Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

  • Số trang: 98 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT HOÀNG LAN PHƢƠNG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật hình sự Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Viễn HÀ NỘI - 2009 MỤC LỤC Trang Trang phụ bỡa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ Lí LUẬN CỦA KHỞI TỐ VỤ ÁN HèNH SỰ THEO 4 YấU CẦU CỦA NGƢỜI BỊ HẠI 1.1. KHỞI TỐ VỤ ÁN HèNH SỰ 4 1.1.1. Tầm quan trọng và ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ ỏn hỡnh sự 4 1.1.2. Khởi tố vụ ỏn hỡnh sự trong mỗi mụ hỡnh tố tụng hỡnh sự 8 Đặc điểm của khởi tố vụ ỏn hỡnh sự theo yờu cầu của người bị hại 14 1.2.1. Cơ sở của việc thiết lập chế định khởi tố vụ ỏn hỡnh sự theo yờu cầu của người bị hại 14 1.2.2. Đặc điểm của cụng tố, tư tố và vấn đề khởi tố theo yờu cầu của người bị hại 19 1.2.3. Chủ thể, phạm vi, hậu quả phỏp lý của khởi tố vụ ỏn hỡnh sự theo yờu cầu của người bị hại 22 1.2.4. Cỏc quan hệ phỏp luật trong quỏ trỡnh khởi tố vụ ỏn hỡnh sự theo yờu cầu của người bị hại 24 Chương 2: NỘI DUNG CHẾ ĐỊNH KHỞI TỐ VỤ ÁN HèNH SỰ THEO 29 1.2. YấU CẦU CỦA NGƢỜI BỊ HẠI 2.1. Yờu cầu của việc khởi tố 29 2.1.1. Những trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại 1 29 2.1.2. Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố 38 2.1.3. Hình thức, thời điểm yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 45 2.1.4. Hậu quả pháp lý của việc yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 47 2.2. Rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 49 2.2.1. Chủ thể có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 49 2.2.2. Thời điểm rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 49 2.2.3. Hậu quả pháp lý của việc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự 50 Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH 57 CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỊNH KHỞI TỐ VỤ ÁN HèNH SỰ THEO YấU CẦU CỦA NGƢỜI BỊ HẠI 3.1. Thực tiễn áp dụng chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại 57 3.1.1. Áp dụng quy định về chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án 57 3.1.2. Áp dụng quy định về cỏc trường hợp chỉ được khởi tố vụ ỏn theo yờu cầu của người bị hại 58 3.1.3. Áp dụng quy định về thời điểm người bị hại yờu cầu khởi tố vụ ỏn 59 3.1.4. Áp dụng những quy định của phỏp luật về việc người bị hại trỡnh bày lời buộc tội tại phiờn toà 60 3.1.5. Áp dụng quy định về chủ thể cú quyền rỳt yờu cầu khởi tố vụ ỏn 61 3.1.6. Một số vấn đề khỏc 62 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định khởi tố vụ ỏn hỡnh sự theo yờu cầu người bị hại 67 3.2.1. Hoàn thiện quy định về cỏc trường hợp khởi tố vụ ỏn theo yờu cầu của người bị hại 67 3.2.2. Hoàn thiện quy định về người đại diện hợp phỏp và quyền của họ 68 3.2. 2 3.2.3. Hoàn thiện quy định về quyền yờu cầu khởi tố và rỳt yờu cầu khởi tố vụ ỏn 71 3.2.4. Hướng dẫn về hỡnh thức thể hiện và nội dung của yờu cầu khởi tố vụ ỏn của người bị hại hoặc của người đại diện hợp phỏp của người bị hại 79 3.2.5. Hoàn thiện quy định về căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng tiếp tục tiến hành tố tụng và người bị hại được yờu cầu khởi tố lại vụ ỏn 80 3.2.6. Hoàn thiện quy định về quyền được trỡnh bày lời buộc tội tại phiờn toà của người bị hại và người đại diện hợp phỏp của người bị hại 82 3.2.7. Cỏc giải phỏp khỏc 87 KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 3 MỞ ĐẦU Pháp luật ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Để đảm bảo, duy trì trật tự xã hội, Nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để chống lại mọi hành vi vi phạm pháp luật nhất là tội phạm. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, con người luôn được xác định là vốn quý của xã hội. Đây là đối tượng hàng đầu được Nhà nước và pháp luật có trách nhiệm bảo vệ và tôn trọng. Bảo vệ con người là bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do và cả quyền lợi ích hợp pháp khác. Đó là những quyền đã được Hiến pháp quy định và được các đạo luật thể chế thành các quy định với các chế tài đặc trưng của các ngành luật khác nhau để bảo vệ các quyền đó. Trong đó, luật hình sự đã quy định cụ thể các tội xâm phạm lợi ích hợp pháp của con người trong phần tội phạm cụ thể. Và một trong những nguyên tắc của luật hình sự là: "Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật" (khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự 1999). Giải quyết các vụ án hình sự một cách khách quan, đúng pháp luật là sự thể hiện việc bảo vệ các quyền công dân đã được pháp luật ghi nhận. Tố tụng hình sự là hoạt động của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án trong việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự theo những quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Thông qua hoạt động tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết vụ án hình sự mà ở đó số phận pháp lý của một con người sẽ được định đoạt hoặc là tước bỏ ở họ một số quyền hoặc là bảo vệ quyền của họ. Mục đích của tố tụng hình sự là xét xử đúng người, đúng tội nhưng cũng không làm oan người vô tội, đồng thời qua đó nâng cao hiệu quả đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Khởi tố vụ án hình sự là một trong những giai đoạn của tố tụng hình sự, hơn nữa đây lại là giai đoạn đầu tiên, mở đầu cho quá trình giải quyết một vụ án hình sự. Giai đoạn này bắt đầu bằng việc phát hiện những nguồn thông tin về tội phạm và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định 4 khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Việc khởi tố vụ án hình sự kịp thời và có căn cứ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tiếp theo cũng như đảm bảo không tội phạm nào không bị xử lý. Ngược lại, việc khởi tố không đúng sẽ dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Tuy nhiên, tại Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định một số tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Điều này có nghĩa là khi có một trong các tội phạm xảy ra ngoài căn cứ là "sự việc có dấu hiệu tội phạm", cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nhận được yêu cầu của người bị hại mới được khởi tố vụ án, nếu không việc khởi tố này là trái pháp luật. Và nếu vụ việc đã được khởi tố theo đơn yêu cầu của người bị hại, trong quá trình giải quyết vụ án, nếu người bị hại rút đơn yêu cầu, vụ án phải được đình chỉ (trừ trường hợp rút đơn yêu cầu trái với ý muốn của người bị hại). Trong Bộ luật Tố tụng hình sự 1988, chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại lần đầu tiên được quy định đã thu hút được sự quan tâm của những người áp dụng pháp luật, các nhà nghiên cứu...Có nhiều bài viết về vấn đề này nhưng chủ yếu tập trung vào việc chỉ ra những điểm còn hạn chế, thiếu sót trong những quy định của pháp luật và những vướng mắc khi áp dụng trong thực tế mà chưa có sự nghiên cứu theo hệ thống. Sau đó, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 tiếp tục ghi nhận chế định này. Tuy nhiên, cho đến nay, sau một thời gian dài được quy định và áp dụng, những quy định của pháp luật về chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại vẫn chưa có sự đồng bộ nên đã gây không ít khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc nhận thức và áp dụng đối với những sự việc cụ thể. Với những lý do trên đây, tôi đã chọn đề tài "Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam" làm đề tài luận văn của mình. Qua quá trình nghiên cứu, tác giả mong muốn hiểu một cách sâu sắc và có hệ thống về các quy định trong chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại để từ đó có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề này, đồng thời đưa ra những đề xuất, kiến nghị góp phần làm sáng tỏ một số 5 vấn đề lý luận cũng như thực tiễn nhằm hoàn thiện các quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại. Để đạt được mục đích nói trên, luận văn cần nghiên cứu các vấn đề sau: - Khái niệm, ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và các đặc điểm của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại; - Nội dung của chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại theo luật tố tụng hình sự Việt Nam; - Thực trạng áp dụng các quy định của chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại; - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về chế định này để nâng cao hiệu quả áp dụng của chế định trong thực tiễn. Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,... Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Bố cục của luận văn gồm 3 chương, 6 mục. Chương 1: Cơ sở lý luận của khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại Chương 2: Nội dung chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là một vấn đề phức tạp cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, do khả năng và trình độ còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tác giả hy vọng sẽ nhận được những lời đóng góp, những ý kiến phê bình từ phía các thầy cô giáo và các bạn để bài luận văn đạt kết quả tốt hơn. 6 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƢỜI BỊ HẠI 1.1. KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1.1. Tầm quan trọng và ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những kết quả có ý nghĩa rất quan trọng, tạo cho đất nước những tiền đề bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới đặt ra nhiều nhiệm vụ về kinh tế, xã hội, trong đó có nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà trong đó các cơ quan tư pháp hình sự giữ vai trò rất quan trọng. Các cơ quan tư pháp hình sự, với tư cách là các cơ quan đứng trên tuyến đầu của cuộc đấu tranh chống tội phạm đã và đang trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ này. Mà một trong nhưng hoạt động của các cơ quan này là khởi tố các vụ án hình sự khi có dấu hiệu của tội phạm để mở đầu cho một quá trình tố tụng nhằm phát hiện và xử lý kịp thời tội phạm và người phạm tội, góp phần bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Trong khoa học luật tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự là một khái niệm được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trước hết, có thể hiểu đó là một chế định của luật tố tụng hình sự, tức là tập hợp những quy định về trình tự và thủ tục khởi tố vụ án hình sự. Thứ hai, khởi tố vụ án hình sự được hiểu là một hành vi tố tụng mở đầu cho giai đoạn điều tra. Thứ ba, khởi tố vụ án hình sự được hiểu là một giai đoạn tố tụng độc lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Cách hiểu thứ ba là cách hiểu thông thường và phổ biến hiện nay. Như vậy, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của hoạt động tố tụng hình sự, trong đó, các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có 7 dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự. Tố tụng hình sự là một quá trình thống nhất và nhất quán của nhiều giai đoạn độc lập. Giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng và là giai đoạn tố tụng độc lập bởi giai đoạn này có đầy đủ các dấu hiệu của một giai đoạn tố tụng với những mục tiêu và nhiệm vụ riêng mang đặc thù về chủ thể tố tụng, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng. Nếu như mục đích chung của tố tụng hình sự là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, thì mục đích cụ thể của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định tội phạm và phát hiện người phạm tội, củng cố các dữ kiện, xác định các dấu hiệu của tội phạm bảo đảm phản ứng mau lẹ của Nhà nước trước hành vi phạm tội, góp phần ngăn ngừa và xử lý kịp thời tội phạm và người phạm tội. Nhiệm vụ cụ thể của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự thể hiện ở việc ghi nhận những thông tin ban đầu về tội phạm được phát hiện do tin báo hoặc tố giác, kiểm tra xác minh nguồn tin đó để xác định những căn cứ cần thiết cho việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn này có nhiệm vụ làm rõ các tình tiết loại trừ tố tụng đối với vụ việc, phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm, giữ gìn bảo quản các dấu vết của vụ án theo những quy định của luật tố tụng hình sự. Có thể nói giai đoạn khởi tố vụ án hình sự tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ xác định người phạm tội và tội phạm ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý cũng có ý kiến cho rằng khởi tố vụ án hình sự là bước đầu của giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Ý kiến này không có căn cứ vì nếu được chấp nhận trong thực tiễn sẽ dẫn đến cách hiểu cho 8 rằng thời điểm bắt đầu của giai đoạn điều tra là thời điểm tiếp nhận tố giác và tin báo về tội phạm và điều này sẽ loại trừ việc cấm thực hiện các hành vi tố tụng điều tra trước khi khởi tố vụ án hình sự, và thời hạn điều tra sẽ không được tính từ ngày khởi tố vụ án mà tính từ ngày tiếp nhận tin báo về tội phạm. Tính chất quan trọng của mục đích và các nhiệm vụ cụ thể của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự còn được quy định bởi các ý nghĩa chính trị - xã hội và ý nghĩa pháp lý của nó. Về mặt chính trị - xã hội, khởi tố vụ án hình sự là biện pháp quan trọng nhằm ngăn chặn và phòng ngừa hành vi phạm tội, là công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Đồng thời cũng thể hiện sự phản ứng nhạy cảm và kịp thời của các cơ quan đấu tranh chống tội phạm nhằm xác định sự thật của vụ án và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có tội, bảo đảm thực hiện nguyên tắc đã phạm tội thì phải bị trừng trị. Việc khởi tố, điều tra và xét xử kịp thời các vụ án hình sự sẽ tạo ra trong công chúng niềm tin vào việc thực thi pháp luật. Tội phạm là mặt trái của xã hội, tình hình tội phạm là một hiện tượng tiêu cực nguy hiểm lớn nhất cho xã hội, bởi lẽ nó gây ra thiệt hại cho các quan hệ tồn tại trong xã hội, xâm phạm đến các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội. Hậu quả của nó là những thiệt hại rất lớn về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tác động xấu đến các hiện tượng xã hội khác, đến tiến trình phát triển xã hội nói chung. Vì vậy, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm luôn là một vấn đề bức xúc, đòi hỏi sự quan tâm cao độ của Đảng và Nhà nước các cấp, các ngành, các tổ chức cũng như mọi công dân trong xã hội, trong đó các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án giữ vai trò nòng cốt. Với tinh thần đó, khởi tố vụ án hình sự có một ý nghĩa quan trọng trong đấu tranh chống tội phạm. Nó chính thức công nhận sự tồn tại của một vụ án, khẳng định trên thực tế một sự kiện phạm tội đã xảy ra từ đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong việc xác định tội phạm và xử lý người phạm tội. 9 Việc giao cho nhiều cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án đã phát huy những mặt tích cực trong việc phát hiện, xử lý tội phạm nhanh chóng, kịp thời, không bỏ lọt tội phạm, tránh tình trạng tội phạm xảy ra mà không có cơ quan tiến hành tố tụng nào khởi tố. Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và kịp thời góp phần bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, quyền và lợi ích họp pháp của mọi công dân, đảm bảo cho mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền lợi chính đáng của công dân đều bị xử lý theo pháp luật. Khởi tố vụ án hình sự kịp thời và chính xác có ý nghĩa trong việc giáo dục mọi công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, góp phần đảm bảo sự tồn tại vững mạnh của Nhà nước, đem lại cuộc sống bình yên cho mọi công dân trong xã hội, làm cơ sở cho mọi công dân có thể cống hiến hết sức mình vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Ngược lại, nếu các vụ án hình sự không được khởi tố một cách kịp thời hay không bị khởi tố sẽ dẫn đến tình trạng tội phạm và người phạm tội không bị phát hiện và xử lý, hoặc dẫn đến việc chứng cứ bị tiêu huỷ, gây thiệt hại đến lợi ích của người bị hại và lợi ích chung của xã hội. Bên cạnh đó, việc khởi tố thiếu căn cứ pháp lý là hành vi vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng hình sự và cũng gây ra những thiệt hại không nhỏ cho công dân và trong xã hội. Bên cạnh việc quy định căn cứ để khởi tố vụ án hình sự là khi có dấu hiệu tội phạm, Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự. Đây là một biện pháp quan trọng nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích của người dân không bị tuỳ tiện xâm phạm. Việc không khởi tố vụ án hình sự khi có những căn cứ mà pháp luật quy định là không được khởi tố cũng sẽ tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân vào sự công bằng của pháp luật, đồng thời cũng tiết kiệm sức người, sức của cho Nhà nước vì nó đã không để cho các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, cơ quan thi hành án phải tiến hành tố tụng một cách lãng phí. 10 Việc khởi tố kịp thời các vụ án hình sự còn góp phần đấu tranh chống tội phạm "ẩn". Theo nhận xét của nhiều nhà khoa học pháp lý hình sự, tình trạng tội phạm "ẩn" vẫn còn là vấn đề nan giải với nhiều nguyên nhân khác nhau và ở các mức độ khác nhau. Vì vậy, việc khởi tố kịp thời các vụ án hình sự là yếu tố quan trọng làm giảm tội phạm "ẩn" trong tình hình hiện nay. Về ý nghĩa pháp lý, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Việc ra quyết định khởi tố vụ án sẽ làm phát sinh quyền hạn của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án khi thực hiện các hành vi tố tụng nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý nghiêm minh tội phạm và người phạm tội. Khi các cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự là lúc bắt đầu áp dụng các quy định của pháp luật hình sự. Và cũng chính từ thời điểm áp dụng các quy định của luật hình sự thì cũng là lúc các quan hệ pháp luật hình sự được thực hiện. Giai đoạn đầu tiên để thực hiện các quan hệ pháp luật hình sự này chính là việc khởi tố vụ án hình sự. 1.1.2. Khởi tố vụ án hình sự trong mỗi mô hình tố tụng hình sự Tố tụng hình sự là trình tự hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và mối quan hệ giữa họ trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, từ khi khởi tố vụ án đến khi xét xử và thi hành án đối với người có hành vi phạm tội. Trong lịch sử tư pháp hình sự đã tồn tại nhiều cách thức khác nhau khi tiến hành giải quyết một vụ án hình sự, đó là mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn. Ngoài ra còn có mô hình tố tụng pha trộn giữa hai loại trên. Tuỳ thuộc vào mỗi mô hình mà pháp luật quy định về vai trò của khởi tố vụ án hình sự khác nhau. Mô hình tố tụng tranh tụng xuất hiện từ thời cổ đại, được áp dụng tại Nhà nước Hy Lạp cổ đại, sau được đưa vào Nhà nước La Mã với tên gọi là thủ tục "hỏi đáp liên tục" và phát triển phổ biến ở các nước theo truyền thống pháp luật án lệ Ănglơ-xắc-xông nhất là khoảng từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII. Tố tụng tranh tụng cho rằng "sự thật sẽ được mở ra qua sự tranh luận giữa 11 những người có dữ liệu chính xác" [46, tr. 82]. Mô hình tố tụng này quan niệm rằng: tố tụng là cuộc tranh đấu tại Toà án giữa Nhà nước (thông qua đại diện) và công dân bị tình nghi thực hiện tội phạm, là cuộc tranh đấu thì hai bên đều có các quyền và nghĩa vụ pháp lý như nhau trong quá trình chứng minh, ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình tranh tụng đòi hỏi phải rất chính xác. Có người cho rằng tố tụng tranh tụng coi trọng luật tố tụng hơn luật nội dung. Về nguyên tắc hai bên tranh tụng có khả năng như nhau không chỉ tại phiên toà mà cả trong các giai đoạn trước phiên toà, mặc dù các tư tưởng này thực chất chỉ tồn tại trên giấy hoặc chỉ nằm trong đầu óc của các luật sư xa rời thực tế mà thôi [46, tr. 125]. Khi tham gia tố tụng, các bên không bắt buộc phải khách quan trong khi làm nhiệm vụ. Công việc của họ là thu thập chứng cứ để buộc tội hoặc bào chữa, phục vụ cho cuộc tranh luận ở Toà án và họ có trách nhiệm chứng minh tính có lỗi (buộc tội) hoặc tính không có lỗi, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (bào chữa). Trong quá trình xét xử, Toà án đóng vai trò người trọng tài quan sát việc tranh tụng của các bên và quyết định bên nào sẽ chiến thắng. Việc đánh giá chứng cứ phụ thuộc vào niềm tin nội tâm của Thẩm phán khi Thẩm phán dựa vào tiêu chí hợp lệ của chứng cứ, "khuôn mẫu chứng cứ". Để đảm bảo sự bình đẳng trong tranh tụng, người ta đưa ra hai điều kiện: Một là, sử dụng việc kiểm tra chéo, đối chất để xác định tính chính xác của chứng cứ. Bên buộc tội và bên bào chữa tập trung chỉ ra cái mà nhân chứng biết thực, chứ không phải là cái mà họ nghĩ rằng họ biết. Hai là, trách nhiệm được chia sẻ cho các bên buộc tội và bào chữa. Tòa án đóng vai trò "trọng tài" đảm bảo cho các bên có đầy đủ các điều kiện như nhau khi tham gia tranh tụng. Với quan niệm tố tụng hình sự chỉ gồm có giai đoạn xét xử vụ án tại phiên tòa [16, tr. 100], các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử chỉ thực sự bắt đầu tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Tại đây, với sự tham gia của các chủ thể bên buộc tội (Công tố viên, người bị hại), bên bào chữa (người bào chữa, bị cáo) và các chủ thể khác dưới sự điều khiển của Tòa án (Thẩm phán) và dưới sự giám sát của Hội đồng xét xử, ba 12 chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử đều được thực hiện công khai. Còn giai đoạn trước khi mở phiên tòa xét xử được xem là giai đoạn tiền tố tụng, do các bên tiến hành một số hoạt động để chuẩn bị cho cuộc tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, có một điều thú vị là trong kiểu tố tụng này chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật được giao cho Tòa án. Với tư cách là trung tâm của cơ quan tư pháp, của hoạt động tố tụng, Tòa án có quyền và có trách nhiệm đảm bảo cho các bên nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật. Điều này khác với những nước có tổ chức Viện kiểm sát như Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam…. Mặc dù có những ưu điểm, song kiểu Tố tụng mang tính "đối trọng" này cũng bị phê phán là xa rời thực tế, "việc con người bị phán xét như thế nào dường như quan trọng hơn việc xem họ đã làm gì trên thực tế" [46, tr. 126]. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hình thức tố tụng tranh tụng có những ưu điểm và hạn chế nhất định: ưu điểm lớn nhất của hình thức tố tụng tranh tụng là sự độc lập rất lớn của Toà án trong hoạt động tố tụng; là những đảm bảo quan trọng cho việc bảo vệ quyền công dân, hạn chế tố tụng; tạo điều kiện để Toà án giám sát đối với các hoạt động của Cơ quan điều tra (bắt người, khám xét người, đồ vật; nghe các cuộc đàm thoại...); đảm bảo tính công khai, minh bạch của quá trình tố tụng; là quyền xét lại các bản án đã được tuyên xử và nhiều nguyên tắc khác của tố tụng hình sự. Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, cơ chế vận hành của tố tụng tranh tụng đã hạn chế đến mức tối đa các trường hợp kết án oan, sai: là biểu hiện của một nền văn hoá pháp lý cao ở một quốc gia, biểu hiện đó không chỉ ở thái độ tôn trọng pháp luật, cách xử sự có chừng mực trong khuôn khổ pháp luật của các cơ quan và người tiến hành tố tụng mà còn ở việc người dân rất am hiểu về pháp luật, đặc biệt là pháp luật tố tụng hình sự - được coi là có nhiều đụng chạm đến quyền con người. Tất cả những nguyên tắc và nội dung của tố tụng tranh tụng đó đảm bảo tốt nhất cho việc đạt được chân lý khách quan. Từ nhận xét trên có thể nhận thấy, tố tụng tranh tụng sẽ phù hợp và phát huy hiệu quả trong điều kiện Nhà nước dân chủ và xã hội dân sự phát triển. 13 Bên cạnh đó, hình thức tố tụng tranh tụng cũng có không ít những hạn chế. Việc tăng cường một cách đáng kể vai trò của bên bào chữa, tất yếu sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ vai trò của bên buộc tội trong điều kiện trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của bên buộc tội còn nhiều hạn chế; là vai trò thụ động của Toà án trong việc đòi hỏi và ngay cả trong việc nghiên cứu chứng cứ dẫn đến việc thay chân lý vật chất bằng chân lý hình thức "người đúng là người phát biểu tốt nhất ở Toà án". Ngoài ra, tố tụng tranh tụng dễ bỏ lọt tội phạm; là hình thức tố tụng tốn kém so với các hình thức tố tụng khác, kể cả tiền bạc và thời gian; bất lợi cho người nghèo do phải bỏ chi phí để thuê luật sư với giá đắt đỏ... Hạn chế trên dẫn đến hậu quả là nền công lý của xã hội rất khó được thiết lập và cơ quan tư pháp không còn được coi là chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân. Mô hình tố tụng thẩm vấn xuất hiện vào thời kì chiếm hữu nô lệ, trong các Tòa án tôn giáo và dần dần thâm nhập vào Tòa án thường. Mô hình tố tụng này phát triển mạnh mẽ và phổ biến vào thời kì quân chủ, "nó phản ánh chế độ chính trị độc đoán, tàn bạo của giai cấp phong kiến và phối hợp với chế độ Trung ương tập quyền của nền quân chủ chuyên chế" [52, tr. 11] và cũng được chính quyền của giới quý tộc sử dụng rộng rãi. Hình thức tố tụng này ra đời xuất phát từ những nguyên nhân: thứ nhất, do yêu cầu tăng cường quyền lực công (của Nhà nước hoặc của tôn giáo); thứ hai, do tình hình tội phạm tăng lên rất nhanh mà những cá nhân riêng biệt không thể khắc phục dược; thứ ba, do thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm của quyền lực đối với các quyền của con người và các đảm bảo tự do cho cá nhân. Đặc điểm của tố tụng xét hỏi được tiến hành bằng hình thức viết, bí mật, không trực diện; các chức năng tố tụng không được phân định một cách rõ ràng, sự quan tâm đến các chức năng được thể hiện ở các mức độ rất khác nhau. Đặc biệt là chủ thể thực hiện chức năng tố tụng chưa được phân định cụ thể mà hầu như tập trung vào Tòa án. Thẩm phán không chỉ thực hiện chức năng xét xử mà còn thực hiện cả chức năng điều tra, chức năng buộc tội và 14 một phần nào đó của chức năng bào chữa. Bị cáo bị hạn chế khả năng bào chữa, họ không được coi là chủ thể của quá trình tố tụng mà là đối tượng truy cứu của tố tụng. Nguyên tắc cơ bản của hình thức tố tụng này là "suy đoán có tội" đối với người bị tình nghi, hạn chế đến mức tối đa việc khiếu nại đối với các bản án đã được tuyên; nguyên tắc sử dụng việc thừa nhận lỗi của bị can, bị cáo là chứng cứ quyết định. Hệ thống chứng cứ đặc trưng của hình thức tố tụng này là tính hợp lệ của chứng cứ, khi đánh giá chúng với những đòi hỏi hết sức khắt khe, nhưng nhiều quy định về chứng cứ lại hết sức trừu tượng. Chẳng hạn lời nhận tội của bị cáo được coi là "chứng cứ vua" hay "nữ hoàng" của mọi loại chứng cứ; lời khai của người giàu đáng tin cậy hơn lời khai của người nghèo; lời khai của giới học giả, thầy tu bao giờ cũng có giá trị hơn lời khai của dân thường hoặc là tình tiết của vụ án chỉ được coi là chứng cứ khi tình tiết đó được hai người trở lên biết… Pháp luật còn cho phép dùng nhục hình để thu thập chứng cứ, thậm chí việc dùng nhục hình đôi khi còn được khuyến khích và được coi là cách thu thập chứng cứ quan trọng nhất, đặc biệt là "chứng cứ vua". Cùng với sự phát triển của lịch sử, hình thức tố tụng thẩm vấn có những thay đổi: huỷ bỏ việc tra tấn, nhục hình, nhưng vẫn duy trì hệ thống các chứng cứ hình thức; áp dụng điều tra sơ bộ, quy định chặt chẽ thủ tục điều tra và xét xử; thừa nhận một số quyền cá nhân. Nguyên tắc suy đoán có tội bị bãi bỏ, nhưng chưa áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội. Trách nhiệm chứng minh thuộc về bên khẳng định, chứ không thuộc về bên phủ định. Chức năng xét xử đã có nhiều biểu hiện độc lập hơn so với chức năng buộc tội. Quyền của bên bị buộc tội được quan tâm hơn; chức năng bào chữa ngày càng trở nên quan trọng và điều này cũng có nghĩa là chức năng buộc tội ngày càng thu hẹp lại. Mặc dù có những thay đổi nhất định, song vẫn không phân chia các chức năng tố tụng theo thực chất, Thẩm phán vẫn giữ vai trò rất lớn, là trung tâm của quá trình thu thập dữ kiện để chứng minh vụ án. 15 Phiên toà trong tố tụng thẩm vấn không phải là sự cạnh tranh giữa hai bên đối địch nhau mà là sự tiếp tục điều tra. Các bên phải cung cấp các chứng cứ thích hợp cho Toà án. Các Thẩm phán sẽ gọi và kiểm tra một cách tích cực các nhân chứng và chứng cứ của vụ án. Sở dĩ như vậy là vì, nghĩa vụ chứng minh thuộc về Toà án. Trong hình thức tố tụng thẩm vấn, sự thật có thể và phải được tìm ra trong quá trình thẩm vấn, điều tra. Vì rằng các bên có thể có ý định che dấu sự thật nên Nhà nước phải tham gia sớm và liên tục vào việc thẩm vấn và điều tra. Trong mô hình tố tụng này, trách nhiệm chứng minh được giao cho các cơ quan và người tiến hành tố tụng. Điều này giải phóng tất cả các chủ thể khác khỏi nghĩa vụ chứng minh, họ chỉ có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ mà họ có. Điều này một mặt đảm bảo khả năng kiểm soát tình hình tội phạm từ phía Nhà nước, mặt khác dễ làm tổn thương đến lợi ích cá nhân, nhất là người bị hại và những người thân thích của họ. Việc giao toàn bộ trách nhiệm chứng minh cho các cơ quan và người tiến hành tố tụng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các hoạt động tố tụng, nhưng cũng dễ ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng và công khai của tố tụng. Qua nghiên cứu cho thấy, các nước theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa; các nước xã hội chủ nghĩa cũng bị ảnh hưởng của hình thức tố tụng này. Tuy nhiên, tuỳ từng quốc gia có cách vận dụng khác nhau. Trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, những quy định của pháp luật tố tụng trong Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long… và đến nay là Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 đều phản ánh hình thức tố tụng thẩm vấn. Như vậy, giữa hai mô hình tố tụng trên có những điểm tương đồng, đó là: Về mục đích, cả hai loại hình tố tụng đều nhằm tìm ra sự thật của vụ án. Về phương pháp tiến hành, cả hai loại hình đều có những bước (giai đoạn) tiến hành theo một trình tự nhất định. Về người tiến hành tố tụng, đều là những nhân viên nhà nước được pháp luật giao nhiệm vụ giải quyết vụ án. Cả hai loại hình tố tụng đều đòi hỏi về một thủ tục tố tụng dân chủ, công khai, 16 công bằng. Và cuối cùng, ở cả hai loại hình tố tụng này, việc xét xử thường được tiến hành theo hai cấp với các hội đồng xét xử vô tư, khách quan. Bên cạnh đó, giữa hai mô hình tố tụng cũng có những điểm khác biệt và đó chính là yếu tố tạo ra sự khác biệt về vai trò, ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. Tố tụng tranh tụng chú trọng vào giai đoạn xét xử với các quy tắc nghiêm ngặt về chứng cứ. Thẩm phán đóng vai trò của người trọng tài, trung lập chủ yếu là điều hành hoạt động của phiên toà, công tố viên và luật sư cùng bị cáo trình bày các tình tiết buộc tội và gỡ tội để sau đó Toà quyết định về vụ án. Trong tố tụng tranh tụng, quy trình tố tụng chỉ chính thức bắt đầu từ khi mở phiên toà xét xử, còn các hoạt động điều tra trước đó được coi là bí mật. Trong khi đó, tố tụng thẩm vấn nhấn mạnh vào giai đoạn điều tra, việc điều tra cẩn thận sẽ đảm bảo xác định chính xác tội phạm. Thẩm phán đóng vai trò một thẩm tra viên đồng thời có quyền quyết định về vụ án. Trong tố tụng thẩm vấn, quy trình tố tụng bắt đầu từ khi khởi tố vụ án, các hoạt động điều tra hợp lệ đều mang lại những giá trị chứng minh. Như vậy, có thể thấy vai trò của khởi tố vụ án hình sự trong mô hình tố tụng thẩm vấn được coi trọng hơn và có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết vụ án hình sự. Tố tụng hình sự Việt Nam về cơ bản thể hiện nội dung của tố tụng thẩm vấn, mặc dù đã có những yếu tố của mô hình tố tụng tranh tụng, do đó, khỏi tố vụ án hình sự, giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng, đóng một vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm có hiệu quả. 1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƢỜI BỊ HẠI 1.2.1. Cơ sở của việc thiết lập chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của ngƣời bị hại Con người là mục tiêu giải phóng của sự nghiệp cách mạng. Vấn đề quyền con người luôn là trung tâm của mọi cuộc cách mạng và tiến bộ xã hội. 17 Với quan điểm duy vật về lịch sử, triết học Mác - Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mac - Lenin nói chung đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về quyền con người, khẳng định mối quan hệ gắn bó biện chứng giữa các quyền tự do cơ bản với các điều kiện và biện pháp đảm bảo thực hiện quyền con người trong thực tế. Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là công cụ sắc bén được Nhà nước sử dụng để quản lý và duy trì trật tự xã hội. Chính vì vậy, mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, có như vậy, mới giữ vững được kỷ cương phép nước, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong xã hội đó, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng. Chính vì vậy, họ luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Họ không chỉ được bảo đảm các quyền tự do dân chủ mà còn "có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm" (Điều 71 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992). Còn riêng với người bị hại, họ là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội gây ra, quyền lợi của họ bị xâm hại, vì vậy Nhà nước đã quy định cho họ có một quyền đặc biệt, đó là quyền được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Quy định này nhằm mục đích tạo điều kiện cho người bị hại được cân nhắc, tính toán việc khởi tố vụ án hình sự có gây bất lợi cho họ hay không? Tuy nhiên, những trường hợp người bị hại được yêu cầu khởi tố cũng chỉ nằm trong giới hạn mà Nhà nước và xã hội chấp nhận nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được xử lý kịp thời, việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Trong lịch sử lập pháp nước ta, trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự được ban hành chưa từng có một chế định cụ thể nào quy định về quyền yêu cầu khởi tố của người bị hại. Nếu có quy định liên quan thì có chăng chỉ là để 18 bảo vệ các quan hệ gia đình chứ không áp dụng đối với các quan hệ khác trong xã hội. Ví dụ, tại Bộ luật Hồng Đức, chương Đấu tụng quy định: trong một số tội phạm như lăng mạ ông bà, cha mẹ chồng, chồng đánh vợ, vợ cả đánh vợ lẽ... thì người bị hại phải "cáo quan" (thông báo, yêu cầu hoặc nhờ cơ quan nhà nước) thì kẻ phạm tội mới "bị quan bắt tội". Hay trong Bộ luật Tố tụng hình sự 1972 của nguỵ quyền Sài Gòn ghi nhận chế định "chỉ phát động khi có đơn khiếu tố của nạn nhân" trong một số tội phạm và trong trường hợp này "công tố sẽ tiêu diệt khi có sự bại nại của dân sự nguyên cáo" [13, tr. 50]. Nhưng rõ ràng nó cũng chưa được quy định một cách cụ thể và có hệ thống. Sau đó, nhiều lần nhà nước ta ban hành các văn bản về tố tụng hình sự nhưng người bị hại vẫn không được pháp luật quy định có quyền yêu cầu khởi tố vụ án mà thậm chí trong nhiều trường hợp người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt một cách có tình, có lý cho người phạm tội cũng không được Toà án chấp nhận. Quan niệm phổ biến lúc đó không chấp nhận việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại bởi: Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội, trong đó với tư cách là người bảo vệ lợi ích của toàn xã hội, Nhà nước có quyền khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử người phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra. Bên cạnh đó, các nhà làm luật cũng cho rằng, những vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu người bị hại là các vụ án tư tố, quyền yêu cầu của người bị hại là quyền tư tố bởi đó là việc nhân danh lợi ích cá nhân, riêng tư để tố giác hành vi sai phạm, tội phạm nào đó và tư tố là một hình thức mà pháp luật dành cho những người bị hại hoặc người thân thích của họ sử dụng để khởi kiện, khởi tố chống lại người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội, xâm phạm các quyền và lợi ích cá nhân. Tuy nhiên, khi nghiên cứu, tham khảo pháp luật của một số nước đặc biệt là pháp luật tố tụng của Liên Xô trước đây, các nhà lập pháp cũng nhận 19
- Xem thêm -