Khóa luận tốt nghiệp Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty xây dựng Minh Nghĩa

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 157 |
  • Lượt tải: 1
tailieuonline

Đã đăng 27435 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Những vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị chủ sở hữu. Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có ba yếu tố là: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hóa lao vụ, dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động (nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm...) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện. Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản ngắn hạn (TSNH). Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn thường xuyên chiếm tỷ trọng 25% – 50% tổng tài sản của doanh nghiệp. Do vây, việc quản lý tài sản ngắn hạn có vai trò quan trọng trong hoạt động của Công ty. Ở Việt Nam hiện nay, theo hệ thống chuẩn mực kế toán, chuẩn mực số 21 về “trình bày báo cáo tài chính”, tài sản ngắn hạn (hay TSLĐ) là những tài sản thỏa mãn một trong các điều kiện sau: Được dự tính để bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp; được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 1 tháng kể từ ngày kết thúc niên hộ kế toán; là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào… Như vậy, TSNH hay còn gọi là tài sản lưu động được hiểu là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, là biểu hiện bằng tiền giá trị những tài sản thuộc quyền sở hữ của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. TSNH của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thức tiền tệ, các khoản nợ phải thu ngắn hạn và dự trữ tồn kho. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì giá trị tài sản ngắn hạn thường chiếm tỉ trọng lớn. Do vậy việc quản lí và sử dụng hợp lí tài sản ngắn hạn là vô cùng quan trọng trong việc hoàn thành các nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất doanh nghiệp cần phân bổ cụ thể rõ ràng số lượng, giá trị mỗi tài sản ngắn hạn như thế nào cho hợp lí vừa để tiết kiệm cũng như đạt hiệu quả sử dụng cao. 1 Đặc điểm của tài sản ngắn hạn là vận động không ngừng, luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu của quá trình kinh doanh và giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị hàng hóa khi kết thúc một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp và được bù đắp lại khi doanh nghiệp thu được tiền bán hàng hóa, dịch vụ. Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tài sản ngắn hạn được phân bổ đều ở tất cả các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra một cách liên tục tránh lãng phí và không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên nó dễ dàng đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn còn là một bộ phận của vốn sản xuất nên luân chuyển không ngừng trong một giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh. Tài sản ngắn hạn theo một vòng tuần hoàn từ hình thái này sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Toàn bộ giá trị tài sản ngắn hạn được thu hồi sau khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh. 1.1.2. Phân loại tài sản ngắn hạn Việc quản lý và sử dụng TSNH muốn tiến hành một cách khoa học và hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý phải nắm được thành phần và kết cấu của TSNH, từ đó có các biện pháp điều chỉnh và nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu của tài sản ngắn hạn khác nhau. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản có tính thanh khoản khác. Người ta sử dụng các tiêu thức khác nhau để phân loại TSNH tùy thuộc vào mục đích của nhà quản lý. Có hai tiêu thức phân loại chủ yếu thường được sử dụng: phân loại theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn và phân loại theo khoản mục trên bảng cân đối kế toán. 1.1.2.1. Phân loại tài sản ngắn hạn theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản ngắn hạn sản xuất và tài sản ngắn hạn lưu thông luôn chuyển hóa lẫn nhau, vận động không ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục. Để hình thành nên tài sản ngắn hạn sản xuất và tài sản ngắn hạn lưu thông doanh nghiệp cần phải có một số vốn tương ứng để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản ấy được gọi là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Như vậy, căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, tài sản ngắn hạn được chia thành TSNH dự trữ, TSNH sản xuất và TSNH lưu thông. 2 Thang Long University Library Tài sản ngắn hạn dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán. Tài sản ngắn hạn sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất… Tài sản ngắn hạn lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tai trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu của khách hàng. Cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một cách cao nhất. 1.1.2.2. Phân loại tài sản ngắn hạn theo khoản mục trên bảng cân đối kế toán Trong hoạt động sản xuất kinh doanh để quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn có hiệu quả thì cần phải phân loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp theo các tiêu chí khác nhau Tiền và các khoản tương đương tiền bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, tiền trong thẻ tín dụng và trong tài khoản ATM, tiền còn dưới dạng séc các loại. Tiền là một loại tài sản có tính thanh khoản cao. Loại tài sản này dễ chuyển đổi thành các tài sản khác. Bởi vậy, nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán. Đầu tư tài chính ngắn hạn: là các khoản đầu tư của doanh nghiệp ra bên ngoài được thực hiện dưới hình thức cho vay, cho thuê, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu...) có thời hạn thu hồi vốn không quá một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh. Trong đầu tư ngắn hạn, việc đầu tư vào các chứng khoán có tính lỏng cao là hết sức quan trọng. Các chứng khoán này giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt. Vì nếu số dư tiền mặt lớn, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng thành tiền một cách dễ dàng, ít tốn kém. Trong quản lý tài chính, các chứng khoán có tính lỏng cao được sử dụng để duy trì tiền mặt ở mức mong muốn. Các khoản phải thu: đó là một phần của tài sản ngắn hạn có tầm quan trọng đối với doanh nghiệp. Hoạt động mua bán chịu giữa các bên phát sinh các khoản tín dụng thương mại. Các khoản phải thu gồm các khoản phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản thế chấp, cầm cố ký quỹ, ký cược... Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lý không cân đối giữa các khoản thu thì doanh nghiệp sẽ 3 gặp phải những khó khăn dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán. Vì vậy, việc tính lập các khoản dự phòng là cần thiết, nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường và tương đối ổn định. Khoản chi dự phòng này là một bộ phận trong khoản phải thu và là một phần tài sản lưu động của doanh nghiệp. Hàng tồn kho: có ba loại gồm nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang và thành phẩm. Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ. Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn thậm chí nếu sản phẩm khó bảo quản có thể bị hư hỏng, ngược lại nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, các khâu tiếp theo sẽ không thể tiếp tục được nữa đồng thời với việc không hoàn thành được kế hoạch sản xuất. Tồn kho trong quá trình sản xuất là các nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây chuyền sản xuất. Thông thường quá trình sản xuất của các doanh nghiệp được chia thành nhiều công đoạn, giữa các công đoạn này bao giờ cũng tồn tại những bán thành phẩm. Đây là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục. Nếu dây chuyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn thì tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn. Khi tiến hành sản xuất xong hầu hết các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụ hết sản phẩm. Thứ nhất, do có “độ trễ” nhất định giữa các khâu sản xuất và tiêu dùng, thứ hai, phải đảm bảo đủ lô hàng khi giao cho khách hàng. Những doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ và có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì dự trữ, tồn kho sản phẩm sẽ lớn. Do đó để đảm bảo cho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn và tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà mức dự trữ an toàn khác nhau. Tài sản ngắn hạn khác Đây là những bộ phận tài sản lưu động của doanh nghiệp không thuộc các nhóm trên, bao gồm: tạm ứng, các khoản chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý, các khoản cầm cố, ký quỹ, ký cược ngắn hạn... Phân loại tài sản ngắn hạn theo khoản mục trên bảng cân đối kế toán cho phép doanh nghiệp xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. 4 Thang Long University Library 1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Thực tiễn nhiều năm trở lại đây cho thấy tài sản ngắn hạn ở một số doanh nghiệp được sử dụng còn tùy tiện, kém hiệu quả. Do đó, việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn hiện nay luôn là yêu cầu mang tính cấp thiết đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. 1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Hiệu quả là một thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể đó bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định. Như vậy, hiệu quả phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu hành động trong quan hệ với chi phí bỏ ra và hiệu quả được xem xét trong bối cảnh hay điều kiện nhất định, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu. Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường cạnh tranh như hiện nay đều phải quan tâm tới hiệu quả kinh tế. Đó là cơ sở để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Hiệu quả kinh tế được hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu xác định trong quá trình sản xuất kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu…, các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều cố gắng và có những chiến lược, sách lược hợp lý từ sản xuất cho đến khi sản phẩm được đến tay người tiêu dùng. Và vấn đề chung mà các doanh nghiệp đều phải quan tâm chú trọng đến là hiệu quả sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp. Với mỗi doanh nghiệp có một sự cân đối riêng về tài sản riêng, mỗi loại tài sản cũng phải khác nhau, nếu như các doanh nghiệp về lĩnh vực chế biến hay công nghiệp nặng thì tài sản cố định chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng giá trị tài sản, ngược lại với các doanh nghiệp lĩnh vực thương mại, sản xuất thì tài sản ngắn hạn lại chiếm đa số. Đối với các doanh nghiệp thương mại, sản xuất thì tài sản ngắn hạn đóng vai trò hết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm sao sử dụng các loại tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả. Hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thì hiệu quả kinh tế càng cao. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh 5 nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và mục tiêu tăng trưởng với chi phí tối thiểu trong một khoảng thời gian nhất định. 1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một lượng tài sản nhất định và nguồn tài trợ tương ứng, không có tài sản sẽ không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Song việc sử dụng tài sản như thế nào cho hiệu quả cao mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp. Với ý nghĩa đó, việc quản lý, sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và TSNH nói riêng là một nội dung rất quan trọng của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Quan điểm về tính hiệu quả của việc sử dụng TSNH phải được hiểu trên hai khía cạnh: Một là, với số tài sản hiện có có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hai là, đầu tư thêm tài sản một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh thu tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng tài sản. Hai khía cạnh này chính là mục tiêu cần đạt được trong công tác tổ chức quản lý và sử dụng tài sản nói chung và TSNH nói riêng. Để đạt được lợi ích kinh doanh cao, đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả từng đồng TSNH nhằm làm cho TSNH được thu hồi sau mỗi chu kỳ sản xuất. Việc tăng tốc độ luân chuyển TSNH cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn, qua đó vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt được số TSNH cần thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hóa bằng hoặc lớn hơn trước. Nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản phẩm. Hơn nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận và lợi ích xã hội chung nhưng bên cạnh đó vấn đề quan trọng đặt ra tối thiểu cho các doanh nghiệp là cần phải bảo toàn TSNH. Do đặc điểm TSNH lưu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và hình thái TSNH thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn TSNH chỉ xét trên mặt giá trị. Bảo toàn TSNH thực chất là đảm bảo số vốn cuối kỳ được đủ mua một lượng vật tư, hàng hóa tương đương với đầu kỳ khi giá cả hàng hóa tăng lên, thể hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và TSNH định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH còn giúp cho doanh nghiệp luôn có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kỹ thuật được cải tiến. Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghiệp hiện đại sẽ tạo ra khả năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sức 6 Thang Long University Library cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường. Đặc biệt, khi khai thác được các tài sản, sử dụng tốt TSNH, nhất là việc sử dụng tiết kiệm hiệu quả TSNH trong hoạt động sản xuất kinh doanh để giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như việc giảm chi phí về lãi vay. Từ những lý do trên cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng TSNH trong các doanh nghiệp. Đó là một trong những nhân tố quyết định cho sự thành công của một doanh nghiệp, xa hơn nữa là sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. 1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều mặt tác động khác nhau.Vì vậy, khi phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta cần xem xét trên nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. 1.2.3.1. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, cho nên việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản. Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau: Hệ số thanh toán hiện hành: là năng lực tài chính mà doanh nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ cho doanh nghiệp vay hoặc nợ. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Công thức tính hệ số thanh toán hiện hành như sau: Hệ số thanh toán hiện hành cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Hệ số này bằng 1 cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn đang ở mức an toàn. Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 cho thấy rằng doanh nghiệp đang mất khả năng thanh toán ngắn hạn. Nếu hệ số này lớn hơn 1 cho thấy rằng doanh nghiệp không những có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà vẫn còn tài sản ngắn hạn để phục vụ cho hoạt động sản xuất. Hệ số thanh toán nhanh: là khả năng doanh nghiệp dùng tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền không tính đến hàng tồn kho để trả nợ khi đến hạn. Công thức như sau: Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn không bao gồm kho. Cũng như chỉ tiêu hệ số thanh toán hiện hành, độ lớn hay nhỏ của chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể để 7 kết luận là có tích cực hay không tích cực. Tuy nhiên, nếu hệ số này quá nhỏ, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán tức thời: là khả năng doanh nghiệp dùng tiền và các khoản tương đương tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn. Công thức như sau: Hệ số thanh toán tức thời cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tiền và các khoản tương đương tiền. Hệ số thanh toán tức thời bằng 1 cho thấy mức độ an toàn khi thanh toán các khoản nợ đến hạn được đảm bảo. Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp đang mất khả năng thanh toán. 1.2.3.2. Các chỉ tiêu hoạt động Các chỉ tiêu hoạt động là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi. Các chỉ tiêu hoạt động đôi khi còn gọi là các chỉ tiêu hiệu quả hoặc các chỉ tiêu luân chuyển. Do đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau: Hiệu suất sử dụng TSNH (vòng quay TSNH) được tính bằng công thức: Hệ số này cho biết mỗi đơn vị TSNH trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Hệ số này đánh giá mức độ sử dụng TSNH trên mối quan hệ so sánh giữa mức sản xuất trong kỳ (tổng doanh thu thuần) với số tài sản ngắn hạn bỏ ra trong kỳ. Hệ số này càng cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn được luân chuyển nhanh hơn, đồng nghĩa với việc sử dụng TSNH của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả. Vòng quay hàng tồn kho: là tiêu chuẩn đánh giá xem doanh nghiệp sử dụng hàng tồn kho như thế nào và ra sao, được tính bằng công thức: Các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất luôn phải tính đến mức dự trữ bởi doanh nghiệp không thể nào đến lúc sản xuất mới mua nguyên vật liệu. Để tránh trường hợp bị ứ đọng thì doanh nghiệp phải có trước một lượng vật tư hàng hóa vừa phải bởi nếu quá nhiều doanh nghiệp sẽ mất khoản chi phí để bảo quản vật liệu. Nếu lượng vật tư quá ít không đủ cho sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng tắc nghẽn ở các khâu tiếp theo. Như vậy, chỉ tiêu này rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó quyết định thời điểm đặt 8 Thang Long University Library hàng cũng như mức dự trữ an toàn cho doanh nghiệp. Vòng quay càng cao thể hiện khả năng sử dụng TSNH cao. Hệ số này phản ánh số lần hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số này cao nghĩa là hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ số này quá cao cũng không tốt vì như vậy nghĩa là lượng dự trữ hàng tồn kho không nhiều, có thể làm gián đoạn sản xuất, không đáp ứng kịp khi có nhu cầu thị trường tăng đột ngột. Chu kỳ lƣu kho: cho biết số ngày trung bình của một vòng quay kho hay số này hàng hóa được lưu tại kho. Hệ số này càng nhỏ, số vòng quay hàng tồn kho càng lớn, việc kinh doanh của doanh nghiệp càng hiệu quả. Thời gian lưu kho trung bình ngắn thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt vì doanh nghiệp chỉ cần đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao. Nhưng ngược lại, nếu hệ số này cao doanh nghiệp sẽ tốn nhiều chi phí để đầu tư vào hàng tồn kho, nó sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến doanh thu của doanh nghiệp. Vòng quay khoản phải thu: phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt đồng thời cũng phản ánh lượng tiền doanh thu mà khách hàng còn đang chiếm dụng của doanh nghiệp. Vòng quay khoản phải thu càng lớn minh chứng rằng tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao. Điều này giúp doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt. Ngược lại, nếu hệ số này thấp thì số tiền doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt giảm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giảm. Thời gian thu tiền: phản ánh số ngày bình quân để doanh nghiệp thu hồi được các khoản nợ phải thu, được tính bằng công thức: Chỉ tiêu này ngược lại với chỉ tiêu hệ số thu nợ, hệ số thu nợ càng lớn thì thời gian thu tiền càng nhỏ. Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và các khoản trả trước. Thời gian thu tiền cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa có thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp: mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của khách hàng… 9 Nếu công ty áp dụng chính sách thắt chặt tín dụng thì thời gian thu tiền của Công ty sẽ ở mức thấp, các khoản phải thu được thu hồi nhanh hơn, tuy nhiên doanh thu và lợi nhuận giảm. Còn với chính sách nới lỏng tín dụng làm cho thời gian thu tiền của công ty kéo dài hơn, do khách hàng có thời gian để chiếm dụng vốn của công ty nhưng doanh thu và lợi nhuận sẽ tăng cao do bán được nhiều hàng hóa hơn. Dù áp dụng chính sách tín dụng nào thì doanh nghiệp cũng cần xây dựng một chính sách thu hồi nợ hợp lý và kịp thời. Vòng quay các khoản phải trả: Chỉ số này phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp. Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm sau nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn. Việc chiếm dụng khoản vốn này sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng. Ngược lại, nếu chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm sau lớn hơn năm trước tức là doanh nghiệp thanh toán cho nhà cung cấp nhanh hơn năm trước. Doanh nghiệp chưa tạo được uy tín với nhà cung cấp cũng như chưa tận dụng nguồn vốn này để giảm cho phí vốn. Thời gian trả nợ: cho biết bình quân doanh nghiệp có bao nhiêu ngày để trả nợ. Chỉ tiêu này ngược với chỉ tiêu vòng quay khoản phải trả, vòng quay các khoản phải trả càng lớn thì thời gian trả nợ càng ngắn và ngược lại. Thời gian trả nợ càng dài chứng tỏ khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp với nhà cung cấp càng tốt. Tuy nhiên doanh nghiệp cần chú ý thời gian trả nợ kéo dài có thể gây ảnh hưởng không tốt cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp với đối tác. Thời gian trả nợ ngắn chứng tỏ doanh nghiệp chưa chiếm dụng được vốn của nhà cung cấp. Doanh nghiệp cần cân đối khoảng thời gian này, sao cho vừa tận dụng được khoản vốn chiếm dụng được trong thời gian ngắn vừa không làm tăng rủi ro thanh khoản. Thời gian quay vòng tiền Thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả. Thời gian quay vòng tiền ngắn chứng tỏ doanh nghiệp sớm thu hồi được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý hiệu quả khi giữ được thời gian thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ. 10 Thang Long University Library Thời gian vòng = quay tiền Thời gian thu nợ + Thời gian quay vòng hàng tồn kho – Thời gian trả nợ Các doanh nghiệp luôn mong muốn có thời gian quay vòng tiền ngắn vì khi đó số vốn mà doanh nghiệp đưa vào sản xuất kinh doanh sẽ có một hiệu quả cao hơn từ đó sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để làm được điều đó các doanh nghiệp phải có chính sách quản lý tín dụng cấp cho khách hàng chặt, đồng thời tăng khả năng chiếm dụng vốn của khách hàng. Nhưng quan hệ đối tác giữa các doanh nghiệp đòi hỏi phải có lợi cho cả đôi bên, nên khi thắt chặt chính sách sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến các mối quan hệ kinh doanh. 1.2.3.3. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn một cách chung nhất người ta thường sử dụng chỉ tiêu tổng quát sau: Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị TSNH trong kì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Hệ số này càng lớn cho thấy việc sử dụng TSNH càng có hiệu quả và ngược lại nếu hệ số này càng nhỏ thì việc sử dụng TSNH không có hiệu quả. Hệ số sinh lời của TSNH bị tác động bởi 2 yếu tố: công tác quản lý chi phí và hiệu suất sử dụng TSNH. Nếu tỉ số lợi nhuận sau thuế trên DTT cao cho thấy chiến lược quản lí các khoản chi phí của công ty có hiệu quả. Điều này làm cho hệ số sinh lời trên TSNH cao. Ngược lại, nếu tỉ số lợi nhuận sau thuế trên DTT thấp cho thấy chiến lược quản lí các khoản chi phí của công ty không có hiệu quả làm cho hệ số sinh lời trên TSNH thấp. Theo mô hình Dupont thì có thể thấy được các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của TSNH như sau: Thứ nhất là hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao chứng tỏ sức sản xuất của các tài sản ngắn hạn càng nhanh, đó là nhân tố tăng sức sinh lời của tài sản ngắn hạn, cụ thể hơn số vòng quay của TSNH bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố là tổng doanh thu thuần và tổng tài sản ngắn hạn. Nếu doanh thu thuần lớn và tổng tài sản bình quân nhỏ thì số vòng quay lớn và ngược lại. Tuy nhiên, trong thực tế hai chỉ tiêu này thường có mối quan hệ cùng chiều, khi TSNH bình quân tăng thì doanh thu thuần cũng tăng, ví dụ như khi doanh nghiệp nới lỏng hơn chính sách tín dụng thương mại dẫn đến khoản phải thu khách hàng tăng, hàng tồn kho tăng và doanh thu thuần cũng tăng lên… Trên cơ sở đó, nếu doanh nghiệp muốn tăng vòng quay của TSNH thì cần phân tích các nhân tố liên quan, phát hiện những mặt tích cực và tiêu cực của từng nhên tố để có biện pháp nâng cao số vòng quay của TSNH thích hợp. 11 Thứ hai là tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) càng cao thì sức sinh lời của tài sản ngắn hạn càng tăng. Tuy nhiên, có thể thấy rằng sức sinh lời của doanh thu ảnh hưởng bởi hai nhân tố là doanh thu và chi phí, nếu doanh thu cao và chi phí thấp thì tỷ suất sinh lời trên doanh thu tăng và ngược lại. Tuy nhiên, trong thực tế khi doanh nghiệp tăng doanh thu thì kéo theo mức chi phí cũng tăng lên như chi phí giá vốn, chi phí quản lý, chi phí bán hàng… Chính vì vậy, để có thể tăng được tỷ suất sinh lời trên doanh thu, doanh nghiệp cần nghiên cứu những nhân tố cấu thành lên tổng chi phí để có các biện pháp điều chỉnh phù hợp, đồng thời có các biện pháp đẩy nhanh tốc độ bán hàng, tăng doanh thu và giảm các khoản giảm trừ doanh thu. 1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luôn vận động chuyển hóa không ngừng và tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Trong quá trình vận động đó, tài sản ngắn hạn chịu tác động bởi nhiều nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. 1.3.1. Nhân tố chủ quan Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn chịu sự tác động của nhiều nhân tố. Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, ngoài việc nghiên cứu, sử dụng các chỉ tiêu trên ta cần phải nghiên cứu những nhân tố tác động từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế những tác động không tốt và phát huy thêm những tác động tích cực. 1.3.1.1. Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Với mục đích sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp sẽ quyết định trong việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh. Sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là khác nhau do vậy chu kỳ sản xuất dài hay ngắn tùy thuộc vào mục đích sản xuất của từng doanh nghiệp, điều đó có ảnh hưởng đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụng TSNH. Để đi vào sản xuất thì lượng TSNH cần đưa vào là bao nhiêu, mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo như thế nào, lượng tiền mặt doanh nghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn tùy thuộc vào từng doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài thì thời gian thu hồi vốn càng lâu, nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làm cho chu kỳ kinh doanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản ngắn hạn sẽ nhanh hơn. Vòng quay TSNH tăng tức là việc tiêu thụ hàng hóa cũng tăng lên và như vậy doanh thu tăng lên, làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng. Điều đó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tăng. 1.3.1.2. Cơ sở vật chất doanh nghiệp Để có được những sản phẩm tốt thì điều quan trọng là doanh nghiệp phải có những máy móc thiết bị tốt. Doanh nghiệp có được thiết bị tốt sẽ làm cho các khâu sản xuất 12 Thang Long University Library trở nên dễ dàng hơn. Cũng chất lượng nguyên vật liệu tốt nhưng doanh nghiệp nào được trang thiết bị tốt máy móc đưa vào dây chuyền sản xuất, thiết bị công nghệ cao sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng đồng thời làm cho các công đoạn của quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng hơn. Ngược lại, nếu máy móc không tốt sẽ không tận dụng được hết giá trị nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng như vậy hiệu quả sử dụng TSNH không cao. 1.3.1.3. Trình độ nhân viên Để sử dụng TSNH đạt hiệu quả cao đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những cán bộ quản lý giỏi, công nhân viên có tay nghề cao. Ngoài trình độ quản lý giỏi và tay nghề cao thì cả cán bộ quản lý và công nhân viên phải có trách nhiệm với công việc. Người quản lý phải nắm bắt rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp, sau mỗi chu kỳ hoạt động phải phân tích để đánh giá xem hiệu quả sử dụng TSNH ra sao để từ đó đưa ra những kế hoạch cho chu kỳ tiếp theo. Trong quá trình sản xuất để tận dụng hết nguyên vật liệu thì người công nhân phải có chuyên môn giỏi đặc biệt việc sử dụng máy móc thiết bị là hết sức quan trọng. Máy móc càng hiện đại bao nhiêu thì đòi hỏi đội ngũ sử dụng chúng phải được đào tạo có chuyên môn và kỹ thuật. Trình độ của nhân viên yếu kém sẽ dẫn đến tốn kém, thất thoát vật tư hàng hóa trong quá trình sản xuất sai hỏng, dẫn đến sự lãng phí TSNH, hiệu quả sử dụng TSNH thấp. 1.3.2. Nhân tố khách quan Các nhân tố khách quan tác động tới doanh nghiệp, có những lúc thúc đẩy doanh nghiệp phát triển nhưng có lúc kìm hãm sự phát triển của nó. Sự tác động đó không thuộc tầm kiểm soát của doanh nghiệp do vậy khi gặp những nhân tố này các doanh nghiệp luôn phải tự điều chỉnh mình cho phù hợp với tác động đó. 1.3.2.1. Sự quản lý của Nhà nước Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp mang một đặc thù riêng, Nhà nước có trách nhiệm quản lý các doanh nghiệp đó để doanh nghiệp có thể đi vào hoạt động theo một khuôn khổ mà Nhà nước quy định. Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều phải tuân theo pháp luật mà Nhà nước đưa ra, từ khi bắt đầu thành lập đến khi hoạt động, giải thể hay phá sản doanh nghiệp đều phải tuân theo chế độ hiện hành. Đảng và Nhà nước ban hành các luật pháp kinh tế và các chính sách kinh tế, Nhà nước thực hiện việc điều tiết và quản lý nguồn lực trong nền kinh tế tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh theo hướng nhất định. Chỉ một sự thay đổi nhỏ trong chế độ, chính sách hiện hành cũng ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược kinh doanh và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng TSNH nói riêng. 13 1.3.2.2. Sự phát triển của thị trường Thị trường là yếu tố có tác động không nhỏ tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là thị trường đầu vào, đầu ra và thị trường tài chính. Các yếu tố đầu vào của một dự án hay một quá trình sản xuất phần lớn được mua hoặc thuê trên thị trường. Khi giá cả thị trường đầu vào tăng sẽ làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng giá bán. Nếu việc tăng giá bán không tương ứng với tỉ lệ tăng của giá nguyên vật liệu, cùng với việc số lượng sản phẩm giảm sút sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp và tất yếu làm giảm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung và TSNH nói riêng. Khoa học công nghệ cũng là một trong những nhân tố đầu vào quyết định đến năng suất lao động và trình độ sản xuất của từng doanh nghiệp nói riêng. Sự tiến bộ khoa học công nghệ sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất giảm bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, tiến bộ khoa học công nghệ cũng có thể làm cho tài sản của doanh nghiệp bị hao mòn nhanh hơn, lỗi thời nhanh hơn. Thị trường các yếu tố đầu vào đa dạng phong phú, các doanh nghiệp sẽ có nhiều lựa chọn hơn. Thị trường các yếu tố đầu vào cạnh tranh sẽ làm giảm giá các yếu tố đầu vào và làm giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp và ngược lại. Nếu thị trường đầu ra sôi động, sức mua ổn định cùng với việc doanh nghiệp đảm bảo chất lượng, giá cả cũng như khối lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường sẽ làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp đều thông qua thị trường tài chính. Thị trường tài chính là thị trường quan trọng nhất trong hệ thống kinh tế, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hóa. Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Thị trường tài chính là kênh phân phối vốn từ nơi thừa vốn đến nơi có nhu cầu. Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền và thị trường vốn. Thị trường tiền là thị trường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn được mua bán còn thị trường vốn là thị trường cung cấp vốn trung hạn và dài hạn. Tất cả các hoạt động huy động vốn nhằm các mục đích thành lập doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoặc phát triển sản xuất kinh doanh đều giao dịch trên thị trường tài chính. Thị trường tài chính phát triền thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung. Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp tập trung quá nhiều vào đầu tư trên thị trường tài chính sẽ dẫn đến tình trạng cơ cấu tài sản mất cân đối gián tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản. 1.3.2.3. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Đây là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Nhân tố cạnh tranh bao gồm các yếu tố và điều kiện trong nội bộ ngành sản xuất có 14 Thang Long University Library ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm thay thế. Các yếu tố này sẽ quyết định tính chất, mức độ cạnh tranh của ngành và khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Hiện nay, các doanh nghiệp luôn hướng tới việc trọng cầu, việc đưa ra các phương thức, chính sách hấp dẫn so với đối thủ cạnh tranh về giá cả, mẫu mã, chất lượng …đáp ứng nhu cầu tiêu dùng luôn là vấn đề mà mọi doanh nghiệp phải quan tâm. Như vậy, doanh nghiệp sẽ phải đề ra các biện pháp và các chiến lược thích hợp để tăng vòng quay TSNH, giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Kết luận chƣơng 1 Chương 1 của khóa luận đã đi sâu tìm hiểu về khái niệm tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Chương 1 đã làm rõ những vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn như: khái niệm, đặc điểm, phân loại và các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản lý, sử dụng tài sản ngắn hạn cũng như đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Thông qua những lý luận chung về tài sản ngắn hạn, ta sẽ đi vào tìm hiểu, đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn tại Công ty Xây dựng Minh Nghĩa. 15 CHƢƠNG 2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG MINH NGHĨA 2.1. Giới thiệu Công ty Xây dựng Minh Nghĩa 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty xây dựng Minh Nghĩa được thành lập theo quyết định số 50-CN-QĐ ngày 21/06/2004 của Bộ xây dựng. Đơn vị được phép hoạt động theo giấy phép kinh doanh số 504982 ngày 28/08/2004 với ngành nghề kinh doanh là xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng và công nghiệp. Công ty Xây dựng Minh Nghĩa là Công ty tư nhân với tổng số công nhân viên và người lao động là 60 người, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng như kinh doanh vật liệu xây dựng, san lấp mặt bằng, xây dựng công trình kỹ thuật và công nghiệp… Trụ sở chính của Công ty tại thôn Nghĩa Chỉ, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Vốn điều lệ của Công ty tại thời điểm đăng ký kinh doanh là 10.000.000.000 đồng. Khi mới đi vào hoạt động, công ty đã gặp không ít khó khăn về nguồn vốn khi tiếp cận các dự án đầu tư. Thiếu vốn đấu thầu, thiếu vốn đầu tư thực hiện dự án, công ty không ít lần thất bại. Sau vài năm tích lũy kinh nghiệm, đồng thời nắm bắt được xu hướng phát triển của địa phương, hoạt động kinh doanh của công ty dần đi vào ổn định. Trên cơ sở đó, ban Giám đốc đã không ngừng đầu tư trang thiết bị, máy móc phục vụ quy trình hoạt động kinh doanh, củng cố mọi mặt từ cơ cấu tổ chức, nhân sự đến phương thức hoạt động. Bằng sự năng động dám nghĩ dám làm, ban Giám đốc đơn vị đã không ngừng tìm hiểu thị trường, vay vốn để đầu tư cho nhiều dự án hơn. Từ năm 2010 đến nay, công ty đã hoàn thành nhiều dự án với tổng vốn đầu tư lớn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cũng như một vài tỉnh thành lân cận. Ngoài thi công công trình, doanh nghiệp còn cho thuê trang thiết bị, máy móc phương tiện vận tải đã đầu tư trước đó. Với mục tiêu “Uy tín, chất lượng”, ban lãnh đạo công ty đã không ngừng nỗ lực tuyển chọn đồng thời nâng cao trình độ công nhân, nhân viên, nâng cao trình độ tổ chức quản lý, tiếp tục đầu tư trang thiết bị máy móc phục vụ thi công nhằm tạo ra các công trình chất lượng cao giữ được chữ tín với các nhà đầu tư. Trong giai đoạn khó khăn trong việc phát triển Công ty như hiện nay, để ổn định và duy trì tốc độ phát triển, công ty đã và đang thực hiện việc trả lương theo công việc được giao, thực hiện chế độ lương khoán theo sản phẩm, ngày công lao động. Ban lãnh đạo Công ty cũng đẩy mạnh việc tiết kiệm chi phí sản xuất, chi phí văn phòng, nâng cao hiệu quả chất lượng các công trình thi công, thực hiện phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật sâu rộng đến từng phòng và cán bộ, nhân viên. 16 Thang Long University Library 2.1.2. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ từng bộ phận Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty Xây dựng Minh Nghĩa GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC PHÒNG KỸ THUẬT PHÒNG HÀNH CHÍNH - KẾ TOÁN BỘ PHẬN KHO BỘ PHẬN THI CÔNG XÂY DỰNG (Nguồn: Phòng hành chính – kế toán) Giám đốc: là người đứng đầu điều hành bộ máy quản lý tổ chức của công ty, chịu trách nhiệm về mặt pháp lý của Nhà nước, chịu trách nhiệm trước cán bộ công nhân viên của công ty. Đại diện cho quyền lợi của công nhân viên. Chỉ đạo các phòng ban, ra chỉ thị cho các phòng ban để phối hợp thực hiện hoạt động kinh doanh. Thực hiện các chỉ thị pháp lệnh của Nhà nước. Phó giám đốc: là người thực hiện các nhiệm vụ được giám đốc phân công, ủy quyền. Chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật. Trợ giúp, tham mưu cho giám đốc về các dự án, quá trình hoạt kinh doanh. Trực tiếp duy trì, báo cáo tình hình hoạt động của công ty. Phòng kỹ thuật: Chịu trách nhiệm về yêu cầu kỹ thuật của dự án đúng với thiết kế. Tham mưu cho lãnh đạo về công tác quản lý công trình. Trực tiếp báo cáo về quá trình thi công phối hợp cùng ban lãnh đạo giải quyết những vướng mắc tồn đọng trong quá trình thực hiện dự án. Cung cấp các yếu tố kỹ thuật, các thông số kỹ thuật lắp đặt thiết bị vật tư, đảm bảo chất lượng từng công tác xây lắp, từng hạng mục công trình. Chịu trách nhiệm kiểm tra dự toán, báo giá thi công. Phòng hành chính – kế toán: Xây dựng nội quy cơ quan văn phòng, trang bị văn phòng, quản lý máy móc phương tiện, dụng cụ làm việc. Thực hiện công tác văn thư, lưu trữ, đánh máy. Thực hiện chế độ lao động, hợp đồng lao động với nhân viên công ty. Tham mưu cho giám đốc quá trình quản lý điều hành nhân sự. Hỗ trợ giám đốc quản lý tài chính tài sản của công ty. Thiết lập hệ thống sổ sách kế toán, và thực hiện báo cáo quyết toán thuế, thống kê kế toán, báo cáo tài chính. Kiểm tra, hỗ trợ ban lãnh đạo đề xuất về vật tư – vật liệu xây dựng cung cấp dụng cụ thiết bị máy thi công cho các công trình xây dựng của công ty. 17 Bộ phận kho: Chịu trách nhiệm về tất cả vật tư – vật liệu xây dựng, máy móc dụng cụ thi công. Có trách nhiệm quản lý đầy đủ chính xác các loại vật tư. Bảo quản và cung cấp kịp thời vật tư theo đúng yêu cầu của dự án. Chấp hành mọi nội quy trong quá trình bảo quản và xuất vật tư. Bộ phận thi công xây dựng: Tổ chức thi công xây dựng và quản lý các đội thi công trực thuộc. Quản lý thi công các công trình xây dựng, các đội khoán và các nhà thầu phụ. Thực hiện nhật ký công trình, quản lý thi công, bố trí và quản lý nhân lực thi công xây dựng cho phù hợp với từng nhiệm vụ. Lập kế hoạch tiến độ thi công, lập phương án tổ chức thi công và biện pháp an toàn lao động. Lập hồ sơ nghiệm thu, lập hồ sơ hoàn công, hồ sơ thanh toán – quyết toán công trình. Xây dựng và thực thi nội quy công trường, nội quy an toàn lao động. Phối hợp cùng phòng kỹ thuật thực hiện đúng yêu cầu tiến độ dự án. 2.1.3. Lĩnh vực kinh doanh Công ty xây dựng Minh Nghĩa hoạt động dưới hình thức công ty tư nhân chuyên xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, đường giao thông, công trình thủy lợi, san lấp mặt bằng,… Mua bán vận chuyển nguyên vật liệu: cát, sỏi… Lắp đặt các thiết bị cho công trình xây dựng. Trong đó hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu của công ty là thực hiện các công trình xây dựng theo hợp đồng. Sau gần 10 năm hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, công ty Minh Nghĩa đang tiến hành nhiều dự án công trình lớn, chiếm được lòng tin và uy tín trong lĩnh vực xây dựng với các nhà đầu tư. Sơ đồ 2.2. Quy trình sản xuất kinh doanh chung 1. Chuẩn bị hồ sơ đấu thầu dự án 2. Ký kết hợp đồng giao nhận thầu 4. Mua nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ nhập kho 3. Lập biện pháp và phương án thi công 5. Thi công công trình 6. Nghiệm thu bàn giao công trình (Nguồn: Phòng hành chính – kế toán) Bƣớc 1: Trước khi thực hiện một dự án, ban giám đốc lên kế hoạch đấu thầu. Sau đó chuẩn bị hồ sơ tiến hành đấu thầu dự án. Bƣớc 2: Giám đốc trực tiếp thương lượng ký kết hợp đồng sau khi trúng thầu của chủ đầu tư. 18 Thang Long University Library Bƣớc 3: Sau khi nhận hợp đồng, giám đốc bàn giao công việc cho phòng kỹ thuật. Phòng kỹ thuật có nhiệm vụ cùng các kỹ sư, kiến trúc sư lập kế hoạch phương án thi công, xây dựng. Soạn thảo mô hình kết cấu chi tiết của công trình và xác định số vốn cần cho dự án. Bƣớc 4: Phòng kế toán và bộ phận kho tiếp nhận dự án để tiến hành kiểm kê mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ cần thiết phục vụ thi công. Bƣớc 5: Sau khi nhận bản thiết kế công trình, bộ phận thi công bàn giao công việc cho các đội thi công, các nhà thầu phụ tiến hành thi công công trình. Bƣớc 6: Phòng kỹ thuật hỗ trợ giám đốc kiểm tra chất lượng của công trình đã hoàn thành, sau đó bàn giao cho bên chủ sở hữu. 2.1.4. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2012 – 2014 2.1.4.1. Tình hình kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Doanh thu Bảng 2.1. Doanh thu của Công ty giai đoạn 2012 – 2014 Đơn vị tính: Triệu đồng Năm 2013 Năm 2014 6.962 12.095 38.980 5.133 Doanh thu từ hoạt động tài chính 2,8 3,1 4,3 Doanh thu từ hoạt động khác 0 0 Chỉ tiêu Doanh thu bán hàng Tổng doanh thu Năm 2012 Chênh lệch 2012 – 2013 Chênh lệch 2013 – 2014 Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%) 73,73 26.885 222,28 0,3 10,71 1,2 53,57 0 0 0 0 0 6.964,8 12.098,1 38.984,3 5.133,3 73,70 26.886,2 222,35 Tuyệt đối (Nguồn: được tính toán từ báo cáo tài chính) Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Doanh thu bán hàng của Công ty trong ba năm tăng với tốc độ lớn (>70%). Doanh thu bán hàng năm 2013 là 12.095 triệu đồng, tăng 5.133 triệu đồng tương ứng tăng 73,73% so với năm 2012. Kết quả này cho thấy doanh nghiệp có một năm hoạt động hiệu quả hơn năm 2012. Mặc dù trong thời gian kinh tế có không ít những biến động do lạm phát nhưng năm 2013 là năm hoạt động xây dựng tăng mạnh cùng với công tác phát triển đầu tư các ngành, địa phương. Công ty xây dựng Minh Nghĩa hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nhiều năm và đạt được nhiều lòng tin từ các nhà đầu tư. Với những lợi thế về kinh doanh, Công ty đã đấu thầu được những dự án của tỉnh như san lấp mặt bằng, xây dựng trường mầm non và mở đường quốc lộ. Nhờ đó mà Công 19 ty đạt được mức tăng doanh thu so với năm 2012. Sang năm 2014, doanh thu bán hàng là 38.980 triệu đồng, tăng 26.885 triệu đồng tương ứng tăng 222,28% so với năm 2013. Nguyên nhân là do năm 2014, Công ty xây dựng Minh Nghĩa ký kết được nhiều hợp đồng cho các công trình xây dựng của Công ty TNHH Sen Vòi Phú Hào và Công ty TNHH Đầu tư sản xuất và thương mại Hiền Thắng, đồng thời các công trình xây dựng nhà ở của người dân quanh khu vực Công ty cũng được doanh nghiệp thực hiện thi công nên doanh thu của Công ty tăng so với năm 2013. Điều này cho thấy, Công ty được sự tin tưởng, tín nhiệm của khách hàng đối với chất lượng công trình của doanh nghiệp. Doanh thu từ hoạt động tài chính Trong giai đoạn 2012 – 2104, doanh thu từ hoạt động tài chính chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu doanh thu của doanh nghiệp nhưng có xu hướng tăng. Doanh thu từ hoạt động tài chính năm 2013 là 3,1 triệu đồng tăng 0,3 triệu đồng tương ứng tăng 10,71% so với năm 2012. Doanh thu hoạt động tài chính tăng cao là do năm 2013 Công ty thực hiện ký kết nhiều công trình nên nhu cầu về nguyên vật liệu tăng cao, Công ty tăng uy tín đối với nhà cung ứng nên đã trả tiền hàng đúng thời hạn quy định, khiến cho nhà cung ứng nguyên vật liệu đã có những chiết khấu thanh toán cho Công ty. Sang năm 2014, doanh thu từ hoạt động tài chính tăng 1,2 triệu đồng, tương ứng tăng 53,57% so với năm 2013. Nguyên nhân là do năm 2014, Công ty tiếp tục được sự tín nhiệm của khách hàng, công trình ký kết được nhiều hơn, doanh thu tăng dẫn đến việc thanh toán cho nhà cung ứng đúng thời hạn, Công ty nhận được khoản chiết khấu thanh toán của nhà cung ứng nhiều làm cho doanh thu hoạt động tài chính tăng lên. Doanh thu của doanh nghiệp chủ yếu từ doanh thu bán hàng và doanh thu từ hoạt động tài chính. Trong đó, doanh thu bán hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất, bình quân chiếm 99% trong tổng doanh thu của doanh nghiệp. Tóm lại, tổng doanh thu của doanh nghiệp tăng lên trong giai đoạn 2012 – 2014, việc kinh doanh của Công ty ngày càng tốt hơn do khách hàng tin tưởng lựa chọn doanh nghiệp ngày càng nhiều. Công ty cần nỗ lực hơn nữa để đem lại chất lượng công trình ngày một tốt hơn nhằm thu hút được nhiều khách hàng cũng như mang lại doanh thu, lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp của mình. Chi phí Chi phí của doanh nghiệp tăng đều trong giai đoạn 2012 – 2014. Nguyên nhân là do Công ty có nhiều hoạt động kinh doanh hơn khiến cho chi phí của doanh nghiệp cũng gia tăng. Tuy nhiên, Công ty cần có các biện pháp nhằm giảm chi phí một cách tối đa nhằm mang lại lợi nhuận cao hơn cho doanh nghiệp. Để đánh giá khái quát về tình hình chi phí của Công ty, ta có thể theo dõi tỷ trọng các khoản chi phí qua bảng sau: 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -