nhân sinh đã từng đặt ra với nhân dân Trung Quốc trong lịch sử. Tuy nhiên, Phật giáo cũng như Đạo giáo, Nho giáo không phải là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn chúng tôi. vả lại, không có một tôn giáo nào, kể cả Phật giáo, được thế hiện một cách đầy đủ trong Tây Du Ký. Sự có mặt của tam giáo ở đây có tính cách như một cái nền, một điểm tựa để nhà văn thực hiện một ý định nghệ thuật khác với một màu sắc khác. Điều này đúng như G.s Lương Duy Thứ đã nói: "Tiểu thuyết thần ma lấy đề tài trong thần thoại hoặc tôn giáo nhằm thể hiện những đòi hỏi trong cuộc sống hiện thực, bởi vậy có khi viết về tôn giáo, nhưng lại xa lạ với mục đích tuyên truyền tôn giáo. Loại này nặng về tưởng tượng hư cấu, đậm màu sắc lãng mạn thần thoại. Tây Du Ký là tác phẩm thành công nhất của loại này "[20/10]. Ở đây cũng cần xác định thêm rằng, vấn đề "màu sắc lãng mạn thần thoại" trong Tây Du Ký chỉ như là đặc trưng của bút pháp, chứ không theo yêu cầu của một phương pháp sáng tác lãng mạn đích thực như chủ nghĩa lãng mạn trong văn học. Do sự sáng tạo "nặng về tưởng tượng hư cấu, đậm màu sắc lãng mạn thần thoại", mà chúng ta có điều kiện nhìn thấy nhiều không gian nghệ thuật rất kỳ thú trong tác phẩm. Đọc Tây Du Ký, chúng ta có thể thấy những không gian nghệ thuật rất tiêu biểu như không gian thần kỳ, không gian trần thế và trong mỗi loại như vậy lại chứa những loại nhỏ hơn về nó. Chẳng hạn, trong không gian thần kỳ, chúng ta có thể nhận ra không gian long cung, âm ty, không gian thượng giới mà Phật, Tiên, Trời đều có mặt. Sự thú vị và cũng là phức tạp của các không gian nghệ thuật này là chúng thường đan quyện, thông nối lẫn nhau. Dù vậy, trong một mức độ tương đối hợp lý, chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu từng loại không gian này và hiện tượng đan quyện thông nối giữa chúng. 1.2.2. Vai trò của không gian nghệ thuật trong Tây Du Ký. Như ý kiến của nhà lý luận Bakhtin, các hình tượng văn học trong tiểu thuyết có "sự thay đổi các trục tọa độ trong không gian và thời gian"[25/37]. Đọc Tây Du Ký, đặc điểm này có thể tìm thấy phong phú. Dĩ nhiên, đồng thời với hình thức không gian, tác phẩm còn có thời gian cùng các kiểu dạng của nó. Ở trên chúng tôi đã dẫn ý kiến của Ưsepenseki: không gian là thời gian trường tồn. Thời gian là không gian đang lấn bước và đúng như M.Bakhtin nói khi nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết của Dostoievski rằng chúng là một phạm trù cơ bản và luôn đi liền nhau. Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có thể có hai mặt cơ bản là quan niệm thời gian của nhà văn và việc tổ chức thời gian của tác phẩm. Theo quan niệm của thi pháp học thì nhìn chung, khi thời gian - cũng như không gian - gắn bó với tình cảm, suy nghĩ, hòa điệu tương hợp với các hành trạng nhân vật, các hình tượng văn học, thì mới có điều kiện trở thành thời gian - không gian nghệ thuật. Trong Tây Du Ký, có vô số những thời gian như thế. Chẳng hạn, ngay ở hồi thứ nhất trong tác phẩm, Hầu Vương đi học phép trường sinh đến Nam Thiêm bộ châu tự sống đến tám năm ròng, rồi lại tự mình đóng bè, vượt sông qua Tây hải thẳng tới địa giới Tây Ngưu hạ châu. về sau, khi gặp Tổ sư hỏi cuộc hành trình ấy, Hầu Vương nói: "Đệ tử lênh đênh qua bể, lên đất, lang thang đủ mười mấy năm trời mới đến được đây". Với thời gian như thế - tuy trước hết nó vẫn là thời gian khách quan, nhưng đã gắn bó xiết bao với những gian khổ, tâm tình, khát vọng trường sinh của hầu vương! Bắt đầu từ hồi thứ mười hai, ở đầu mỗi hồi, ta thường gặp sự miêu thuật của người kể chuyện về thời gian của cuộc thỉnh kinh, về các tiết thu, rồi đến đông, đến hạ... với bao vất vả do thời tiết diễn ra mà cả đoàn thỉnh kinh phải chịu đựng. Thời gian năm trăm năm Tề thiên đại thánh bị đè dưới núi Ngũ Hành cũng không còn là thời gian vật lý, vì nó đã gắn với sự chịu đựng phi thường của nhân vật. Có thể nói rằng trong tám mươi mốt tai nạn mà Đường Tăng cùng các đệ tử phải chịu đựng hầu như tai nạn nào cũng có thời gian tính và thời gian ấy, hoặc là gắn với nỗi âu lo, sốt ruột của Đường Tăng, hoặc là sự chịu đựng, tính chất bức bách trong tình cảm của các đệ tử. Như thế, thời gian trong tác phẩm quả là một thời gian có quan niệm tính của nhà văn. Nếu chỉ đi sâu nghiên cứu hình thức nghệ thuật này, chắc chắn chúng ta sẽ thấy rõ hơn các ý nghĩa của nó. Một điều cũng cần xác định là tuy không gian, thời gian luôn đi liền nhau, nhưng chúng là hai vấn đề khác nhau. Đọc Tây Du Ký, chúng tôi nhận ra không gian nghệ thuật dường như có tính ưu trội hơn, nên chọn nghiên cứu. Những nghiên cứu ngày nay như: "Thời gian nghệ thuật của Marcel Proust trong tác phẩm "Đi tìm thời gian đã mất" hoặc: "Xuân Diệu, nỗi ám ảnh thời gian", "Huy Cận, nỗi ám ảnh không gian"... cũng là theo hướng "tính trội" của vấn đề mà nghiên cứu. Do định hướng của Luận văn, ở đây, chủ yếu tìm hiểu về không gian nghệ thuật. Có thể nói ngay rằng, từ ngay hồi 1 của tác phẩm thì không gian mang ý nghĩa nghệ thuật đã xuất hiện và từ đó, đến hết một năm trời, dù có thay đổi, chuyển dịch, không gian nghệ thuật đã liên tục xuất hiện. Chính các tọa độ cụ thể của nhiều loại không gian trong tác phẩm đã đóng vai trò làm nền, làm điểm tựa và phạm vi cho các vận động của hình tượng văn học. Vì nhà văn chỉ có thể quan niệm trước về nhân vật, về nơi chốn tồn tại của các hình tượng, về mối tương quan hòa điệu giữa chúng mới có thể sáng tác, nên những không gian ấy đã mang thêm ý nghĩa mới trong quan hệ với nhân vật, và do đó, có ý nghĩa nghệ thuật. Cứ hình dung một Tôn Ngộ Không anh hùng phản nghịch với liên tiếp những chiến công chất ngất đối với Thiên đình, Long cung, Âm ti và suốt những chặng đường đầy yêu quái mà trước sau chỉ có một phạm vi không gian nhỏ hẹp và bình thường thì làm sao có được sự ứng hợp với tính cách? Một nhân vật song toàn về dũng trí và tài năng, một tính cách chỉ có thể quẫy đạp, bức phá đối với mọi sự đè nén, bất công... như Tôn Ngộ Không, rõ ràng phải có không gian thích ứng với chính nhân vật. Chọn lựa và xây dựng kiểu không gian này cho quá trình tồn tại và phát triển của nhân vật mình, quả là một kỳ công sáng tạo của tác giả. Những hình thức không gian ấy là một đặc trưng thi pháp. Vai trò của không gian nghệ thuật ở đây, vì thế, là một vấn đề rất có ý nghĩa. Nghiên cứu không gian nghệ thuật trong Tây Du Ký cũng như những vấn đề lớn khác ương tác phẩm, chúng ta cũng cần thấy hết sự phức tạp của tác phẩm trong quan hệ với truyền thuyết dân gian, tình hình thuyết thoại nhân qua nhiều đời và dị bản của nó ở một số tác giả. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Khánh, có thể có khá nhiều bản Tây Du Ký [21/147,143,144] và vấn đề tác giả của nó cũng là chuyện từng có nhiều tranh cãi. Chẳng hạn, có ý kiến cho rằng đạo sĩ Trường Xuân Khâu Xử Cơ, người đời Nguyên mới là tác giả của Tây Du Ký chứ không phải Ngô Thừa Ân. Thực ra, "Dưới thời Nguyên Thái Tổ, đạo sĩ Khâu Xử Cơ vâng chỉ đi Tây Vực, khi trở về, ông mới viết bộ Du Ký đó. Theo Từ Nguyên, thì bộ Du ký này được hoàn thành ngay dưới đời Thái Tổ nhà Nguyên. Do sự trùng tên sách, nên mới có sự lầm lẫn tên tác giả. Thêm vào đó, hồi thời Thanh sơ, khi khắc bản in các bộ diễn nghĩa, nhà xuất bản lấy lại tựa Tây Du Ký của Trường Xuân Khâu Xử Cơ làm tựa cho bộ Tây Du Ký Diễn nghĩa. Nay mới biết ra Tây Du Ký của Khâu Xử Cơ và Tây Du Ký diễn nghĩa của Ngô Thừa Ân là hai bản khác nhau"[21/147,143,144]. Trong chi tiết của tác phẩm cũng có những biến đổi và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến không gian tồn tại của nhân vật. Chẳng hạn, trong "Đại Đường Tam Tạng Pháp Sư Thụ Kinh Thi Thoại" thì Tôn Ngộ Không chẳng dám ăn cắp nhân sâm, còn trong Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân thì Tôn Ngộ Không lại muốn bẻ trộm, nhưng sư phụ Đường Tam Tạng lại phê phán. Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Khánh cho rằng "Tác giả Tây Du Ký diễn nghĩa Ngô Thừa Ân là sĩ phu, xét duyệt nghiêm khắc hơn, cho nên ông thấy không thể nào để nhan nhãn cái chuyện ông hòa thượng xúi học trò ăn trộm, dù là ăn trộm trái nhân sâm trường sanh bất tử"[21/147,143,144]... Qua những quá trình như thế, rõ ràng tác phẩm có sự phức tạp hơn. Tuy nhiên, như nhận xét của nhà nghiến cứu Nguyễn Huy Khánh ở trên, Ngô Thừa Ân có chủ định riêng mình với tư cách là nhà văn trong sự- nghiệp sáng tạo, hư cấu, cho nên, nghiên cứu không gian nghệ thuật trong tác phẩm Tây Du Ký, chúng tôi hoàn toàn dựa theo văn bản của tác giả Ngô Thừa Ân, chứ không theo những bản khác và nghiên cứu không gian nghệ thuật trong Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, chúng tôi cũng hoàn toàn thống nhất với quan niệm của Giáo sư Lương Duy Thứ rằng trọng điểm về nhân vật đã thay đổi. Do vai trò của Tôn Ngộ Không nổi bật, "Vai trò của Đường Tăng dần dần lu mờ đi" [21/147,143,144], nên việc tìm hiểu không gian nghệ thuật cũng chiếu ứng theo tính cụ thể của nhân vật chính mà Ngô Thừa Ân đã có ý thức quan tâm hơn. Dĩ nhiên, các nhân vật đồng hành cũng sẽ được đề cập, nhưng có mức độ. Cũng do vậy, hiện tượng đi sâu hay không đi sâu vào từng nhân vật là điều cần sự chấp nhận của người đọc.
- Xem thêm -